Phiên tòa Nuremberg tại Phòng xử án 600, tháng 11 năm 1945 (Ảnh: Raymond D’Addario/wikipedia)
Rạng sáng ngày 16/10/1946, phòng thể dục trong nhà tù của Cung Tư pháp Nuremberg sáng đèn. Từ sau 1 giờ, 10 trọng phạm Quốc xã lần lượt lên giá treo cổ, người đầu tiên là cựu Ngoại trưởng Đức Quốc xã Ribbentrop.
Hermann Göring, người vốn đứng đầu danh sách, đã tự sát bằng xyanua trong phòng giam từ khuya hôm trước, không đợi đến giờ phút này.
Đến lượt mình, Julius Streicher bước về phía giá treo cổ và hô lớn: “Hitler muôn năm!” Theo bài tường thuật tại chỗ của Kingsbury Smith, phóng viên hãng International News Service, Streicher bước lên giàn rồi quay người lại, trừng mắt nhìn các nhân chứng có mặt và bất ngờ thét lên: “Lễ Purim 1946!”
Khi được hỏi còn lời trăng trối nào không, ông ta hét: “Một ngày nào đó những người Bolshevik sẽ treo cổ các người”. Khi chiếc mũ trùm đen chụp xuống, mọi người nghe ông ta lẩm bẩm: “Adele, người vợ thân yêu của tôi”.
Phần lớn các sĩ quan Mỹ có mặt hôm đó không hiểu “Purim” nghĩa là gì. Đây là một ngày lễ của người Do Thái, tưởng nhớ một câu chuyện trong Sách Esther: tể tướng Ba Tư Haman âm mưu diệt chủng người Do Thái, cuối cùng chính ông ta cùng 10 người con trai đều bị treo lên giá gỗ.
Đêm hôm ấy, số người bị treo cổ cũng vừa đúng 10.
Streicher hiểu điển tích này, bởi tờ báo của ông ta từ năm 1934 đã đăng một bài dài “vạch trần” lễ Purim. Đến giây phút cuối cùng, thế giới trong mắt ông ta vẫn chỉ có một cách đọc.
Streicher không phải quân nhân, cũng không tham gia hoạch định cuộc thảm sát, nhưng quyền lực ông ta từng nắm không hề nhỏ. Từ năm 1925 đến 1940, ông ta làm lãnh đạo vùng (Gauleiter) Franconia suốt 15 năm; ngày 1/4/1933, chủ trì chiến dịch tẩy chay các cửa hàng của người Do Thái trên toàn quốc; ngày 10/8/1938, cho phá giáo đường Do Thái ở Nuremberg. Tất cả những việc này đều được ghi vào bản án.
Tuy nhiên, tháng 2/1940, Streicher bị cáo buộc chiếm đoạt tài sản tịch thu của người Do Thái sau “Đêm Thủy tinh vỡ” và tung tin đồn về Göring, nên bị tước mọi chức vụ trong đảng, chỉ còn giữ danh hiệu Gauleiter suông. Trong những năm từ đó đến khi chiến tranh kết thúc, cũng là lúc người Do Thái ở phía đông bị tàn sát hàng loạt, thứ còn lại trong tay ông ta chủ yếu là tờ Der Stürmer (Xung Phong).
Ông ta sáng lập tờ tuần báo này năm 1923 và phát hành liên tục đến năm 1945. Năm 1935, số phát hành lên tới 600 nghìn bản.
Bản án của Tòa án Quân sự Quốc tế viết rằng ông ta “tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác, làm nhiễm độc tâm trí người Đức bằng thứ virus bài Do Thái”. Ông ta còn “kích động dân chúng Đức tích cực tham gia đàn áp”.
Bản án còn nêu rõ, từ năm 1938 đến 1941, Der Stürmer đăng 23 bài báo cổ vũ diệt trừ người Do Thái “tận gốc”, trong đó một bài gọi người Do Thái là ký sinh trùng và mầm bệnh “phải tiêu diệt vì lợi ích của nhân loại”.
Tòa tuyên Streicher không phạm tội đồng mưu phát động chiến tranh xâm lược. Thứ đưa ông ta lên giá treo cổ là tội ác chống lại loài người, vì trong lúc người Do Thái ở phía đông đang bị sát hại theo cách khủng khiếp nhất, ông ta vẫn kích động giết chóc và diệt chủng.
Hans Fritzsche, người phụ trách phát thanh trong Bộ Tuyên truyền của Goebbels, thì được tuyên vô tội trong cùng bản án. Tòa nhận định dù các chương trình phát thanh của ông đậm màu sắc tuyên truyền, vẫn không thể xác định ông có ý đồ kích động người Đức dùng bạo lực với dân chúng ở các vùng bị chiếm đóng.
Đặt hai bản án cạnh nhau sẽ thấy ranh giới Nuremberg vạch ra khá rõ ràng. Bản thân lời nói không phải là tội chết. Trong lúc thảm sát đang diễn ra, biết rõ hậu quả mà vẫn hết lần này đến lần khác mô tả một nhóm người là loài sâu bọ phải loại trừ, đó mới là tội chết.
Ranh giới này được vạch ra rất kiềm chế. Chính vì kiềm chế, nó mới đứng vững trước 80 năm chất vấn.
Cùng bị treo cổ với Streicher còn có Wilhelm Keitel, người đứng đầu Bộ Tư lệnh Tối cao quân đội Đức, và Alfred Jodl, Trưởng ban Tác chiến của bộ tư lệnh này. Lời bào chữa của hai người tại tòa gần như giống hệt nhau: thiên chức của quân nhân là phục tùng, mệnh lệnh đến từ Quốc trưởng, còn họ chỉ thi hành.
Lối thoát này đã bị chặn ngay từ trước khi phiên tòa khai mạc. Điều 8 của Hiến chương Tòa án Quân sự Quốc tế quy định bị cáo hành động theo lệnh của chính phủ hay cấp trên không vì thế mà được miễn trách nhiệm. Chỉ khi tòa thấy phù hợp với công lý, việc làm theo lệnh mới có thể được cân nhắc để giảm án.
Đến khi tuyên án Keitel, tòa đóng luôn cả cánh cửa giảm án này. Bản án viết rằng “không có bất kỳ tình tiết giảm nhẹ nào”, vì những tội ác ghê rợn, trên quy mô rộng như vậy đã diễn ra một cách có ý thức, tàn nhẫn và không hề có lý do quân sự nào. Tòa khẳng định: “Lệnh của cấp trên, ngay cả đối với quân nhân, cũng không thể là lý do để giảm án”.
Với Jodl, tòa nhận định chưa từng có quân nhân nào bị đòi hỏi phải tham gia những tội ác như thế, và ông ta không thể nấp sau huyền thoại “quân nhân phải phục tùng bằng mọi giá”.
Sau khi tòa tuyên án, Keitel, Jodl và một số người khác xin đổi sang hình thức xử bắn. Theo hiến chương, cơ quan có quyền giảm án hay thay đổi hình phạt là Hội đồng Kiểm soát Đồng minh, và hội đồng này không chấp thuận. Đến phút cuối, họ vẫn muốn chết với tư cách quân nhân, còn sợi thòng lọng trao cho họ thân phận tội phạm.
Chưa đầy hai tháng sau, tòa án quân sự Mỹ mở phiên xử một nhóm bị cáo khác ngay tại Cung Tư pháp này. Phần lớn trong số 23 bị cáo là bác sĩ. Vụ án liên quan đến các thí nghiệm trên cơ thể tù nhân trại tập trung như làm lạnh, áp suất thấp và gây nhiễm trùng, cùng chương trình giết người mang tên “an tử”. Các bị cáo vẫn viện dẫn nhu cầu quốc gia, sắc lệnh thời chiến, chỉ thị của cấp trên để bào chữa.
Tòa xem xét vai trò của từng người. Cuối cùng, 7 người lĩnh án tử hình và 7 người được tuyên vô tội. Phiên tòa này để lại Bộ quy tắc Nuremberg, mà điều đầu tiên ghi rằng sự đồng ý tự nguyện của người tham gia thí nghiệm là tuyệt đối cần thiết.
Năm 1950, Ủy ban Luật pháp Quốc tế của Liên Hợp Quốc hệ thống hóa thành văn bản các nguyên tắc mà Nuremberg đã xác lập. Nguyên tắc thứ 4 nêu rõ người hành động theo lệnh của chính phủ hay cấp trên không vì thế mà được miễn trách nhiệm theo luật pháp quốc tế, “miễn là trên thực tế người đó có khả năng đưa ra lựa chọn đạo đức”.
Nửa câu sau cùng ấy là lời viết cho mọi người thi hành về sau.
Tháng 7/1999, Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu đàn áp toàn diện Pháp Luân Công. Trước đó, nhóm tín ngưỡng lấy “Chân, Thiện, Nhẫn” làm nguyên lý cốt lõi này sáng sớm nào cũng có mặt tại các công viên khắp cả nước để luyện công, ngồi thiền.
Cuộc đàn áp do “Phòng 610”, cơ quan lập riêng cho việc này, điều phối. Từ đài truyền hình đến đồn công an, từ trại lao động cưỡng bức đến tòa án, khâu nào cũng có người thi hành. Trong hơn 20 năm sau đó, vô số trường hợp giam giữ, tra tấn, cưỡng ép “chuyển hóa” và bức hại đến chết đã được ghi lại.
Tuyên truyền đi trước đàn áp. Mùa hè năm 1999, Đài CCTV phát dày đặc các chương trình phê phán suốt nhiều ngày liền. Hình ảnh “tự thiêu” trên Quảng trường Thiên An Môn ngày 23/1/2001 đến nay vẫn là ấn tượng sâu đậm nhất về Pháp Luân Công trong tâm trí nhiều người Trung Quốc.
Đoạn phim này có không ít điểm đáng ngờ. Khi phóng viên The Washington Post đến Khai Phong tìm hiểu, hàng xóm của người thiệt mạng Lưu Xuân Linh nói chưa bao giờ thấy bà luyện công.
Những người cắt dựng các hình ảnh ấy, viết những lời bình ấy, khi đó có biết sự thật hay không? Họ có biết những người bị họ mô tả là “gây nguy hại cho xã hội” đang bị dùi cui điện tra tấn trong trại lao động hay không? Đó chính là câu hỏi mà tòa án từng đặt ra với Streicher.
Mùa hè năm 1995, Enver Tohti, một bác sĩ ngoại khoa trẻ tại một bệnh viện ở Urumqi, được hai trưởng khoa gọi vào phòng và hỏi có muốn “làm việc gì đó kích thích” không.
Sáng hôm sau, ông cùng trợ lý và y tá lên một chiếc “xe cứu thương” bên trong chỉ có một chiếc giường, chạy theo đường núi đến pháp trường ngoài thành phố. Ông là người dân tộc thiểu số duy nhất trên xe, suốt dọc đường ông sợ người sắp bị xử tử chính là mình.
Đến nơi, ông mới biết mình được giao phụ trách người nằm ngoài cùng trong một hàng tử tù vừa bị xử bắn. Người đó trúng đạn ở ngực, vẫn chưa tắt thở. Làm theo chỉ thị, Tohti lấy lá gan và hai quả thận của người này.
Sau này ông kể lại, phản ứng đầu tiên của ông lúc đó là thở phào, vì người nằm dưới đất không phải mình. Năm 1998, ông rời Trung Quốc, cuối cùng định cư tại London. Nhiều năm sau, ông lần đầu công khai chuyện này, rồi tiếp tục trình bày với giới truyền thông và Quốc hội Mỹ.
Người bị lấy nội tạng hôm đó là một tử tù. Không ai hỏi ý kiến, cũng không ai biết tên người ấy.
Những gì Tohti kể mới chỉ là khởi đầu, về sau quy mô còn lớn hơn nhiều. Ngày 17/6/2019, tòa án nhân dân độc lập China Tribunal đặt tại London công bố phán quyết. Chủ tọa là Ngài Geoffrey Nice, người từng chủ trì việc truy tố Milosevic tại Tòa án Hình sự Quốc tế về Nam Tư cũ. Tòa áp dụng tiêu chuẩn chứng minh của tố tụng hình sự: “vượt quá mọi nghi ngờ hợp lý”.
Tòa kết luận Trung Quốc nhiều năm qua đã cưỡng bức thu hoạch nội tạng của tù nhân lương tâm trên quy mô lớn, trên phạm vi cả nước, cấu thành tội ác chống lại loài người. Học viên Pháp Luân Công là một trong những nguồn nội tạng, và rất có thể là nguồn chính. Tòa cũng cho rằng không có bằng chứng nào cho thấy hoạt động này đã chấm dứt.
Đây là tòa án do xã hội dân sự lập ra, không có cảnh sát, không có nhà tù, phán quyết không có hiệu lực cưỡng chế. Tòa xem xét bằng chứng theo tiêu chuẩn hình sự, rồi đặt kết luận trước mắt thế giới.
Một việc ở quy mô như vậy, vài người không thể làm nổi. Từ lấy máu, xét nghiệm tương thích, vận chuyển, phẫu thuật đến ghi sổ, công đoạn nào cũng cần một con người cụ thể thực hiện, và người nào cũng sẽ nói rằng mình làm theo lệnh.
Cách đây 80 năm, Nuremberg đã đưa ra câu trả lời, và nửa câu “khả năng đưa ra lựa chọn đạo đức” đến nay vẫn còn hiệu lực. Tại Trung Quốc, khoảng trống cho lựa chọn ấy rất hẹp, hẹp đến mức có thể chỉ còn là không ký một chữ, không chia sẻ một đoạn video, không bước vào căn phòng phẫu thuật ấy. Hẹp nhưng không phải là không có, và về sau Tohti cũng đã tìm thấy chút khoảng trống thuộc về mình.
Khi hô lên “Lễ Purim” trên giá treo cổ, Streicher tưởng điều mình nhìn thấy là thêm một lần bản thân bị bức hại. Điều ông ta đến chết vẫn không nhìn thấy là những dòng chữ mà chính tờ báo của mình in ra tuần này qua tuần khác.
Mệnh lệnh do người khác ban ra, nhưng con dao mổ nằm trong tay ai thì bản án sẽ ghi tên người đó.
Theo Thanh Phong / Epoch Times
Bộ Chiến tranh Mỹ đang đưa thêm binh sĩ Sư đoàn Sơn cước 10 sang…
Ông Talarico, ứng viên Dân chủ tranh ghế Thượng viện Mỹ ở Texas, khẳng định…
Ông Zelensky cáo buộc Trung Quốc đang phát triển công nghệ thay thế Starlink và…
Ông Tập yêu cầu tăng cường truy thu tài sản tham nhũng xuyên biên giới,…
Ông Vance kêu gọi người Mỹ tham gia cam kết chống gian lận, sáng kiến…
Đài Loan định xây tại Texas khu công nghiệp đầu tiên ở Mỹ cho chuỗi…