Khu vực biên giới Nepal và Tây Tạng hôm thứ Tư (26/8/2026) bất ngờ xảy ra lũ lụt và sạt lở đất, cảnh tượng vô cùng kinh hoàng. (Ảnh chụp màn hình video)
Chín ngày sau vụ lũ bùn đá tại cửa khẩu Cát Long (Gyirong), Tây Tạng, chính quyền Trung Quốc cho biết khu vực Tây Tạng ghi nhận 31 người thiệt mạng và 531 người mất tích. Danh sách đầy đủ những người tử vong và mất tích đến nay vẫn chưa được công bố.
Thảm họa xảy ra sáng 26/8, khi một khối băng đá lớn ở vùng núi cao phía Nepal sụp đổ, cuốn theo băng, đá, bùn đất tràn nhanh dọc các khe núi rồi phát triển thành dòng lũ bùn đá phá hủy cửa khẩu Cát Long.
Theo Associated Press, ngoài một số phóng viên của truyền thông nhà nước của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), các phóng viên khác không được tiếp cận vùng thảm họa ở Tây Tạng. Tin tức từ truyền thông nhà nước chủ yếu tập trung vào chỉ đạo của lãnh đạo và việc bố trí cứu hộ, trong khi rất ít thông tin về những người thiệt mạng, mất tích hay thân nhân của họ được đề cập.
Trái lại, Nepal liên tục cập nhật danh sách người chết và mất tích, đồng thời cho phép báo chí vào khu vực thiên tai. Theo số liệu được nêu trong bài, Nepal ghi nhận 1.294 người tử vong, 5.053 người mất tích và 13.095 người được cứu.
Luật gia người Úc gốc Hoa Viên Hồng Băng nhận định chính quyền Trung Quốc, khi xử lý các thảm họa lớn, ưu tiên lợi ích duy trì quyền lực hơn việc bảo vệ sinh mạng và tài sản, nên có xu hướng che giấu thiệt hại về người và tài sản. Đây là quan điểm cá nhân của ông Viên.
Ông Viên Hồng Băng cho rằng ĐCSTQ áp dụng thái độ mang tính thực dân và bóc lột đối với tài nguyên thiên nhiên của Tây Tạng, chú trọng lợi ích kinh tế và mục tiêu chính trị trong ngắn hạn, thay vì sự phát triển lâu dài và bảo vệ môi trường sinh thái tại khu vực này.
Ông nói rằng sau khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền, ĐCSTQ tìm cách biến nguồn nước của Tây Tạng thành một công cụ chiến lược nhằm gây sức ép lên Ấn Độ và Bangladesh, thúc đẩy xây dựng các đập lớn ở thượng nguồn những con sông chảy về Nam Á, trong đó có sông Yarlung Tsangpo (Yarlung Zangbo).
Ông cho rằng việc ĐCSTQ khai thác tài nguyên nước ở Tây Tạng không xuất phát từ mục tiêu phát triển bền vững tại địa phương, mà phục vụ cho các mục tiêu chính trị và chiến lược địa chính trị của chính quyền này.
Ông cũng cho biết việc khai thác quy mô lớn các nguồn tài nguyên và xây dựng các công trình thủy lợi đang phá hủy môi trường sinh thái vốn có của Tây Tạng. Đồng thời, biến đổi khí hậu, băng tan và đường băng tuyết dịch chuyển lên cao cũng đang làm gia tăng các rủi ro sinh thái và địa chất tại khu vực cao nguyên.
Trước năm 1985, Tây Tạng về cơ bản chưa có hoạt động xây dựng hồ chứa quy mô lớn. Chuyên gia thủy lợi Vương Duy Lạc, hiện sống tại Đức, gần đây cho biết trong chương trình “Thời gian Phương Phi” trên YouTube rằng khi đó, ĐCSTQ lấy danh nghĩa kỷ niệm 20 năm thành lập Khu tự trị Tây Tạng để thúc đẩy xây dựng thủy điện Dương Hồ (Yangzhuoyong), nhưng vấp phải sự phản đối của Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 10. Sau khi Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 10 qua đời, dự án vẫn tiếp tục được triển khai.
Ông Vương Duy Lạc cho biết trong những năm gần đây, Tây Tạng đã có khoảng 150 hồ chứa. Ngoài mục đích phát điện, một số hồ chứa còn được sử dụng để tưới tiêu nông nghiệp. Ông cho rằng một trong những mục đích của việc thúc đẩy tưới tiêu nông nghiệp là khiến người Tây Tạng vốn làm nghề du mục chuyển sang định cư, qua đó tạo điều kiện để chính quyền thực hiện quản lý hành chính và dân cư.
Ông nói Tây Tạng có độ cao lớn, địa hình dốc và nằm trong khu vực có hoạt động động đất mạnh cùng nhiều đới đứt gãy. Một số hồ băng tự nhiên đã được cải tạo thành hồ chứa. Một số công trình từng nhiều lần được đại tu và gia cố, cho thấy môi trường cao nguyên đặt ra những thách thức rất lớn đối với an toàn của các công trình thủy lợi.
Ông cho rằng do các hẻm núi cao có độ chênh lệch địa hình rất lớn, nếu hồ chứa hoặc hồ bị chặn bởi vật cản tự nhiên bị vỡ, sẽ hình thành những dòng lũ và bùn đá trượt xuống với tốc độ cao và sức tàn phá rất lớn.
Ông nhận định, xét trên quy mô tổng thể, những thảm họa tương tự có thể được kích hoạt bởi các yếu tố tự nhiên như mưa lớn hoặc sạt lở băng; nhưng xét ở cấp độ địa phương, việc tiến hành xây dựng quy mô lớn một cách cưỡng ép tại những khu vực có nhiều đứt gãy địa chất mà thiếu đánh giá địa chất đầy đủ, đồng thời xây dựng các cửa khẩu và các cơ sở khác dọc theo các tuyến sông có nguy cơ cao, là hành vi phát triển quá mức và coi thường quy luật tự nhiên.
Vì vậy, ông cho rằng những thảm họa như vậy trên bề mặt có thể là thiên tai, nhưng thực tế có yếu tố nhân họa.
Về việc ĐCSTQ thúc đẩy xây dựng hồ chứa tại Tây Tạng vào những năm 1980, ông Viên Hồng Băng cho biết Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 10 từng kiên quyết phản đối.
Ông Viên nói rằng xuất phát từ niềm tin của Phật giáo Tây Tạng, Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 10 cho rằng việc xây dựng hồ chứa sẽ phá vỡ sự hòa bình và yên tĩnh về mặt tôn giáo giữa các ngọn núi thiêng và hồ thiêng; đồng thời, ông cũng lo ngại việc xây dựng hồ chứa sẽ gây tổn hại đến môi trường tự nhiên của Tây Tạng.
Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 10 đột ngột qua đời tại Shigatse ngày 28/1/1989. Chính quyền Trung Quốc khi đó tuyên bố ông bị đau tim đột ngột và qua đời do liên tục làm việc và kiệt sức.
Viên Hồng Băng đặt nghi vấn đối với cách giải thích này. Ông cho biết dựa trên những thông tin mà mình nắm được, trong tác phẩm “Sát Phật – Sự thật về việc Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 10 gặp nạn”, ông cáo buộc Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 10 không qua đời tự nhiên mà bị ám sát vì lý do chính trị.
Ông Viên cho rằng nguyên nhân chủ yếu khiến ĐCSTQ hành động chống lại Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 10 không phải vì ông phản đối việc xây dựng hồ chứa, mà vì ông mong muốn Đức Đạt Lai Lạt Ma trở về Tây Tạng và cùng thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động tôn giáo tại Tây Tạng. Quan điểm chính trị này không được chính quyền Đặng Tiểu Bình khi đó chấp nhận.
Ông nói thêm rằng Đặng Tiểu Bình, khi đó là Chủ tịch Quân ủy Trung ương ĐCSTQ, cùng Trần Vân, khi đó là Chủ nhiệm Ủy ban Cố vấn Trung ương ĐCSTQ, và những người khác đã dựa trên điều này để đưa ra quyết định “loại bỏ” Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 10. Hồ Cẩm Đào, khi đó là Bí thư Khu ủy Tây Tạng, được cho là người trực tiếp thực hiện; Hồ Xuân Hoa, khi đó là Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Khu tự trị Tây Tạng, tham gia hỗ trợ. Tuy nhiên, những cáo buộc trên hiện chưa thể được các nguồn tài liệu độc lập xác nhận.
Vài ngày trước khi qua đời, Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 10 từng công khai chỉ trích chính sách quản lý Tây Tạng của ĐCSTQ. Theo Đài Á Châu Tự Do dẫn lại các báo cáo chính thức của Trung Quốc vào thời điểm đó, Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 10 cho rằng sau 30 năm ĐCSTQ cai trị Tây Tạng, cái giá mà Tây Tạng phải trả lớn hơn những lợi ích mà sự phát triển mang lại.
Thung lũng nơi có cửa khẩu Gyirong không phải lần đầu tiên xảy ra thảm họa nghiêm trọng. Tháng 7/2025, một vụ vỡ hồ băng gây lũ lụt, cuốn trôi cầu Hữu nghị Trung Quốc – Nepal, khiến nhiều người mất tích. Giao thông và hoạt động vận chuyển hàng hóa tại cửa khẩu từng bị gián đoạn, mãi đến tháng 1 năm nay mới khôi phục hoạt động thông quan.
Sau đó, các nhà nghiên cứu của Đại học Công nghệ Thành Đô thông qua phân tích viễn thám phát hiện lưu vực phía thượng nguồn cầu Hữu nghị có 55 hồ băng, với tổng diện tích khoảng 3,39 km². Khi đó, các nhà nghiên cứu cảnh báo cần lưu ý khả năng một lần nữa xảy ra lũ do hồ băng vỡ, tăng cường cảnh báo lũ ở khu vực thượng nguồn và tiến hành đánh giá rủi ro chi tiết hơn đối với các hồ băng trong lưu vực.
Ông Viên Hồng Băng cho rằng mặc dù các cơ quan nghiên cứu khoa học đã đưa những nguy cơ liên quan vào các báo cáo nghiên cứu, nhưng hệ thống quan liêu của ĐCSTQ vận hành trì trệ, công tác quản trị hành chính xuất hiện sự đứt gãy và cứng nhắc, khiến những thông tin rủi ro đã có không được xử lý kịp thời.
Ông cho rằng việc ông Tập Cận Bình yêu cầu các quan chức phải tuyệt đối trung thành với mình, đồng thời nhiều lần phát động các chiến dịch “đại thanh trừng, đại chấn chỉnh”, đã khiến giới quan chức ĐCSTQ phổ biến tình trạng “nằm im, mặc kệ, bê trễ công vụ”. Trước những cuộc khủng hoảng xảy ra tại Nepal và các quốc gia khác, các quan chức càng mang tâm lý “thêm một việc chẳng bằng bớt một việc”, thậm chí làm ngơ trước những nguy hiểm.
Ông Viên Hồng Băng cho rằng ĐCSTQ không thực sự có sự quan tâm mang tính nhân đạo cũng như ý thức về nhân quyền, mà điều họ quan tâm chỉ là bảo vệ lợi ích chính trị của chế độ độc đảng.
Ông ví ĐCSTQ như một “tập đoàn mafia chính trị”. Ông nói: “Trong bất kỳ thảm họa lớn hay biến động lớn nào, điều đầu tiên mà chế độ chuyên chế của ĐCSTQ muốn làm là thông qua việc tạo ra những lời dối trá cấp quốc gia để tô vẽ cảnh thái bình, che đậy tội ác.”
Theo Từ Diệc Dương, Lạc Á / Epoch Times
Xem thêm:
Ngày 16/6, một trận động đất 6,3 độ xảy ra cách tâm chấn của trận…
Do ảnh hưởng của bão Saudel, nhiều khu vực miền Nam Trung Quốc những ngày…
3 người mới tập leo núi dựa vào những lời khuyên về tuyến đường và…
Hôm thứ Năm (3/9), OpenAI ra mắt mô hình thế hệ mới GPT-6 Astra.
Trong trận lũ ở Nepal, một quản lý người Trung Quốc yêu cầu mọi người…
Trí tuệ nhân tạo đang thay đổi việc học một cách toàn diện. Làm thế…