Thế Giới

Chiến tranh Iran khiến Mỹ tiêu tốn 38,1 tỷ USD, gấp rút tăng sản xuất vũ khí

Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO) cho biết, tính đến ngày 1/8, chi phí của Bộ Quốc phòng liên quan đến cuộc xung đột vũ trang với Iran đã lên tới khoảng 38,1 tỷ USD. Trong đó, 21,7 tỷ USD được sử dụng để bổ sung số đạn dược đã tiêu hao, chiếm gần 57%; 10,4 tỷ USD dành cho việc tăng số giờ bay; 2,7 tỷ USD phát sinh do giá nhiên liệu tăng; khoảng 1,9 tỷ USD để bổ sung trang thiết bị bị tổn thất trong chiến đấu và 1,5 tỷ USD cho các chi phí tác chiến khác. Một số khoản chi như sửa chữa hoặc xây dựng lại các căn cứ quân sự của Mỹ hiện chưa thể ước tính.

Ngày 13/9/2026, một thủy thủ trên tàu sân bay USS George Washington kiểm tra đạn dược gắn trên máy bay chiến đấu F/A-18 Super Hornet trong khu vực trách nhiệm của Hạm đội 5 Hoa Kỳ. Vào thời điểm đó, tàu sân bay đang được triển khai đến Trung Đông để hỗ trợ an ninh và ổn định hàng hải. (Hải quân Hoa Kỳ)

Dựa trên số liệu này, CNBC tính toán rằng trong 5 tháng đầu tiên của cuộc chiến, trung bình mỗi ngày Mỹ phải chi khoảng 246 triệu USD. CBO ước tính, nếu xung đột tiếp tục với cường độ thấp như trong tháng 5 và tháng 6, mỗi tháng kéo dài thêm sẽ làm phát sinh khoảng 2 tỷ USD. Nếu trở lại mức độ giao tranh như tháng 7, chi phí có thể lên khoảng 3 tỷ USD/tháng; trong trường hợp xung đột tiếp tục leo thang, mức chi còn có thể cao hơn.

Cuộc chiến cũng tác động đến nền kinh tế Mỹ. CBO ước tính đến quý I/2027, lạm phát tính theo chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) sẽ cao hơn 0,5 điểm phần trăm so với dự báo của cơ quan này hồi tháng 2 năm nay, trong khi PCE lõi sẽ cao hơn 0,3 điểm phần trăm.

CBO viết: “Giá của gần như mọi sản phẩm đều phản ánh chi phí vận chuyển”.

Tiêu hao lớn tên lửa đánh chặn, CBO cảnh báo “rủi ro Đài Loan”

Theo CBO, chi phí cơ hội lớn nhất của cuộc xung đột hiện nay là lượng lớn tên lửa đánh chặn dùng cho phòng thủ tên lửa đã bị tiêu hao. Kể từ tháng 6/2025, bao gồm cả hoạt động Mỹ hỗ trợ Israel chống các cuộc tấn công của Iran và chiến dịch quân sự nhằm vào Iran trong năm nay, quân đội Mỹ có thể đã sử dụng từ một nửa đến hai phần ba lượng tên lửa đánh chặn trong kho, bao gồm các hệ thống Patriot, THAAD, SM-3 và SM-6.

Báo cáo nhận định: “Ngay cả khi tăng sản lượng, việc khôi phục kho tên lửa đánh chặn của Bộ Quốc phòng có thể vẫn cần ít nhất 5 năm.”

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy việc tăng sản lượng tên lửa thường diễn ra chậm. Từ khi đặt đơn hàng mới đến khi vũ khí được bàn giao thường mất 3–5 năm. Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cũng chỉ ra rằng thời gian từ sản xuất đến bàn giao đối với một số loại đạn dược quan trọng hiện vào khoảng 25–51 tháng.

CBO đặc biệt lưu ý rằng Trung Quốc sở hữu số lượng tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình lớn hơn Iran, đồng thời có nền tảng kinh tế lớn hơn đáng kể, cho phép nước này sản xuất các loại tên lửa trên với tốc độ nhanh hơn. Do đó, nếu Mỹ và Trung Quốc xảy ra xung đột vũ trang, năng lực phòng thủ tên lửa của Mỹ có thể chịu áp lực lớn hơn.

Lầu Năm Góc bác bỏ những thông tin cho rằng Mỹ đang thiếu đạn dược. Người phát ngôn trưởng Sean Parnell nói: “Chúng tôi có mọi thứ cần thiết để tiến hành các cuộc tấn công vào thời gian và địa điểm do Tổng thống lựa chọn”.

Chiến sự Iran bộc lộ khoảng trống về năng lực sản xuất, Lầu Năm Góc đẩy nhanh mở rộng công suất

Mặt khác, những vấn đề về kho dự trữ bị bộc lộ trong cuộc chiến Iran đang thúc đẩy Mỹ đẩy nhanh quá trình khôi phục và mở rộng năng lực của ngành công nghiệp quốc phòng.

Giám đốc Chương trình Quốc phòng và An ninh Quốc gia thuộc Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Mỹ (CFR), Michael C. Horowitz, trong một báo cáo công bố cuối tháng 8 chỉ ra rằng chiến dịch Epic Fury và cuộc xung đột đang tiếp diễn với Iran đã đưa một vấn đề tồn tại từ lâu lên hàng đầu: quân đội Mỹ không có đủ vũ khí và phương tiện để đáp ứng nhu cầu răn đe cũng như tác chiến.

Giám đốc Trung tâm Công nghiệp Quốc phòng thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) Jerry McGinn cùng trợ lý nghiên cứu A.J. Dilts trong một nghiên cứu cho biết Lầu Năm Góc đang ký các thỏa thuận mua sắm đạn dược nhiều năm với quy mô chưa từng có.

Theo kế hoạch hiện nay, công suất sản xuất tên lửa đánh chặn PAC-3 MSE sẽ tăng từ khoảng 600 quả/năm lên 2.000 quả vào năm 2030; THAAD từ 96 quả lên 400 quả; tên lửa hành trình Tomahawk dự kiến tăng lên hơn 1.000 quả/năm, trong khi SM-6 sẽ vượt 500 quả/năm. Trong hai năm qua, khoảng 10.000 doanh nghiệp mới đã gia nhập thị trường công nghiệp quốc phòng Mỹ.

Từ “kết hợp cao – thấp” đến “răn đe bằng năng lực sản xuất”

Nhằm tăng cường năng lực sản xuất phục vụ khả năng sẵn sàng chiến đấu, McGinn và Dilts cho biết quân đội Mỹ đang hình thành cơ cấu “kết hợp cao – thấp”, sử dụng đồng thời các loại vũ khí chính xác công nghệ cao và vũ khí số lượng lớn, chi phí thấp.

Không quân Mỹ có kế hoạch mua gần 27.000 tên lửa hành trình giá rẻ trong 5 năm tới, với đơn giá khoảng 218.000 USD. Bộ Quốc phòng cũng dự kiến triển khai khoảng 300.000 máy bay không người lái (UAV) vào cuối năm 2027. Theo kế hoạch ngân sách hiện tại, đến năm tài khóa 2031, các loại đạn dược chính xác có đơn giá dưới 600.000 USD sẽ chiếm hơn 70% tổng số đạn dược được Lầu Năm Góc mua sắm, tăng từ khoảng 49% vào năm 2027.

Ông Horowitz cũng cho rằng ngay cả khi được đầu tư thêm nguồn lực, Mỹ vẫn không thể nhanh chóng bổ sung trong vòng hai năm các tên lửa hành trình đắt tiền, hệ thống phòng không cao cấp và những loại vũ khí truyền thống khác vốn khó sản xuất. Vì vậy, ông đề xuất mở rộng năng lực “sản xuất chính xác với quy mô lớn” (precise mass), bao gồm UAV, tên lửa và cảm biến có chi phí thấp hơn, có thể sản xuất số lượng lớn và có khả năng chịu tổn thất trên chiến trường tốt hơn, qua đó bổ trợ cho các loại vũ khí cao cấp.

Benjamin Jensen, Giám đốc Phòng thí nghiệm Tương lai và nghiên cứu viên cấp cao thuộc Chương trình Quốc phòng và An ninh của CSIS, đưa ra khuôn khổ chiến lược “răn đe bằng năng lực sản xuất” (Deterrence by Capacity).

Ông Jensen cho rằng răn đe truyền thống thường được xây dựng trên 3 yếu tố gồm “năng lực, độ tin cậy và thông tin liên lạc”, nhưng năng lực sản xuất lại là một biến số còn thiếu trong phần lớn các cuộc thảo luận về răn đe. Nền tảng công nghiệp mạnh hơn, kho dự trữ lớn hơn, tốc độ bổ sung nhanh hơn và năng lực sửa chữa có tính bền vững cao hơn đều có thể nâng cao khả năng duy trì tác chiến của quân đội Mỹ trong các cuộc xung đột kéo dài, từ đó tác động đến cách đối phương đánh giá chi phí và lợi ích của chiến tranh.

McGinn và Dilts viết trong phần kết luận báo cáo: “Trạng thái thời chiến không phải là một đích đến có thể tuyên bố đã đạt được, mà là một trạng thái cần liên tục được xây dựng, thử nghiệm và duy trì”.

Hai nhà nghiên cứu chỉ ra rằng năng lực răn đe trong tương lai sẽ ngày càng phụ thuộc vào việc Mỹ và các đồng minh có thể sản xuất, triển khai và tái bổ sung năng lực tác chiến nhanh hơn tốc độ đối phương làm tiêu hao năng lực quân sự của họ hay không.

Trần Đình/ Epoch Times
Trần Đình

Published by
Trần Đình

Recent Posts

CEO của Box Việt Nam bị truy nã với cáo buộc xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh xác định ông Hiến…

4 phút ago

California phanh phui đường dây “nhà trẻ ma” quy mô lớn, gian lận hàng chục triệu USD

Vụ án mới có nhiều điểm tương đồng với bê bối gian lận phúc lợi…

2 giờ ago

New York hạn chế học sinh dùng thiết bị điện tử, chặn YouTube tại trường công

Hôm thứ Ba (15/9), Hội đồng Thành phố New York tổ chức phiên điều trần…

2 giờ ago

Làn sóng AI khiến việc làm dành cho người mới tốt nghiệp ngành công nghệ sụt giảm mạnh

Theo báo cáo, AI có thể khiến New York mất 300.000 việc làm và 14…

2 giờ ago

Vệ tinh trinh sát Trung Quốc vỡ vụn, Mỹ thừa nhận triển khai vũ khí không gian

Một vệ tinh trinh sát của Trung Quốc được phóng vào tháng 3 năm nay,…

3 giờ ago

Mỹ cáo buộc 2 công ty Trung Quốc giúp Iran rửa tiền, tìm cách tịch thu 61 triệu USD

Ngày 14/9, Văn phòng Công tố Liên bang Khu Nam New York cáo buộc hai…

3 giờ ago