Trụ sở Tổ chức Y tế Thế giới - WHO (Ảnh: Shutterstock)
Ngày 22/1, Mỹ chính thức rút khỏi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký sắc lệnh rút lui từ một năm trước và gửi thông báo cho WHO theo quy định báo trước 12 tháng trong thỏa thuận đặc biệt giữa Mỹ và tổ chức này. Quyết định ngoại giao quan trọng này đánh dấu một sự thay đổi cơ bản trong mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa Mỹ và WHO, đồng thời thu hút sự chú ý rộng rãi trong cộng đồng quốc tế.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết WHO “không kiểm soát, quản lý và chia sẻ thông tin một cách hiệu quả”, khiến Mỹ thiệt hại hàng nghìn tỉ đô la, nên Tổng thống đã sử dụng thẩm quyền để đình chỉ mọi khoản tài chính, hỗ trợ hay nguồn lực của chính phủ Mỹ chuyển cho WHO trong tương lai. Người phát ngôn nói: “Người dân Mỹ đã trả quá nhiều cho tổ chức này, tổn thất kinh tế mà chúng tôi gánh chịu vượt xa mọi khoản nghĩa vụ tài chính mang tính đóng góp ban đầu cho WHO.”
Theo thỏa thuận gia nhập năm 1948, nếu muốn rút, Mỹ phải thông báo trước một năm và thanh toán các khoản nợ còn tồn đọng. Số nợ chưa thanh toán của Mỹ trong niên kỳ 2024–2025 được WHO ước tính khoảng 260 triệu USD, nhưng phía Mỹ tuyên bố sẽ không chi trả trước khi rút khỏi tổ chức. Trong một tuyên bố trả lời Đài phát thanh NPR, Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết: “Mỹ sẽ không thanh toán bất kỳ khoản nào cho WHO trước khi rút khỏi tổ chức. Cái giá mà người nộp thuế Mỹ và nền kinh tế Mỹ đã phải trả do sự thất bại của WHO trong đại dịch COVID-19, cũng như từ đó đến nay, đã là quá lớn rồi.”
Đây là lần thứ hai Tổng thống Trump đưa Mỹ ra khỏi WHO. Trong nhiệm kỳ đầu, vào cao điểm dịch năm 2020, ông từng khởi động quy trình rút lui, nhưng Tổng thống Joe Biden khi nhậm chức năm 2021 đã đảo ngược quyết định đó ngay trong ngày đầu tiên làm việc.
Trong nhiều năm qua, Mỹ là một trong những nước tài trợ lớn nhất của WHO, thông qua cả khoản hội phí bắt buộc (assessed contributions) và đóng góp tự nguyện. Dữ liệu tài chính cho thấy vai trò then chốt của Mỹ trong ngân sách WHO:
Từ trước đến nay, Mỹ là nhà tài trợ đơn lẻ lớn nhất của WHO; khoảng 18% ngân sách của tổ chức này đến từ Washington nếu tính cả phần đóng góp bắt buộc và tự nguyện. Việc Mỹ rút lui đã tạo ra một cuộc khủng hoảng ngân sách, buộc WHO phải cắt giảm quy mô ban lãnh đạo, thu hẹp hoạt động và giảm đáng kể tổng chi ngân sách, đồng thời dự kiến sa thải khoảng một phần tư nhân viên vào giữa năm nay. WHO cho biết trong năm vừa qua họ vẫn tiếp tục hợp tác và chia sẻ thông tin với Mỹ, nhưng hình thức hợp tác trong tương lai hiện chưa rõ ràng.
Tổng Giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus tuần trước phát biểu rằng: “Tôi hy vọng Mỹ có thể xem xét lại quyết định và quay trở lại. Đây không phải là câu chuyện về tiền bạc. Tiền có thể điều chỉnh được. Vấn đề là hợp tác.”
Ông nói, nếu Mỹ và các nước khác không phối hợp với nhau để đối phó những dịch bệnh dễ dàng vượt qua biên giới, thì an ninh y tế của cả đôi bên đều sẽ suy giảm; ông gọi đây là kịch bản “hai bên cùng thua”, và khẳng định việc Mỹ rời WHO là “một tổn thất đối với nước Mỹ và cả phần còn lại của thế giới”.
WHO hiện có 194 quốc gia thành viên. Về mặt pháp lý, việc Mỹ rút khỏi WHO cũng đặt ra nhiều tranh luận.
Theo Hiến chương của WHO, về mặt pháp lý các nước này đều không có quyền rút ra, vì văn kiện sáng lập không có điều khoản cho phép rút lui. Ông Steven Solomon, cố vấn pháp lý trưởng của WHO, giải thích rằng đây “không phải là một sự sơ suất, mà là một lựa chọn có chủ ý”: những người soạn thảo Hiến chương năm 1946 tin rằng tính phổ quát là điều cốt yếu cho an ninh y tế toàn cầu, nên đã noi theo Hiến chương Liên Hợp Quốc và cố ý không đưa vào điều khoản rút lui.
Tuy vậy, “quy tắc không được rút” này có một ngoại lệ: khi gia nhập năm 1948, Mỹ đã đạt được một thỏa thuận đặc biệt với Đại hội Y tế Thế giới, dành cho riêng mình quyền được rút khỏi WHO với hai điều kiện – phải báo trước 1 năm và phải thanh toán đầy đủ nghĩa vụ tài chính trong năm ngân sách hiện hành. Ông Solomon nói việc đánh giá Mỹ có đáp ứng điều kiện thứ hai hay không sẽ do 193 quốc gia thành viên còn lại thảo luận; vấn đề này dự kiến được đưa ra bàn bạc tại cuộc họp Ban chấp hành WHO vào cuối tháng Hai và tiếp tục được nêu ở Đại hội Y tế Thế giới vào tháng Năm.
Chính quyền Mỹ cáo buộc WHO trong giai đoạn đầu của đại dịch COVID-19 đã dựa quá nhiều vào dữ liệu và thông tin do chính quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc cung cấp, mà không tiến hành đủ các bước kiểm chứng độc lập. Đặc biệt là việc lặp lại thông điệp của Bắc Kinh hồi đầu tháng 1/2020 rằng “chưa thấy bằng chứng rõ ràng về lây truyền từ người sang người”. Washington cho rằng việc WHO tiếp tục phát đi thông điệp này khi chưa đủ bằng chứng đã khiến cộng đồng quốc tế đánh giá thấp rủi ro.
Mỹ cũng chỉ trích WHO phản ứng quá chậm: phải đến ngày 30/1/2020 WHO mới tuyên bố COVID-19 là một “tình trạng khẩn cấp y tế công cộng gây quan ngại quốc tế” (PHEIC), và tới ngày 11/3/2020 mới chính thức gọi đây là “đại dịch toàn cầu”. Theo phía Mỹ, các mốc thời gian này khiến cảnh báo đối với thế giới bị chậm trễ.
Cuối tháng 1/2020, Mỹ áp đặt hạn chế đi lại đối với người đến từ Trung Quốc trong khi WHO nói không khuyến nghị áp dụng các lệnh cấm đi lại quy mô lớn, điều mà Washington cho là đã làm suy yếu tính chính đáng của các biện pháp kiểm soát biên giới.
Trí Đạt (t/h)
Nền kinh tế Mỹ ghi nhận mức tăng trưởng GDP 4,4%, vượt dự báo, chủ…
Ông ta trực tiếp liên hệ với các thành viên thân Nga trong Nghị viện…
Tổng thống Mỹ Donald Trump đã kiện JPMorgan Chase và CEO của ngân hàng này,…
Hoa Kỳ cam kết đảm bảo việc phi quân sự hóa Gaza và "tái thiết…
Ý tưởng thành lập Ủy ban Hòa bình ban đầu được Nhà Trắng đề xuất…
Hôm 22/1, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã có cuộc gặp đáng chú ý với…