Ảnh: AI
Ngành du lịch y tế (Medical tourism) tại Việt Nam đang dịch chuyển mạnh mẽ từ mô hình tự phát sang giai đoạn xây dựng chiến lược cấp quốc gia. Mô hình này vận hành dựa trên sự phối hợp giữa hệ thống khám chữa bệnh chuyên sâu và mạng lưới lữ hành, lưu trú, nhằm tối ưu hóa giá trị gia tăng của chuỗi cung ứng dịch vụ y tế kết hợp nghỉ dưỡng phục vụ du khách quốc tế.
Cơ cấu chuyên khoa tiếp nhận người bệnh quốc tế hiện phân bố tập trung tại các lĩnh vực có mức độ chuẩn hóa kỹ thuật cao và quy trình can thiệp tối ưu.
Nha khoa phục hình và phẫu thuật miệng là phân khúc tiếp nhận lưu lượng khách kiều bào và người nước ngoài thường xuyên nhất nhờ thời gian điều trị ngắn, ít đòi hỏi lưu viện dài ngày và chi phí hợp lý.
Trong lĩnh vực điều trị chuyên sâu, hỗ trợ sinh sản (IVF) duy trì tỷ lệ tiếp nhận ổn định các cặp vợ chồng từ các quốc gia láng giềng và một số nước phát triển nhờ tỷ lệ chu kỳ thành công tiệm cận các trung tâm y tế khu vực, cùng việc ứng dụng các kỹ thuật labo tiên tiến như tiêm tinh trùng vào bào tương hay sàng lọc di truyền tiền làm tổ.
Ngoài ra, các can thiệp ít xâm lấn trong ngoại khoa tổng quát, phẫu thuật chỉnh hình thay khớp, can thiệp tim mạch và các liệu pháp y học cổ truyền kết hợp dưỡng sinh, khoáng nóng trị liệu tại các địa phương ven biển và cao nguyên cũng hình thành nên phân khúc chăm sóc sức khỏe dài ngày.
Lợi thế cạnh tranh của dịch vụ y tế Việt Nam đối với thị trường quốc tế chủ yếu xuất phát từ chênh lệch biểu giá can thiệp kỹ thuật. Chi phí các dịch vụ kỹ thuật cao tại các cơ sở y tế trong nước hiện duy trì mức thấp hơn từ 40% đến 70% so với các quốc gia phát triển và thấp hơn từ 20% đến 35% so với các trung tâm y tế truyền thống trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan hay Singapore trên cùng một chỉ định lâm sàng.
Về mặt cơ chế kinh tế y tế, việc ban hành các quy định về khung giá dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu và cơ chế phân cấp tự chủ tài chính đã tạo hành lang pháp lý cho các cơ sở y tế công lập đầu tư khu điều trị quốc tế, mua sắm trang thiết bị tiên tiến và chi trả đãi ngộ cho đội ngũ nhân lực kỹ thuật cao mà không phụ thuộc vào nguồn ngân sách công thông thường. Tuy nhiên, rào cản tài chính đối với việc mở rộng quy mô người bệnh quốc tế nằm ở cơ chế thanh toán, khi phần lớn khách hàng hiện vẫn phải chi trả tự thân do thiếu hụt các hợp đồng bảo lãnh viện phí trực tiếp với các công ty bảo hiểm sức khỏe toàn cầu.
Sự phối hợp liên ngành đã được định hình rõ nét khi “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030” (Quyết định số 147/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) xác định du lịch chăm sóc sức khỏe, y tế là một trong những dòng sản phẩm chuyên đề trọng tâm cần ưu tiên phát triển. Trên cơ sở đó, các trung tâm kinh tế – y tế lớn như TP.HCM, Hà Nội và Quảng Ninh đã chủ động ban hành các kế hoạch phối hợp giữa cơ quan y tế và du lịch nhằm xây dựng chuỗi dịch vụ khép kín từ vận chuyển, lưu trú, phiên dịch y tế đến tư vấn tiền phẫu và theo dõi hậu phẫu.
Khung khổ pháp lý chung của ngành cũng có bước hoàn thiện khi Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 (hiệu lực từ năm 2024) quy định minh bạch hơn việc đánh giá chất lượng bệnh viện độc lập, công nhận chứng chỉ hành nghề y tế quốc tế và quy chuẩn hóa điều kiện điều trị cho người bệnh nước ngoài.
Cựu Bộ trưởng Lao động Mỹ Robert Reich kêu gọi Đảng Dân chủ chuẩn bị…
Theo một số tờ báo dòng chính phương Tây, các cuộc thăm dò nội bộ…
Quỹ Jane Fonda Climate PAC của nữ diễn viên Jane Fonda ghi nhận khoảng 8…
Mỗi năm, Việt Nam phát sinh khoảng 5,64 triệu tấn chất thải nhựa nhưng chỉ…
Hà Nội yêu cầu sở, ngành bảo đảm đạt mục tiêu cắt giảm 50% thủ…
TP.HCM kêu gọi ít nhất 80% công chức, viên chức đi xe buýt, metro tối…