Mùa bão lũ năm 2025 đã qua, với bao tang thương suốt dọc từ Bắc vào Nam, trong đó bão lớn, mưa lớn dị thường đổ xuống gần như xuyên suốt tháng 11, quần nát, nhấn chìm dải đất miền Trung. Nhưng không ai dám chắc những tai họa mai kia sẽ còn vượt sức tưởng tượng tới đâu…
![]()
1“Tối đó nước lên lớn. Sáng hôm sau, tầm khoảng 6h, trời ơi hai người đứng trên mái nhà vẫy ghe cứu hộ mà không có ai. Lúc đó trời mưa, mưa lạnh, mà họ cứ ở trên đó vẫy liên tục, từ sáng cho tới gần trưa” – chị Đặng Hồng Thủy (xã Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa) kể lại cảnh tượng không bao giờ quên khi nhớ đến tối 19, ngày 20 trong đợt lũ lịch sử tháng 11.
Xã Diên Khánh là một trong hai vùng ngập nặng nề nhất ở khu đô thị trung tâm tỉnh Khánh Hòa. Trong căn nhà của chị Thủy, vài người hàng xóm đã sang tránh trú từ tối hôm trước. Đến sáng hôm sau, nước dâng mênh mông, chị Thủy bất lực nhìn hai người phía xa gọi cứu hộ mà không giúp được gì.
“Xóm dưới có người lớn tuổi lên được mái tôn rồi mà lạnh quá, chịu không nổi, mất trên mái tôn.”, chị Thủy kể lại. Trưởng thôn nhắn trong nhóm chung xin lỗi bà con, bây giờ anh em tôi coi như là kiệt sức rồi, không thể nào giúp mọi người, mọi người hãy cố gắng. Sau đó, liên lạc cũng bị cắt đứt, điện cúp, mất mạng internet, mất sóng điện thoại.
Mắc kẹt hay là chết trong chính ngôi nhà mình – điều không ai có thể tưởng tượng được đã xảy ra trong năm 2025. Tháng 11 đau thương, 158 người Việt gần như cùng ngày giỗ (1). Trong đó, xã Hòa Thịnh (tỉnh Phú Yên cũ, nay thuộc tỉnh Đắk Lắk) ghi nhận tới 25 người chết; có ngôi làng người sống sót bị cô lập trong nước lũ, phải chịu đói khát 3-4 ngày.
Trong tác phẩm kinh điển – Luận ngữ, Khổng Tử viết:“Vãng giả bất khả gián, lai giả do khả truy” (Tạm dịch: Những việc đã qua không thể ngăn lại, nhưng những việc sắp tới thì có thể cứu vãn). Thảm họa lũ dâng trong năm qua là sự không thể vãn hồi, nhưng vì những mất mát quá lớn của người dân, liệu có bài học nào chúng ta có thể cùng chiêm ngẫm?
2Còn nhớ, trong thông báo đính chính về số người tử vong tại tỉnh Đắk Lắk vào ngày 19/12, Phó chủ tịch UBND tỉnh – ông Trương Công Thái cho hay trong 113 người chết của tỉnh này, có 101 người tử vong trực tiếp do thiên tai, 12 người tử vong do nguyên nhân khác, người lớn tuổi, bệnh tật không kịp cấp cứu.
“Tử vong trực tiếp do thiên tai” – trong ký ức kinh hoàng của người dân là những cái chết tuyệt vọng trong nước lũ. Lũ lên quá nhanh, ngợp quá cổ người, người mắc kẹt trên gác nhà đuối sức không kịp thoát, người già yếu chết vì lạnh.
“Mưa lớn đầu nguồn nhưng lượng nước lên quá đột ngột… Nếu chỉ có mưa không thì cũng phải có thời gian. Lên quá nhanh đến nỗi người ta trở tay không kịp”, chị Hà Thị Hải Yến (ngụ phường Vĩnh Hải (cũ), nay là phường Bắc Nha Trang) cho hay. “Phải có một lượng nước tích trữ, tích trữ ở đâu đó rồi dội xuống mới đột ngột như vậy”.
“Nước này có biết bơi cũng chịu không nổi, nó lạnh lắm” – anh Trần Minh (ngụ đảo Hòn Miễu, phường Vĩnh Nguyên, TP. Nha Trang) – người từng đi biển đánh bắt hải sản – cho hay.
“Hiện tượng cực đoan”, “mưa lũ lịch sử” là những từ được Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia sử dụng khi nói tới đợt mưa lũ Nam Trung Bộ kéo dài 6 ngày liên tục nói trên. Theo cơ quan khí tượng quốc gia, trong đợt mưa này, “lũ đồng thời phá kỷ lục trên 3-5 lưu vực” – một việc gần như chưa từng xuất hiện trong hơn 50 năm quan trắc (2).
Và đợt mưa kéo dài 6 ngày liên tục này nằm trong tổng 33 ngày bão lũ đổ xuống miền Trung kể từ ngày 22/10, trong đó, ngày 27/10 lũ vượt đỉnh lịch sử ở Huế; đêm 29 rạng sáng 30/10, tại Đà Nẵng – Quảng Nam cũ, mực nước sông Vu Gia – Thu Bồn lên ngưỡng 5,62m, vượt đỉnh lịch sử năm 1964 (5,48m).

Họa nước ở xã Hòa Thịnh, Phú Yên cũ – nơi nhức nhối nhất – là một chuỗi hệ quả có bàn tay của con người. Trên lưu vực sông Ba – con sông lớn nhất miền Trung – có 28 hồ chứa lớn nhỏ (phân bố tại hai tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk), nhưng chỉ 5 hồ được giao chức năng cắt, giảm lũ cho hạ du (hồ thủy lợi Ayun Hạ, các hồ thủy điện An Khê – Ka Nak, Krông H’năng, Sông Ba Hạ, Sông Hinh). Tổng dung tích phòng lũ hạ du là 530 triệu m3/tổng dung tích trữ nước khoảng 1,6 tỷ m3. (3)
Tổng lượng lũ trên lưu vực sông Ba từ ngày 18 đến 21/11 khoảng 2 tỷ m3 – theo ước tính của PGS.TS Hoàng Minh Tuyển, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thủy văn và Tài nguyên nước, Chủ nhiệm kỹ thuật của nhiệm vụ xây dựng Quy trình vận hành liên hồ chứa lưu vực sông Ba giai đoạn 2010-2014. Theo ông Tuyển, về lý thuyết, các hồ có thể giữ được 26% tổng lượng lũ. (4)
Trên thực tế, hồ Sông Ba Hạ – “lá chắn” phòng lũ cuối cùng trên lưu vực sông Ba, với hạ du là phân nửa tỉnh Phú Yên (cũ) – đã xả lũ vượt kỷ lục năm 2009. Lưu lượng xả được xác định là kinh hoàng: từ 14h40 ngày 19/11 ở mức 14.740 m³/s, tăng lên 16.100 m3/s liên tục từ 17h-19h, sau 19h ở mức 15.600m3/s.
“Mức xả 16.100 m3/s vượt lịch sử, nhưng đúng quy trình được duyệt” – Tổng Giám đốc Công ty CP Thủy điện Sông Ba Hạ Nguyễn Đức Phú cho biết. (5)
Ngày 20/11, 93/122 hồ thủy điện trên toàn quốc xả lũ, tăng 3 hồ so với ngày 19/11, trong đó miền Bắc 31 hồ, miền Trung 46 hồ, miền Nam 16 hồ, theo NSMO (6). Tất cả đều được thông qua “đúng quy trình”.


3Rừng đã mất, bị đào trốc, không còn khả năng giữ nước; hồ thủy lợi, hồ thủy điện xây bậc thang chặt ngang lưng các dòng sông nên khả năng thoát nước tự nhiên không còn. Mưa lớn cực đoan nhanh chóng biến hình thành lũ, trong khi các hồ chứa chủ yếu được thiết kế theo mô hình lũ đơn, không tính đến lũ kép hay lũ vượt mức quan trắc. Có những can thiệp hoàn toàn mang yếu tố con người, như thủy điện Sông Ba Hạ không có chức năng cắt lũ, nhưng bằng một mệnh lệnh hành chính, được giao đảm nhận thêm dung tích phòng lũ, nên khả năng cắt lũ không nhiều (7).
GS Nguyễn Ngọc Lung – Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng từng chỉ ra: Có rừng tự nhiên thì 90% nước rơi xuống không chảy tràn trên mặt, toàn bộ sẽ ngấm xuống trở thành nước ngầm. Mất rừng tự nhiên thì ngược lại, có tới 95% nước chảy tràn trên mặt, chỉ 5% thấm một lớp mỏng vào đất.
“Rừng trồng chỉ có tác dụng bằng 1/5 rừng tự nhiên. Và thực tế là khi xây dựng nhà máy thủy điện, rất ít chủ đầu tư có phương án trồng rừng thay thế” – theo GS Lung (8).
Trong lớp bùn ngập ngụa của từng đợt lũ, là bao nhiêu lớp đất bị bào. Đất trơ từ núi trống, đồi trọc, bị bóc mòn theo nước lũ cuốn về hạ du. Nếu phải kể đến tai họa, thì trong năm nay không chỉ có lũ, mà còn cả núi sạt, đồi sạt, mà người ta gọi chung là “sạt lở”… “Đất chảy” – nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa Nguyên Ngọc từng gọi tên như vậy về hiện tượng lũ lụt khốc liệt kéo theo thảm họa sạt lở, vùi chôn hàng trăm mạng người.
Có cách nào để cứu vớt lẫn nhau không? Hồi vãn sai lầm là một cách. 13 năm trước, TS. Nguyễn Quang Tân, Điều phối viên thuộc tổ chức RECOFTC cho hay Mỹ và nhiều quốc gia châu Âu đã phá bỏ nhiều đập thủy điện để phục hồi hệ sinh thái và dòng chảy tự nhiên (9). Trong 25 năm qua (kể từ năm 2000), 2.200 con đập nước tại Mỹ đã bị phá bỏ; số đập được xây dựng mới luôn ít hơn số đập bị phá (10). Tính đến 2024, đã có 8.000 đập bị phá bỏ ở Thụy Điển, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Thụy Sĩ và Pháp (11).
Đối với vấn đề thủy điện ở Việt Nam, GS Lung cho rằng hãy làm lại quản lý cho tốt “bằng cách tôn trọng sự thật của thiên nhiên”. Với các dự án thủy điện nhỏ, được giao cho cấp tỉnh quản lý, chủ đầu tư chỉ muốn tối đa hóa lợi nhuận, không muốn bỏ tiền trồng rừng phòng hộ, tích nước và xả nước theo nhu cầu khai thác.
Và với rừng tự nhiên, dù đã tuyên bố đóng cửa rừng từ hơn 30 năm trước, rừng vẫn chảy máu, theo các dự án, theo chính các công ty quản lý rừng. Muốn giảm bớt lũ, thì trồng rừng đa tầng tán là bắt buộc. Không phải rừng sản xuất, có đặc tính đơn tán và bị cắt hạ định kỳ.

4Như ai cũng thấy, con người trước hết là người của tự nhiên, sau đó là người của xã hội. Vì lòng tham vô độ, người xâm phạm vào tự nhiên, thì hình thái cộng đồng “cao cấp”, “hiện đại” mà con người gây dựng có thể sụp đổ bất cứ lúc nào.
Trong Đại họa Giáp Thìn 1964, hàng nghìn người thiệt mạng, bị nước lũ dữ dội kéo tuột từ đồi, gò trú ẩn ra sông ra biển, mất xác. Từ Thừa Thiên đến Bình Định, trong đó Quảng Nam là tâm điểm. Hàng nghìn làng mạc dọc sông Tranh, sông Thu Bồn và sông Vu Gia gần như bị xóa sổ.
Hơn 60 năm sau, họa nước trở lại, với chuỗi cảnh báo liên tiếp từ bão Yagi (2024), siêu bão Ragasa (siêu bão quốc tế, giảm cấp khi vào Việt Nam), bão Bualoi (quần thảo hơn 12 tiếng vùng Nghệ An-Hà Tĩnh), bão Matmo (hoàn lưu gây ngập lụt chưa từng có ở Thái Nguyên), bão Kalmaegi (đánh nát hàng nghìn tàu cá ven bờ Bình Định và phía Bắc Phú Yên – vịnh Xuân Đài) (2025). Xen kẽ là các đợt mưa lớn dị thường: Huế – lũ lên 4 lần trong chưa đầy một tháng; Quảng Nam (cũ) – đỉnh lũ trên sông Thu Bồn vượt mức lịch sử năm 1964; Phú Yên (cũ) bị nhấn chìm do lũ lịch sử trên sông Ba.

Trong mùa mưa bão năm qua, người Việt tiếp tục chứng kiến cảnh “người” xả lũ, và “người” lại bao bọc lấy “người”. Những điều xấu, ác diễn ra không cản trở được sức mạnh nội tâm của người Việt rằng cần phải đi cứu người, tiếp tế cơm ăn, nước uống, thậm chí là tiền của cho người hoạn nạn. “Người ta ai cũng có lòng trắc ẩn, ai cũng có lòng tu ố […]. Lòng trắc ẩn là nhân, lòng tu ố là nghĩa.” (Mạnh Tử). Sự trợ giúp lẫn nhau tạo nên ý niệm thiện trong cộng đồng, đẩy lùi những ách ương. Thiên tai giáng xuống, nhân họa tiếp nối, xin người hãy giữ tính thiện để cứu giúp lẫn nhau, cũng là giúp cho chính mình.
Cổ nhân có câu “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Mọi sự vận hành, từ thiên văn, địa lý, y tế, đến cả cấu trúc xã hội, tất cả đều thể theo quy luật này. Chữ 和 (hòa) trong “nhân hòa” mang nghĩa êm thuận, thuận hòa – người người một ý, cùng hướng điều “nhân”, vì bách tính mà chung một ý, thì tâm không bị hãm đắm vào vật dục, mới giữ được đức để hành xử. Thiên địa bất lợi, phải chăng vì nhân bất hòa? Phải chăng vì thời nay quan niệm đạo đức và lương tâm con người đã sút tệ đến mức trời đất không dung? Chỉ xét riêng sự đồng tại hài hòa giữa con người và thiên nhiên, con người đã hạ tiêu chuẩn xuống mức quá thấp kém rồi. Người bất tín Thần, nhưng lẽ nào có thể làm ngơ trước sự thật tự nhiên không còn dung chứa con người, từng bước đào thải. Người có đức tin có thể sẽ nhận ra đó có thể là những cảnh báo cuối cùng của Thần…
Lê Trai
