Phong vị Tết xưa

Chơi Tết là một trong những phong tục lâu đời nhất được ghi chép trong sử sách. Qua hàng ngàn năm, phong tục có đôi phần thay đổi, song cái tinh túy do người xưa truyền lại vẫn được con cháu gìn giữ đến ngày nay.

Chơi Tết là một trong những phong tục của người Việt được miêu tả tỉ mỉ trong bộ sử xưa nhất còn tồn tại là quyển An Nam Chí Lược do Lê Tắc soạn vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIV, dưới thời nhà Trần. Sách chép rằng hàng năm, cứ trước Tết hai ngày, nhà vua dùng xe ngự dụng đi tế điện Đế Thích, có các quan theo hầu. Ngày 30 Tết, vua ngồi giữa cửa Đoan Củng, bầy tôi đến làm lễ rồi cùng nhau xem múa hát.

An Nam Chí Lược, bộ sử cổ từng miêu tả chi tiết về phong tục Tết xưa ở nước ta.

Song hành với lễ lạt trong cung điện, người dân đốt pháo tre, bày cỗ bàn trà rượu để cúng bái, con trai, con gái nhà nghèo không có người mai mối thì tự mình phối hợp với nhau. Lễ khai hạ diễn ra vào ngày mùng năm Tết, cả quan lẫn dân đi lễ các chùa, miếu và du ngoạn các hoa viên. Đêm nguyên tiêu (rằm tháng giêng), hàng vạn ngọn đèn Quảng Chiếu được trồng trên một khoảnh sân rộng, chiếu sáng một vùng trời, các thầy tu đi quanh tụng kinh Phật.

Đó là một trong những hình ảnh Tết xưa nhất ở nước ta. Qua thời Hậu Lê, ngoài một vua Lê ngồi làm vì, một chúa Trịnh nắm hết thực quyền, còn có sự hiện diện của một quan Tiết chế (Tiết chế phủ) là Thế tử, người con trai sẽ kế nghiệp chúa, lễ Tết mang những màu sắc đặc biệt hơn, không giống nghi thức trước và sau thời kỳ này.

Sách Lịch triều hiến chương loại chí của danh sĩ Phan Huy Chú ghi rằng hàng năm vào sáng mùng một Tết, quan Tiết chế đưa các văn võ đại thần mặc phẩm phục vào cung điện để chúc tụng nhà vua. Nghi lễ dài dòng diễn ra, cuối cùng nhà vua ban tờ chế với một dòng ngắn ngủi, đại ý: “Phúc thịnh vượng hanh thông, với các ngươi cùng hưởng”.

Trong nghi lễ quan trọng trên, lẽ ra chúa Trịnh mới là người dẫn đầu bách quan vào cung chúc tụng, song ông điềm nhiên ngồi tại phủ chúa để chờ đợi cuộc chúc tụng lần hai. Sau khi rời cung vua, Tiết chế phủ lại hướng dẫn bách quan đến phủ chúa để chúc Tết chúa Trịnh, lạy mừng và hầu yến. Lễ dứt, chúa vào cung, Tiết chế phủ về phủ, đợi bách quan đến để chúc Tết mình.

Thời Lê-Trịnh, giáo sĩ Alexandre de Rhodes từng sống ở Đàng Ngoài trong 3 năm, từ năm 1627 đến năm 1630, điều hành giáo phận ở đây. Trong ba năm đó, ông đã chứng kiến nhiều lễ Tết và mô tả chúng trong tác phẩm Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài ấn hành bằng tiếng Ý năm 1650, và ngay sau đó được dịch sang tiếng Pháp (1651) và tiếng La-tinh (1652).

Trong hồi ức in trong tác phẩm trên, De Rhodes kể về một phong tục Tết kỳ lạ của người dân Việt thời Lê-Trịnh. Theo ông, vào mấy ngày cuối năm, người già, cả nam lẫn nữ, rất sợ sệt, họ trốn vào các chùa để tránh các thế lực tà ma. Họ trốn lánh như thế cho đến ngày mùng một Tết mới dám trở về nhà. Ông cũng đề cập đến tục trồng cây nêu của người xưa, mà ông mô tả là “một cột dài vượt quá mái nhà, trên ngọn treo một cái giỏ hay một túi đục thủng nhiều lỗ và đựng đầy thứ tiền bằng giấy vàng giấy bạc” (Sđd – XB Khoa học Xã hội 2016, trang 115). Đó là số tiền vàng gửi cho cha mẹ và người thân ở thế giới bên kia sử dụng hay trả nợ. Người Việt vào thời đó còn có một tục lệ khác đến nay vẫn còn tồn tại, đó là sợ mắc nợ trong năm mới, cố trả nợ trước cuối năm để thanh thản mà vui Tết.

Cảnh trồng cây nêu ngày Tết. Nguồn: Henri Oger (1885-1936), trong An Nam People’s Techniques (Kỹ thuật của người An Nam).

Sang thời Nguyễn, Thượng thư Trịnh Hoài Đức, tác giả bộ Gia Định Thành thông chí, đã miêu tả rõ nét phong tục Tết ở vùng đất phía Nam. Hàng năm, vào những tháng cuối, người dân đua nhau may sắm quần áo mới, dán những câu liễn mới trong nhà, trang hoàng bàn thờ tổ tiên.

Người xưa quan niệm mồ mả của ông cha cũng như ngôi nhà ở của người sống, ngoài việc sửa sang nhà ở cho người sống, những ngày cuối năm, họ đi thăm mộ người thân, giẫy dọn cỏ rác, bồi đắp những chỗ khuyết lở.

Vào ngày 28 tháng chạp (tháng 12 âm lịch), các “Na nhân” tục gọi là “nậu sắc bùa”, đi thành từng nhóm dọc theo đường, “trông nhà hào phú nào mở cửa ngỏ thì vào dán lá bùa nơi cửa, niệm thần chú, rồi nổi trống phách lên, ca xướng những lời chúc mừng, người chủ nhà dùng cỗ bàn chè rượu khoản đãi và gói tiền thưởng tạ, xong nhà này lại qua nhà khác, cũng làm như vậy, cho đến buổi chiều trừ tịch mới thôi, ấy là có ý đuổi tà tống ma, trừ cũ rước mới vậy…” (Sđd – Tập hạ – Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa – Sài Gòn 1972).

Sáng ngày nguyên đán (mùng một Tết), mọi người dậy sớm, thắp hương đèn, dâng nước trà lễ bái tiên tổ, rồi bái người tôn trưởng trong nhà, lập cỗ bàn dâng lên tiên tổ, mỗi ngày hai lần vào các buổi sớm và chiều. Ngày mùng ba là ngày tiễn chân tiên tổ, song vào thời Trịnh Hoài Đức, tức nửa đầu thế kỷ XIX, có một tục kỳ lạ là chỉ có quan viên mới làm việc này, thứ dân không tiễn chân tiên tổ mà đợi đến ngày mùng 5, mùng 7, vì họ sợ nếu được tiễn cùng ngày mùng 3 với tổ tiên quan chức thì tổ tiên họ dưới cảnh u minh bị bắt đi khiêng gánh đồ cúng của tổ tiên quan trên. Khi nhắc lại tập tục này, tác giả Gia Định Thành thông chí đã phê phán là “sự sai lầm quái đản, khinh lờn tế lễ”.

Thời Nguyễn, cây nêu cũng là một trong những sắc thái quan trọng trong ngày Tết, nó được dựng vào ngày cuối năm và hạ xuống (hạ nêu) vào ngày mùng 7 tháng giêng. Và Trịnh Hoài Đức cũng xác nhận rằng trong suốt thời gian từ lúc thượng nêu (ngày cuối năm) đến lúc hạ nêu (mùng 7 tháng giêng), các chủ nợ không được đòi nợ, người người bất luận giàu nghèo, đều ăn uống no say, “đua tranh cờ bạc và có trăm thức chơi, phép không ngăn cấm, đến ngày hạ nêu mới thôi”.

Một trong những trò chơi phổ biến của người dân trong dịp Tết thời ấy là trò đánh đu và vân xa thu tiên (đánh đu tiên). Cái đu thường bằng tre cứng chắc làm trụ, người đánh đu đứng trên một mảnh ván ghép giữa hai can tre, hai tay nắm can tre, uốn mình nhỏm lên phục xuống để dây đu lui tới trong không trung. Trong những cuộc đánh đu, có khi có người treo giải thưởng trên cao gồm khăn, quạt, tiền bạc, ai nhún đu lên thật cao, lên đến chỗ treo giải thưởng, nhanh tay thì giật được. Có người chơi trò này bị buột tay ngã xuống, trọng thương, nên theo Trịnh Hoài Đức, không nên có sự treo thưởng như thế nữa.

Trò Vân xa thu tiên (đánh đu tiên) có khác hơn đánh đu thông thường, với một bánh xe bằng gỗ gác lên hai trụ cao, trong bánh xe đặt 8 miếng ván làm chỗ ngồi cho 8 phụ nữ có trang phục, trang sức mới mẻ, yêu kiều, khi bánh xe xoay chuyển thì y phục bay phấp phới, trông rất đẹp mắt.

Phụ nữ Sài Gòn mặc áo mới nhân ngày tết – Ảnh carte postale.

Trong ngày nguyên đán, có người trần thiết một cây mía đủ cả gốc ngọn, trên treo quả phẩm, theo tục truyền, cây mía được tổ tiên dùng làm cây gậy chống đi khi già yếu.

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Tuần phủ Đoàn Triển (1854-1919) cho ra đời tác phẩm An Nam phong tục sách, ngắn gọn, song đề cập đến hầu hết các phong tục của người Việt xưa. Ông dành phần đầu tiên của quyển sách để mô tả về lễ Tết của người Việt và ngoài các việc phổ biến như tảo mộ, dựng nêu, ông đề cập đến một tập tục không thấy Trịnh Hoài Đức nói đến. Đó là tục tiễn Táo quân vào ngày 23 và rước Táo quân vào ngày 30 tháng chạp. Lễ vật đưa tiễn Táo là con cá chép được gọi là ngựa của Táo quân, gần ngày Tất niên thì mang ba ông đầu rau cũ bỏ ở một nơi sạch sẽ, rước ba ông đầu rau mới vào (*).

Vào thời của Đoàn Triển, nhiều tập tục thưởng Tết còn tồn tại đến gần đây, chẳng hạn như việc chọn giờ lành để xuất hành, bẻ một cành hoa hái được ở đâu đó mang về cắm ở cửa gọi là “hái lộc”, người làm quan thì “khai ấn”, giải quyết một ít việc công, kẻ sĩ thì “khai bút”, viết mấy dòng lời hay ý đẹp.

Ngày Tết, nhà nông cũng làm lễ “động thổ”, mang lễ vật ra cúng ở miếu đình, đánh ba hồi trống hay nổi ba hồi mõ, lấy mấy hòn đất đắp ở trước miếu đình, rồi ra đồng gánh một gánh đất đắp ở cạnh sân. Sau lễ động thổ, mọi người mới ra đồng làm công việc đồng áng.

An Nam phong tục sách cũng nhắc đến tập tục biếu xén nhau dịp Tết, thể hiện trong nhiều mối quan hệ khác nhau: thứ dân đối với quan trường; cấp dưới đối với cấp trên; con em đối với cha anh; học trò đối với thấy dạy; con nợ đối với chủ nợ; nhà trai, nhà gái đối với thông gia; người làm quan đối với họ hàng thân thuộc… Quà biếu nhau thường là tiến bạc, gạo, chè, rượu, gà vịt, hoa quả, mứt kẹo, nhiều hay ít tùy hoàn cảnh người biếu hoặc tùy tầm quan trọng của mối quan hệ giữa hai bên.

(Ảnh: Sonnguyen4241960, Shutterstock)

Trò chơi ngày Tết, ngoài những thú vui có tính văn hóa như hội thi hoa thủy tiên, hội thi thả hoa đăng, món cờ bạc kéo dài đến tận tháng hai âm lịch, đến nổi tác giả Đoàn Triển đã viết:

“Xét Tết nguyên đán, nước nào cũng có, không hể thiếu được. Nhưng chỉ có ở nước ta, cúng tế đến bốn năm ngày, thật là phiền nhiễu. Vả lại, vàng hương, giấy viết đối liễn, pháo v…v… đều là hàng Trung Quốc” (Sđd – NXB Hà Nội 2008, trang 22)

Ở nửa đầu thế kỷ XX, các nhà văn Toan Ánh, Phan Kế Bính (trong Việt Nam phong tục) cũng có đề cập đến tập tục ngày Tết, đại thể như những người đi trước, song độc đáo nhất có lẽ là một cách thưởng Tết đặc biệt trong tập truyện ngắn lừng danh Vang Bóng Một Thời của nhà văn Nguyễn Tuân. Trong truyện Hương Cuội, nhà văn mô tả tỉ mỉ cách chuẩn bị bữa rượu “Thạch lan hương” của gia đình cụ Tú Kép.

Trưa ngày cuối năm, người bõ già của gia đình cụ Tú mang những hòn sỏi tròn ra bờ ao để chải, rửa cho thật sạch. Khi sỏi đã ráo nước, bõ già lựa những hòn xù xì, méo mó trải lên lớp đất sỏi của khoảng 10 chậu lan trong vườn. Đêm giao thừa, khi nồi kẹo mạch nha đã chín tới và khô nguội, người ta quấn kẹo quanh những viên sỏi tròn trắng, sạch nhất, rồi đặt lên lớp sỏi thô đã trải trên miệng các chậu lan hồi ban chiều. Khi mọi việc đã xong, họ úp những chiếc lồng bàn đã dán kín giấy lên từng chậu lan một. Ban đêm, hương lan tỏa ra, không thoát khỏi chiếc lồng bàn giấy, ngấm vào từng hòn sỏi kẹo mạch nha.

Ngày nay, lan cấy mô đẹp, siêng cho hoa, song hầu hết không tỏa hương, còn lan rừng Việt Nam, loài nào cũng có mùi hương đặc trưng dễ nhận diện, mỗi mùi hương ngấm vào từng viên sỏi mạch nha tạo cho cái Tết của các tao nhân mặc khách một phong vị độc đáo. Hình ảnh các cụ đầu râu tóc bạc ngồi gật gù quanh những chậu lan, nếm chút rượu bồ đào rồi bỏ vào miệng viên sỏi ướp mạch nha tỏa mùi hương lan khiến cho bữa rượu thạch lan hương trở thành thú vui thoát tục nhất trần đời!

Lê Nguyễn

(*) “Ông đầu rau” thường là ba hòn đất sét nung dùng để kê nồi nấu ăn