Sức Khỏe

Vì sao nhiều hợp chất kháng u tự nhiên không được nghiên cứu đầy đủ?

Hàng loạt hợp chất tự nhiên thể hiện tiềm năng kháng u ấn tượng trong phòng thí nghiệm nhưng gần như không bao giờ được bước vào thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn. Rào cản không chỉ nằm ở hiệu ứng sinh học, mà do các chất tự nhiên không thể đăng ký bằng sáng chế độc quyền để bảo đảm khả năng thu hồi vốn cho chi phí nghiên cứu hàng tỷ USD. 

(Ảnh minh họa: Palto/Shutterstock)

Chi phí phát triển thuốc và bằng sáng chế tự nhiên

Căn nguyên đầu tiên đẩy các hoạt chất tự nhiên vào ngõ cụt nằm ở cấu trúc của luật sở hữu trí tuệ toàn cầu. Theo phán quyết mang tính bản lề của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ cũng như công ước quốc tế, các thực thể do tự nhiên tạo ra không thể được cấp bằng sáng chế độc quyền thành phần vật chất.

Một nhà khoa học hay một bác sĩ khi phát hiện hoạt tính kháng u của một phân tử thảo dược, tối đa chỉ có thể đăng ký bằng sáng chế cho phương pháp điều trị hoặc công thức bào chế. Đây là những lớp bảo hộ lỏng lẻo, rất dễ bị các đối thủ cạnh tranh né tránh bằng cách thay đổi dung môi, biến đổi liều lượng hoặc bào chế dưới dạng thực phẩm chức năng giá rẻ bán tràn lan ngoài thị trường.

Ảnh TrithucVN.

Mặt khác, để một phân tử tiềm năng vượt qua đầy đủ các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng từ pha I đến pha III nhằm đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của các cơ quan quản lý dược phẩm, nguồn kinh phí tiêu tốn thường dao động từ 1-2 tỷ đô la. Số tiền khổng lồ này đòi hỏi sản phẩm sau khi ra mắt phải nắm giữ độc quyền thương mại từ 10-15 năm để bán với mức giá đủ cao nhằm thu hồi vốn đầu tư và bù đắp rủi ro cho các thử nghiệm thất bại khác.

Một khi 1 hoạt chất có nguồn gốc tự nhiên không thể được bảo hộ độc quyền tuyệt đối, không có bất kỳ tập đoàn dược phẩm đa quốc gia hay quỹ đầu tư mạo hiểm nào chấp nhận rót vốn, biến tiềm năng tiền lâm sàng của chúng thành một khoảng trống vĩnh viễn trên giường bệnh.

Áp lực từ thể chế của các viện nghiên cứu

Sự bế tắc này không chỉ dừng lại ở bài toán của các hãng dược, mà còn thẩm thấu trực tiếp vào cấu trúc vận hành của các bệnh viện và viện nghiên cứu học thuật. Khi một nhà lâm sàng phát hiện ra hoạt chất tiềm năng và muốn triển khai nghiên cứu can thiệp trên người bệnh, họ thường vấp phải sự ngăn cấm quyết liệt từ chính hội đồng chuyên môn và ban giám đốc của cơ sở mình đang công tác.

Động thái này xuất phát từ việc bảo vệ an toàn thể chế trước các rủi ro pháp lý. Một bệnh viện không thể chấp nhận rủi ro bị người bệnh khởi kiện tắc trách y khoa khi cho phép áp dụng các can thiệp chưa qua kiểm duyệt chính quy, đặc biệt là khi can thiệp đó đi chệch khỏi các phác đồ chuẩn vốn đã được bảo hiểm y tế chi trả và pháp luật bảo vệ.

Bên cạnh áp lực pháp lý, xung đột tài chính ngầm giữa các dòng ngân sách nghiên cứu cũng là yếu tố mang tính quyết định. Các trung tâm ung bướu lớn duy trì hoạt động và nâng cấp trang thiết bị phần lớn nhờ vào nguồn kinh phí tài trợ gián tiếp từ các thử nghiệm thuốc mới do các tập đoàn dược phẩm lớn ủy thác.

Một đề tài nghiên cứu do bác sĩ tự khởi xướng trên các hoạt chất rẻ tiền sẽ cạnh tranh trực tiếp nguồn lực về giường bệnh, labo xét nghiệm và nhân lực điều dưỡng nhưng lại hoàn toàn không mang lại nguồn thu quản lý cho đơn vị. Chưa kể, theo cơ chế ràng buộc hợp đồng sở hữu trí tuệ, nếu bộ phận chuyển giao công nghệ của viện đánh giá phát hiện của bác sĩ không có triển vọng thương mại hóa sinh lời, họ sẽ đóng băng đề tài và cấm vị bác sĩ đó mang dữ liệu ra ngoài phát triển độc lập.

Những phát hiện đã bị chôn vùi

Lịch sử y học từng chứng kiến những vụ việc kinh điển về việc các phát kiến khoa học bị hệ thống thể chế phong tỏa chỉ vì xung đột lợi ích. Vụ bê bối xảy ra tại Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering (MSKCC) ở New York vào thập niên 1970 là một minh chứng.

Tiến sĩ Kanematsu Sugiura, một trong những nhà nghiên cứu bệnh học ung thư kỳ cựu và danh giá nhất của trung tâm, đã thực hiện hàng loạt thử nghiệm mù trên chuột với Amygdalin (thường gọi là Laetrile, một hợp chất chiết xuất từ nhân hạt mơ). Kết quả thực nghiệm lặp lại cho thấy chất này làm giảm đáng kể sự di căn của ung thư vú và cải thiện thể trạng của chuột thí nghiệm so với nhóm đối chứng.

Tuy nhiên, kết quả của Sugiura lại đặt ban lãnh đạo Sloan Kettering vào thế tiến thoái lưỡng nan khi trung tâm đang là mũi nhọn tiếp nhận các khoản tài trợ khổng lồ để phát triển các phác đồ hóa trị độc quyền. Nhận thấy Amygdalin là một hoạt chất tự nhiên không thể bảo hộ bản quyền và có nguy cơ đe dọa trực tiếp đến mô hình kinh doanh hóa trị liệu đang bùng nổ, ban lãnh đạo đã gây sức ép buộc Sugiura rút lại kết luận và sau đó tổ chức họp báo công bố chất này hoàn toàn vô giá trị.

Sự việc chỉ vỡ lở khi Ralph Moss, trợ lý giám đốc truyền thông của chính Sloan Kettering, vì bảo vệ tính toàn vẹn của khoa học đã bí mật tuồn tài liệu gốc của Sugiura ra ngoài cho báo giới, dẫn đến việc ông bị sa thải ngay ngày hôm sau và toàn bộ hướng nghiên cứu này tại trung tâm bị đóng băng vĩnh viễn.

Bi kịch đó tiếp tục lặp lại dưới nhiều hình thức trong kỷ nguyên cận đại. Điển hình là trường hợp phân tử Dichloroacetate (DCA) được nhóm nghiên cứu của Giáo sư Evangelos Michelakis tại Đại học Alberta công bố năm 2007 về khả năng đảo ngược hiệu ứng Warburg và tái kích hoạt quá trình tự chết theo chương trình của tế bào ung thư.

Dù cơ chế tác động lên ty thể vô cùng hứa hẹn, nhưng vì DCA là một hóa chất generic không thể đăng ký bằng sáng chế, đề tài nhanh chóng rơi vào cảnh thiếu kinh phí trầm trọng và các bác sĩ lâm sàng cố gắng kê đơn ngoài nhãn thuốc đều phải đối mặt với lệnh cảnh cáo, thậm chí đe dọa tước chứng chỉ hành nghề.

Tương tự, các nghiên cứu tiên phong về vitamin C liều cao đường tĩnh mạch của các nhà khoa học độc lập từng bị gạt ra khỏi các bệnh viện công suốt nhiều thập kỷ, chỉ vì nó quá rẻ để có thể trở thành một cỗ máy kiếm tiền cho ngành công nghiệp điều trị.

(Ảnh: Stokkete/ Shutterstock)

Thực trạng này phơi bày một sự thật trần trụi: sự phát triển của y học hiện đại không đơn thuần là hành trình vị nhân sinh của khoa học thực nghiệm, mà là sự vận hành của một chu trình kinh tế khép kín. Các phác đồ điều trị chuẩn mực chỉ có thể ra đời khi có sự hậu thuẫn của nguồn vốn khổng lồ, và nguồn vốn đó chỉ xuất hiện khi quyền lợi độc quyền được đảm bảo tuyệt đối.

Chừng nào ranh giới giữa bảo hộ sáng chế và trách nhiệm y tế công cộng chưa được tái định hình, những hoạt chất tự nhiên và các phân tử giá rẻ dẫu giàu tiềm năng sinh học đến đâu vẫn sẽ tiếp tục bị chôn vùi trong các phòng thí nghiệm, để lại một khoảng trống đáng tiếc cho những cơ hội điều trị của người bệnh.

Thanh Long t/h

Thanh Long

Published by
Thanh Long

Recent Posts

Đài Loan lập cơ chế chống can thiệp bầu cử, cảnh báo đàn áp xuyên quốc gia

Ông Trác Vinh Thái cho biết Đài Loan đã lập cơ chế liên ngành để…

19 phút ago

Không thể lấy sự tự nguyện của trẻ em làm căn cứ pháp lý quyết định hiến tạng

Tại cuộc họp báo cung cấp thông tin về dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép…

41 phút ago

Pháp: Đằng sau phong tỏa trường học, bạo loạn “Áo vàng” là mạng lưới cực tả lâu năm

Một thủ lĩnh Áo vàng năm 2018 nói phong trào đã bị cực tả “chiếm…

51 phút ago

Thượng đỉnh sắp diễn ra, EU bất đồng về danh xưng “thành viên liên kết” cho Canada

EU và Canada đang bàn tuyên bố chung trước thượng đỉnh Montreal, nhưng nội bộ…

55 phút ago

Vành đai và Con đường thành ngòi nổ ra sao, khiến Serbia đổi chính quyền

Kết quả sơ bộ cho thấy liên danh Danh sách Sinh viên giành hơn 52%…

1 giờ ago

Chính quyền Trump nói “chưa có lập trường chính thức” về việc ông Orbán làm Tổng thư ký LHQ

Chính quyền Trump nói chưa có lập trường chính thức về việc ông Orbán làm…

1 giờ ago