Một phụ nữ Trung Quốc đang mang thai (Ảnh: Artmim/shutterstock)
Tháng 10/2026, video về một bà mẹ 3 con ở Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam lan truyền trên mạng tiếng Hoa. Chị Vương một mình gánh vác gia đình, đi giao đồ ăn 8 ngày mà thu nhập chưa đến 200 nhân dân tệ.
Chị kể trên mạng về cuộc sống chật vật của mình, nhưng lại gặp phải một cảnh ngộ còn tàn nhẫn hơn. Ở phần bình luận, người ta chế giễu chị nghèo, trách chị sinh 3 đứa con, rồi dùng những lời lẽ xúc phạm thân thể phụ nữ để làm nhục chị.
Câu chuyện kết thúc bằng việc cả gia đình 5 người đốt than tự tử, và tin này nhanh chóng gây chú ý. Cùng thời gian đó, chị Hồ Nhị Muội, một người mẹ hai con cũng một mình gánh vác gia đình, cuối cùng không chịu nổi bạo lực mạng mà tự tử.
Ở Trung Quốc, phụ nữ thường bị buộc phải gánh những trách nhiệm mâu thuẫn nhau.
Khi còn trẻ, họ bị giục lấy chồng. Lấy chồng rồi, họ bị giục sinh con. Sinh con gái thì có người hỏi bao giờ sinh con trai. Sinh con trai rồi, lại có người hỏi sao không sinh thêm đứa nữa.
Thế nhưng khi gia đình rơi vào cảnh nghèo, người phụ nữ không thể một mình gánh chi phí nuôi con, thì chính xã hội ấy lại chất vấn chị: đã không nuôi nổi, sao lúc đầu còn sinh?
Những câu hỏi này khiến người ta nhớ đến Dương Cải Lan ở vùng núi Cam Túc 10 năm trước.
Năm 2016, Dương Cải Lan, 28 tuổi, cùng đường vì nghèo đói, đã giết 4 đứa con nhỏ rồi uống thuốc độc tự tử. Cảnh nghèo cùng cực chị phải sống, những vấn đề trong cơ chế cứu trợ ở địa phương và việc một gia đình suốt thời gian dài không nhận được sự giúp đỡ hiệu quả đều cần được đem ra xem xét lại.
10 năm trôi qua, Trung Quốc đã chuyển từ hạn chế sinh đẻ sang khuyến khích sinh đẻ, nhưng một câu hỏi căn bản hơn vẫn chưa có lời giải.
Khi nhà nước cần phụ nữ sinh con, nhà nước có thể đi sâu vào gia đình, can thiệp vào thân thể và đặt ra chính sách. Khi phụ nữ rơi vào nghèo khó và tuyệt vọng vì sinh con, nhà nước sẵn lòng gánh bao nhiêu trách nhiệm?
Cách huyện Khang Lạc, tỉnh Cam Túc hàng ngàn km, một phụ nữ Trung Quốc khác mang theo ký ức về 3 đứa con, cuối cùng đã rời Trung Quốc.
Chị tên là Triệu Tuyết Quyên. Chị không chọn kết liễu cuộc đời. Chị chọn cách chạy trốn.
Trải nghiệm của chị đem lại thêm một lời đáp khác để hiểu hoàn cảnh của phụ nữ Trung Quốc trong chế độ quản lý sinh đẻ.
Triệu Tuyết Quyên sinh năm 1988 tại một vùng nông thôn tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.
Ngày 31/1/2009, đứa con đầu lòng của chị chào đời, là một bé gái. Với một phụ nữ trẻ lần đầu làm mẹ, sự ra đời của đứa trẻ lẽ ra là khoảnh khắc quan trọng của đời sống gia đình. Song dưới hệ thống quản lý kế hoạch hóa gia đình thời đó, thứ đầu tiên đứa trẻ mang đến lại là một khoản tiền phạt. Lúc con gái chào đời, chị và chồng chưa đăng ký kết hôn, nên sau đó cán bộ kế hoạch hóa gia đình yêu cầu chị nộp 5.000 nhân dân tệ với lý do sinh con khi chưa kết hôn.
Với một gia đình trẻ sống ở nông thôn Trung Quốc năm 2009, 5.000 nhân dân tệ tuyệt nhiên không phải khoản tiền có thể xem nhẹ. Khoản tiền này cho thấy việc người phụ nữ sinh con có thể trở thành lý do để xử phạt hành chính. Chỉ vì mang thai, một người phụ nữ phải đối mặt với mối đe dọa từ bộ máy quản lý của nhà nước.
Ngày 11/7/2010, con gái thứ hai của Triệu Tuyết Quyên chào đời. Trong lần mang thai này, chị không dám đi khám thai như bình thường.
Chị sợ bệnh viện báo việc mình mang thai cho cán bộ kế hoạch hóa gia đình, sợ bị buộc phải phá thai. Mãi đến lúc sắp sinh, chị mới tự đến bệnh viện.
Một thai phụ không dám dùng dịch vụ chăm sóc thai kỳ thông thường chỉ vì sợ bị xử phạt hành chính.
Ai phải chịu trách nhiệm cho nỗi sợ ấy?
Sau khi con gái thứ hai ra đời, mọi việc chưa dừng lại. Đứa bé đầy tháng chưa bao lâu, chủ nhiệm phụ nữ của thôn dẫn người đến nhà, yêu cầu đưa chị đi làm thủ thuật tránh thai.
Chị không đồng ý.
Bố mẹ chồng tìm cách ngăn cản. Trong lúc giằng co, bố chồng chị bị đánh, bị lôi kéo, đầu bị thương chảy máu. Mẹ chồng bị đè xuống đất. Bản thân chị cũng bị đánh, cuối cùng bị cưỡng ép lên xe.
Một người phụ nữ vừa sinh nở, cơ thể chưa hồi phục hẳn, đã mất quyền tự quyết có làm thủ thuật tránh thai hay không.
Trong cách quản lý kế hoạch hóa gia đình thời đó, kiểm soát dân số là một mục tiêu chính sách. Thân thể của Triệu Tuyết Quyên trở thành nơi thực thi mục tiêu ấy.
Sau khi đặt vòng, chị liên tục ra máu và thấy khó chịu. Về sau, chị tự ý đến một phòng khám nhỏ tháo vòng tránh thai. Kéo theo đó là một khoản phạt khác: 8.000 nhân dân tệ.
Hai lần sinh con, hai lần nộp phạt.
Nhà nước quy định chị phải sinh con như thế nào, và có thể xử phạt khi chị làm trái. Còn gia đình này gánh khoản phạt ra sao, nuôi hai con gái nhỏ thế nào, đối diện nỗi đau thể xác của người mẹ ra sao, thì quyết định xử phạt hành chính không có lời đáp.
Đây là sự mất cân bằng rất lớn, xuyên suốt lịch sử sinh đẻ của phụ nữ Trung Quốc.
Nhà nước nắm quyền quản lý sinh đẻ, còn phụ nữ phải trả cái giá trực tiếp nhất bằng chính thân thể mình.
Tháng 3/2011, Triệu Tuyết Quyên lại mang thai.
Chị báo tin cho gia đình. Chị nhớ lại, cả nhà vốn luôn mong có con trai nên ai cũng rất vui.
Niềm vui ấy nhanh chóng bị cắt ngang. Tháng 4 năm đó, chị lại đến bệnh viện khám thai. Trên đường về, chị bị cán bộ kế hoạch hóa gia đình đưa đi, rồi bị cưỡng ép phá thai trái với ý muốn của mình.
Chị không thể chấp nhận việc mình muốn giữ đứa con mà lại không có chút quyền quyết định nào. Nhà nước có thể thống kê số trẻ sinh ra, nhưng không thể dùng một văn bản chính sách để xóa đi ký ức trên thân thể một con người.
Khi Triệu Tuyết Quyên nhớ lại lần phá thai ấy, cảm giác mạnh nhất là bất lực.
Chị muốn bảo vệ đứa con, nhưng đã không làm được.
Trong nền văn hóa trọng nam khinh nữ tồn tại lâu đời ở Trung Quốc, phụ nữ thường cùng lúc phải chịu đòi hỏi từ hai phía: gia đình và nhà nước.
Trong văn hóa gia đình truyền thống, sinh con trai được xem là trách nhiệm nối dõi tông đường. Không sinh được con trai, người phụ nữ bị họ hàng gây áp lực, chỉ trích, thậm chí bị đối xử bất bình đẳng trong hôn nhân. Thế nhưng vào thời kế hoạch hóa gia đình được thi hành nghiêm ngặt, sinh thêm con lại bị phạt, bị ép tránh thai, thậm chí bị cưỡng ép phá thai.
Một bên là văn hóa dòng tộc đòi phụ nữ sinh con trai, một bên là bộ máy nhà nước buộc phụ nữ ngừng sinh.
Hai sức mạnh trái ngược nhau lại cùng tác động lên thân thể của một người phụ nữ.
Để sinh được con trai, chị buộc phải tiếp tục sinh.
Năm 2013, Triệu Tuyết Quyên lại mang thai. Lần này, chị không dám tùy tiện ra khỏi nhà. Chị lo cán bộ kế hoạch hóa gia đình phát hiện mình có thai, lo lại bị đưa đi, nên để giữ đứa con, chị quyết định tạm lánh đi nơi khác.
Ngày 2/5 năm đó, một bé trai chào đời. Đây là đứa con thứ ba của Triệu Tuyết Quyên, cũng là con trai đầu lòng của chị.
Trong xã hội Trung Quốc chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan niệm nối dõi tông đường, một bé trai chào đời mang ý nghĩa biểu tượng cho sự tiếp nối của gia đình. Với Triệu Tuyết Quyên, việc con chào đời còn có nghĩa là chị đã giữ được một cái thai mà mình muốn giữ.
Sinh con xong, chị vẫn không dám về nhà vì sợ cán bộ kế hoạch hóa gia đình tìm đến. Lánh đi cũng không giúp chị thoát khỏi hệ thống quản lý sinh đẻ. Đứa bé cần được làm hộ khẩu. Vì con trai thuộc diện sinh vượt kế hoạch, chị không lấy được giấy tờ cần thiết để làm hộ khẩu, và Chính phủ Trung Quốc yêu cầu chị nộp phạt 20 nghìn nhân dân tệ.
Để làm hộ khẩu cho con trai, chị buộc phải vay tiền họ hàng, bạn bè.
Với chị, cả 3 lần con chào đời đều đi kèm sự can thiệp của quyền lực nhà nước.
Vì sao một nhà nước có thể buộc phụ nữ trả giá bằng thân thể, tiền bạc và tự do cho việc sinh con, mà không phải chịu trách nhiệm tương xứng cho những tổn thương họ gánh chịu?
Năm 2015, Trung Quốc tuyên bố thực hiện toàn diện chính sách hai con. Năm 2021, nước này tiếp tục nới ra, cho phép sinh 3 con.
Những người phụ nữ từng bị phạt tiền, bị ép tránh thai, bị buộc ngừng mang thai, bỗng chốc sống trong một đất nước khuyến khích sinh đẻ.
Chính sách đã thay đổi. Song những người từng bị tổn thương không thể vì thế mà quay về quá khứ.
Với Triệu Tuyết Quyên, những ca thủ thuật bị ép làm, đứa con đã mất, những khoản tiền đã nộp, và nỗi sợ hãi bao trùm gia đình suốt nhiều năm không tự biến mất khi chính sách điều chỉnh.
Dân số có thể tính lại. Cuộc đời thì không thể bắt đầu lại.
Triệu Tuyết Quyên cuối cùng đã rời Trung Quốc.
Dương Cải Lan thì không.
Tháng 8/2016, tại huyện Khang Lạc, châu tự trị dân tộc Hồi Lâm Hạ, tỉnh Cam Túc, một phụ nữ nông thôn 28 tuổi đã giết 4 đứa con nhỏ của mình.
Sau đó, chị uống thuốc độc tự tử. Các con của chị chỉ từ 3 đến 8 tuổi. Người chồng lo xong hậu sự cho vợ con thì cũng uống thuốc độc tự tử.
Chỉ trong vài ngày, cả gia đình 6 người đều đã chết. Sau vụ việc, giới truyền thông tìm đến ngôi làng nơi Dương Cải Lan từng sống.
Cái nghèo hiện ra trước công chúng một cách gần như chói mắt: căn nhà vách đất đổ nát, chỗ ở chật chội, một gia đình thiếu những điều kiện sống bình thường. Trong các bài báo năm đó, có dân làng kể lũ trẻ thậm chí không có quần áo tử tế.
Vào lúc gia đình nghèo khó này cần giúp đỡ nhất, Chính phủ Trung Quốc đã không có biện pháp cứu trợ hiệu quả nào để thay đổi cuộc sống của họ.
10 năm sau, khi tin về người mẹ 3 con ở Trịnh Châu xuất hiện trên mạng, một lời trách móc quen thuộc cũng theo đó mà đến.
“Không nuôi nổi thì sinh ra làm gì?” Trong xã hội Trung Quốc, câu nói này dường như mặc nhiên được coi là chính đáng.
Câu nói ấy coi nghèo đói là hậu quả của lựa chọn cá nhân, đẩy toàn bộ trách nhiệm nuôi sống trẻ em cho cha mẹ, và thu gọn vấn đề an sinh xã hội phức tạp thành một lời phán xét đạo đức đơn giản.
Người trưởng thành cần chịu trách nhiệm về việc sinh và nuôi con, nhưng trách nhiệm ấy không nên trở thành cái cớ để xã hội và chính quyền rũ bỏ trách nhiệm của mình.
Điều đặc biệt cần chất vấn là: vì sao những đòi hỏi của xã hội Trung Quốc đối với việc sinh con của phụ nữ lại có thể thất thường đến vậy?
Trong gia đình truyền thống, người phụ nữ không sinh con bị coi là không trọn vẹn. Nếu chỉ sinh con gái, họ bị trách không để lại con trai cho dòng họ. Sinh nhiều con mà vì khó khăn kinh tế phải cầu cứu bên ngoài, họ lại bị chất vấn: ai bảo sinh lắm thế?
Những đòi hỏi này mâu thuẫn sâu sắc với nhau.
Xã hội đòi phụ nữ hoàn thành trách nhiệm sinh con, nhưng thường từ chối gánh phần chi phí công cộng cần có để hỗ trợ việc sinh con.
Phụ nữ bị đòi hỏi phải là người vợ tốt, người mẹ tốt, người con dâu tốt. Họ phải chăm con, phụng dưỡng người cao tuổi, giữ gìn quan hệ gia đình và cố gắng hết sức đi làm kiếm tiền. Khi gia đình vận hành bình thường, những công sức ấy được coi là lẽ đương nhiên. Một khi gia đình gặp khó khăn, xã hội lại có thể nhanh chóng đổ mọi vấn đề lên đầu người phụ nữ.
Sao không kiếm ra tiền? Sao không chăm con cho tốt? Sao không ly hôn sớm? Sao không cố gắng? Sao còn sinh con?
Những câu chất vấn ấy thực chất thường bỏ qua nguồn lực kinh tế, cơ hội việc làm và sự hỗ trợ xã hội mà người phụ nữ thực sự có.
Trong xã hội Trung Quốc, nơi quan niệm trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại, nghịch cảnh của phụ nữ phức tạp hơn nhiều so với tưởng tượng.
Bé gái từ khi chào đời đã được dặn rằng rồi mình cũng phải đi lấy chồng. Phụ nữ trưởng thành bị đòi hỏi phải nối dõi tông đường cho nhà chồng. Người mẹ không có con trai thì bị sỉ nhục suốt thời gian dài. Người phụ nữ vừa phải gánh trách nhiệm kiếm tiền nuôi gia đình, vừa phải lo mọi việc chăm sóc trong nhà.
Văn hóa truyền thống chưa bao giờ thật sự bớt đòi hỏi với họ. Còn nền kinh tế hiện đại lại đòi hỏi họ ngày càng nhiều.
Khi người phụ nữ rốt cuộc không trụ nổi nữa, người ngoài cuộc vẫn luôn tìm được lý do để nói:
Đó là do cô ta tự chọn.
Xã hội Trung Quốc chỉ nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân khi phụ nữ thất bại, còn khi họ kết hôn, sinh con, chăm lo gia đình thì không ngừng gây áp lực. Như vậy, cái gọi là lựa chọn cá nhân ấy không hề có tự do thực sự.
Khi nhà nước bàn về tỷ lệ sinh, trẻ em là tương lai của đất nước. Khi gia đình bàn về chi phí nuôi con, nhà nước lại thoái thác, và đứa trẻ thường trở thành trách nhiệm riêng của cha mẹ. Mâu thuẫn này không thể mãi được bù đắp bằng sức lao động không công của phụ nữ.
Điều phụ nữ Trung Quốc cần là những thứ có thể thực sự tiếp cận: bảo đảm y tế, hỗ trợ nhà ở, trợ cấp thất nghiệp, dịch vụ chăm sóc trẻ em, cùng các dịch vụ công có thể can thiệp khi họ gặp bạo lực gia đình, bị kiểm soát kinh tế hay khủng hoảng hôn nhân.
Họ cần được giúp đỡ trước khi rơi vào cảnh khốn cùng.
Một chế độ an sinh xã hội thực sự hiệu quả phải giúp người mẹ tạm mất thu nhập vẫn nuôi được con, giúp người cao tuổi đau ốm không kéo cả gia đình sụp đổ theo, và giúp trẻ em nghèo có được những bảo đảm cơ bản về sinh hoạt, giáo dục và y tế.
Chế độ ấy còn phải cho phép người đã cùng đường lên tiếng xin giúp đỡ, mà không phải trước hết chứng minh mình đủ đáng thương, đủ chăm chỉ, hay đủ khớp với hình mẫu người mẹ tốt mà xã hội kỳ vọng.
Cứu trợ không nên là phần thưởng dành cho người nghèo hoàn hảo.
Người Trung Quốc thường nói tình mẹ thật vĩ đại.
Bản thân câu nói ấy không sai. Có điều, khi cả xã hội không ngừng đề cao sự hy sinh của tình mẹ mà ít khi bàn đến quyền của người mẹ, tình mẹ trở thành một gông cùm đạo đức nặng nề.
Một người mẹ tốt dường như phải mãi mãi kiên cường.
Chị phải chịu đựng đau đớn, nghèo khó và mệt mỏi.
Con cái cần chị, chị không được gục ngã. Cha mẹ già cần chị, chị không được dừng lại. Chồng cần chị, chị phải biết thông cảm.
Khi chị nói mình mệt, có người bảo mẹ nào trên đời cũng vậy.
Khi chị nói không nuôi nổi con, có người chất vấn sao lúc đầu còn sinh.
Khi chị đề nghị các thành viên trong gia đình cùng chia sẻ, có người cho rằng phụ nữ chăm con là lẽ hiển nhiên.
Nền văn hóa này đầy những lời ca ngợi người mẹ, nhưng thiếu sự tôn trọng dành cho người mẹ như một cá nhân độc lập.
Quan niệm trọng nam khinh nữ truyền thống ở Trung Quốc chính là một trong những nguồn gốc quan trọng của nghịch cảnh này.
Con trai được xem là người tiếp nối huyết thống gia tộc, còn con gái bị xem là thành viên rồi sẽ rời khỏi nhà.
Người phụ nữ bị đặt vào giữa hai bên, gánh trách nhiệm duy trì huyết thống.
Giá trị của họ liên tục bị đo đếm qua hôn nhân, sinh con và thiên chức làm mẹ.
Thế nhưng, dù sinh con trai hay con gái, mọi rủi ro về thân thể khi mang thai và sinh nở đều do người phụ nữ gánh chịu.
Khi biến chứng sinh nở xảy ra, người bị tổn thương là phụ nữ. Khi phải nghỉ việc để chăm con, người mất thu nhập cũng thường là phụ nữ. Khi đứa trẻ thiếu người chăm sóc, người đầu tiên bị trách móc cũng thường là người mẹ.
Còn những bên thực sự phải cùng gánh trách nhiệm, gồm các thành viên gia đình, chế độ lao động, dịch vụ công và hệ thống an sinh xã hội, lại ẩn mình sau cuộc phán xét tập thể nhắm vào người mẹ.
Dưới sức ép lâu dài của hệ giá trị méo mó ấy, chính phụ nữ cũng sẽ vừa là người duy trì truyền thống này, vừa là người gây hại.
Có người mẹ từng bị tổn thương vì trọng nam khinh nữ, về sau lại bắt con dâu phải sinh cháu trai. Có người phụ nữ từng bị phân biệt đối xử vì giới tính, khi trưởng thành lại truyền chính quan niệm ấy cho con gái.
Người bị áp bức thừa hưởng ngôn ngữ của kẻ áp bức.
Đó chính là chỗ dai dẳng nhất của quan niệm truyền thống. Quan niệm ấy không cần ai công khai tuyên bố phụ nữ thấp kém hơn.
Chỉ cần vẫn có người nói với bé gái rằng phụ nữ sớm muộn cũng phải lấy chồng, nói với người vợ rằng sinh con trai mới là hoàn thành trách nhiệm, nói với người mẹ rằng hy sinh cho gia đình là thiên chức, thì quan niệm này vẫn tiếp tục tồn tại.
Hệ quan niệm ấy đi từ bàn ăn vào phòng ngủ, từ thế hệ trước sang thế hệ sau, và không cần đến bất kỳ luật lệ nào vẫn có thể quyết định cuộc đời của rất nhiều phụ nữ.
Khi nền văn hóa ấy gặp một hệ thống an sinh xã hội chưa hoàn thiện, những phụ nữ nghèo nhất cùng lúc phải chịu áp lực từ gia đình, kinh tế và dư luận xã hội. Họ không đủ tiền để thoát khỏi một mối quan hệ bất hạnh, không có thu nhập ổn định để chăm con, cũng không có đủ nguồn lực để đấu tranh cho quyền lợi của mình.
Với họ, cái gọi là lựa chọn ngay từ đầu đã rất hạn hẹp.
Sau vụ Dương Cải Lan năm 2016, xã hội Trung Quốc từng tranh luận gay gắt.
Khi một gia đình chìm trong nghèo khó trầm trọng suốt thời gian dài, cơ quan công quyền phải gánh trách nhiệm phòng ngừa và cứu trợ đến mức nào?
Năng lực quản trị của một nhà nước không nên chỉ thể hiện qua báo cáo thống kê và các con số vĩ mô. Năng lực ấy còn phải thể hiện ở chỗ một phụ nữ nông thôn có được khám thai an toàn hay không, một người mẹ thu nhập thấp có trả nổi tiền ăn cho con hay không, một người thất nghiệp có được trợ cấp tạm thời hay không, một gia đình gặp biến cố lớn có được hỗ trợ kịp thời hay không.
10 năm sau, chế độ ở Trung Quốc vẫn không cải thiện, còn xã hội Trung Quốc dần quen với sự thờ ơ trước khổ đau.
Người nghèo kể khổ thì bị chế giễu là không đủ cố gắng. Phụ nữ bị bạo hành thì người ta trước hết nghi ngờ cô ấy đã làm sai điều gì. Người mẹ một mình nuôi con thì có người hỏi bố đứa trẻ đi đâu, nhưng hiếm ai hỏi tiếp người cha đã làm tròn trách nhiệm của mình hay chưa.
Người ta quen tìm lỗi của chính nạn nhân trong mỗi bi kịch, mà bỏ qua chế độ nhà nước và môi trường xã hội đã tạo ra rủi ro và bi kịch.
Khi cách nhau một màn hình, sỉ nhục người khác chẳng tốn kém gì.
Người ta gửi đi một câu xúc phạm phụ nữ chỉ trong vài giây. Một đoạn video về gia đình nghèo nhanh chóng biến thành nơi người ta vây xem, chế giễu và phán xét đạo đức. Người ta có thể chỉ trỏ vào hôn nhân, chuyện sinh con và cái nghèo của một người phụ nữ xa lạ, mà không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào cho việc ngày mai cô ấy còn có cơm ăn hay không.
Xã hội đáp lại lời cầu cứu của người yếu thế ra sao, bản thân điều đó đã là một vấn đề công cộng đáng xem xét.
Khi một người đã lâm vào cảnh khốn cùng, người ngoài cuộc rốt cuộc đang bàn cách giúp cô ấy, hay vội chứng minh rằng cô ấy đáng phải chịu tất cả?
Còn trách nhiệm của chế độ chính là giữ lại cho con người những điều kiện sinh tồn cơ bản nhất, vào lúc cả năng lực cá nhân lẫn thiện ý của xã hội đều không đủ để bảo vệ họ.
Nếu một người phải chết đi, xã hội mới chịu nghiêm túc bàn về cảnh nghèo của cô ấy lúc còn sống, thì người cần tự vấn tuyệt nhiên không chỉ có gia đình đã rơi vào tuyệt vọng ấy.
Ngày 12/10/2023, Triệu Tuyết Quyên rời Trung Quốc, mong không còn phải sống trong sợ hãi vì mang thai và sinh con.
Chị mong được yên tâm nuôi con, và mong những quyết định về thân thể mình được tôn trọng.
Những mong ước này không hề lớn lao.
Chị không yêu cầu nhà nước dành cho mình vị thế đặc biệt, cũng không yêu cầu ai ca ngợi tình mẹ của mình. Chị chỉ mong sinh con không còn đem lại sợ hãi, mong bảo vệ con không phải dựa vào trốn tránh, mong thân thể mình không còn bị can thiệp trái ý muốn.
Chị có hai con gái, và chị chỉ mong các con sau này không phải trải qua nỗi đau của chế độ toàn trị và những phán xét đạo đức méo mó.
Triệu Tuyết Quyên và người mẹ ở Trịnh Châu trong bản tin có những kết cục hoàn toàn khác nhau.
Ở Trung Quốc, việc sinh con của phụ nữ từ lâu đã phải gánh quá nhiều đòi hỏi từ gia đình và nhà nước, còn quyền tự quyết của chính người phụ nữ đối với thân thể, sức lao động và cuộc sống của mình lại không được tôn trọng và bảo đảm tương xứng.
Trong gia đình truyền thống, con trai là người nối dõi hương hỏa. Trong chính sách dân số trước đây, đứa trẻ là con số cần kiểm soát. Trong chính sách sinh đẻ ngày nay, đứa trẻ lại trở thành nhân khẩu mới cần khuyến khích.
Khi một đứa trẻ sắp chào đời, xã hội luôn có vô số lý do để bàn xem bé có nên đến với thế giới này hay không.
Khi đứa trẻ thực sự ra đời, bé cần thức ăn, chăm sóc y tế, giáo dục, nơi ở, cần cha mẹ có điều kiện cơ bản để nuôi nấng, và cần có người giúp đỡ khi gia đình gặp khủng hoảng.
Những trách nhiệm ấy không thể chỉ để lại cho người mẹ.
Nếu Chính phủ Trung Quốc cần phụ nữ sinh thêm con, thì phải nghiêm túc trả lời câu hỏi ai sẽ chia sẻ chi phí nuôi con.
Muốn phụ nữ tiếp tục đi làm thì phải có đủ hỗ trợ chăm sóc trẻ em. Muốn gia đình nghèo cải thiện cuộc sống nhờ nỗ lực thì phải để sức lao động đổi được bảo đảm sinh tồn cơ bản. Muốn trẻ em lớn lên khỏe mạnh thì không thể buộc các quyền cơ bản của các em hoàn toàn vào thu nhập và lựa chọn của cha mẹ.
Chính phủ Trung Quốc có quyền đặt ra chính sách sinh đẻ, thì tài chính công, an sinh xã hội và chế độ lao động cũng phải gánh trách nhiệm tương xứng.
Triệu Tuyết Quyên từng bị phạt vì sinh con. Ngày nay, ngày càng nhiều phụ nữ Trung Quốc không muốn sinh con và vì thế bị gia đình, xã hội, thậm chí cả chính sách nhà nước hối thúc.
Nhà nước muốn họ sinh. Gia đình muốn họ sinh. Xã hội muốn họ sinh.
Thế nhưng khi họ đã sinh con, phải đối mặt với áp lực y tế, giáo dục, nhà ở và dưỡng già, rốt cuộc có bao nhiêu người thật lòng muốn gánh vác thay họ?
Chúng ta có thể tiếp tục ca ngợi sự vĩ đại của tình mẹ, có thể tiếp tục bàn về già hóa dân số, tỷ lệ sinh giảm và tương lai đất nước.
Song bên dưới những từ ngữ to tát ấy, vẫn còn đó từng người phụ nữ bằng xương bằng thịt.
Họ biết đau, biết mệt, biết sợ.
Họ cần làm việc, và cũng cần nghỉ ngơi.
Họ mong con cái lớn lên khỏe mạnh, và cũng mong bản thân được sống có phẩm giá.
Trước hết họ là con người, rồi mới là người mẹ.
Sự tôn trọng cơ bản nhất mà một quốc gia dành cho phụ nữ nên bắt đầu từ việc thừa nhận điều đó.
Sinh con không nên trở thành món “lễ ra mắt” người phụ nữ phải dâng cho gia đình, càng không nên trở thành nghĩa vụ người phụ nữ phải thực hiện với nhà nước.
Người phụ nữ có quyền chọn sinh con, cũng có quyền chọn không sinh. Họ có quyền sinh con gái mà không phải tiếp tục mang thai vì cái gọi là hương hỏa. Họ có quyền sinh con trai mà không phải lo vì thế bị ép làm thủ thuật. Họ có quyền tìm kiếm giúp đỡ khi khó khăn kinh tế, mà không phải trước hết chịu sự sỉ nhục và phán xét của người lạ.
Khi đảng cầm quyền ở Trung Quốc quyết định phụ nữ sinh mấy con, mà lại không thể giúp mọi người mẹ lâm vào khốn khó kịp thời nhận được bảo đảm cơ bản, chúng ta có lý do để chất vấn: rốt cuộc đảng cầm quyền hiện nay ở Trung Quốc cai trị nhằm mục đích gì?
Khi một xã hội coi việc nối dõi tông đường quan trọng hơn ý nguyện của người phụ nữ, coi sự hy sinh của người mẹ là lẽ đương nhiên, rồi lại lạnh lùng đứng nhìn khi họ lâm vào cảnh khốn cùng, chúng ta cũng phải tiếp tục chất vấn: cái gọi là luân lý gia đình rốt cuộc đã bảo vệ ai?
Người mẹ ở Trịnh Châu trong bản tin và các con đã vĩnh viễn ra đi.
Triệu Tuyết Quyên thì mang theo vết thương quá khứ đến một đất nước khác. Cuộc đời của họ không thể làm lại.
Còn với vô số phụ nữ vẫn đang sống ở Trung Quốc, những câu hỏi này còn lâu mới khép lại.
Những phụ nữ đang mang thai, những người mẹ vừa sinh con gái, những phụ nữ một mình gánh chi tiêu gia đình, những người muốn thoát khỏi cuộc hôn nhân bất hạnh mà không có khả năng kinh tế, những gia đình chật vật giữa bệnh tật và nghèo đói, vẫn đang cần những lời đáp thực tế.
Sức mạnh của một quốc gia nên được đo bằng việc người mẹ nghèo nhất, khi cùng đường, có được giúp đỡ hay không.
Sự văn minh của một xã hội nên được đo bằng cách xã hội ấy đối xử với những người mẹ đã không còn sức để tiếp tục hy sinh.
Nếu giá trị của người phụ nữ mãi phải chứng minh bằng việc sinh con, nếu phẩm giá của người mẹ mãi phải đổi bằng sự nhẫn nhịn, nếu khổ đau của người yếu thế mãi chỉ đổi được chút quan tâm ngắn ngủi sau khi bi kịch xảy ra, thì dù Trung Quốc giàu mạnh đến đâu, vẫn nợ những người phụ nữ này một câu trả lời:
Đến bao giờ họ mới được phép sống đơn giản là một con người?
Trương Trí Quân / Vision Times
Ông Victor Davis Hanson cho rằng lối nói gây sốc của ông Trump là nghệ…
Khảo sát ở Mỹ cho thấy 4/5 phụ huynh cho rằng chi phí nuôi con…
Bà Katherine Gilmore Richardson tổ chức hội chợ sức khỏe phụ nữ tại Philadelphia, Mỹ,…
Cặp vợ chồng gốc Hoa ở California, Mỹ, bị cáo buộc bắn chết con rể…
Giới chức an ninh Đài Loan cảnh báo Đảng Cộng sản Trung Quốc dùng AI…
Epoch Times có được danh sách của hệ thống chính pháp Đảng Cộng sản Trung…