Đình làng Vĩnh Kiều. (Ảnh: Facebook Vĩnh Kiều quê tôi)
Kinh Bắc là vùng đất nổi tiếng nhất về khoa bảng thời xưa với “Tứ gia vọng tộc”, trong đó có dòng họ Nguyễn làng Vĩnh Kiều. Hơn 300 năm kể từ năm 1529 đến cuối thế kỷ 19, dòng họ này đã có 100 tiến sĩ, cử nhân và tú tài.
Sách “Kinh Bắc phong thổ ký, diễn quốc sự” có mô tả về làng Vĩnh Kiều như sau:
Vĩnh Kiều ấy bảng vàng rỡ rỡ
Mười hai tên, ngựa ngựa, xe xe.
Dòng họ Nguyễn ở đây có tổng cộng 10 người đỗ đại khoa, 2 người giữ chức “Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân”, tổng cộng chính là 12 người có chức vị cao nhất, làm rạng rỡ dòng họ.
Người đỗ đầu tiên cho họ Nguyễn là Nguyễn Văn Huy. Thuở thiếu thời ông gia cảnh khó khăn, phải đi làm con nuôi nơi xa, sau đó thì trở về nguyên quán. Dù khó khăn nhưng ông vẫn siêng năng học chữ Thánh Hiền.
Khoa thi năm 1529, Nguyễn Văn Huy dự thi và đỗ cao thứ 2. Do khoa thi này không lấy Trạng nguyên nên ông đỗ Thám hoa. Ông được xem là cụ tổ của những vị đại khoa họ Nguyễn sau này. Ba người con của ông là Nguyễn Trọng Quýnh, Nguyễn Đạt Thiện và Nguyễn Hiển Tích đều đỗ tiến sỹ.
Nguyễn Trọng Quýnh sinh năm 1527, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân khi mới 21 tuổi. Ông làm quan đến Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, chức Thượng thư bộ Lễ, Tri Chiêu văn quán, kiêm Tú lâm cục, Chính tự khanh thượng chế,
Nguyễn Đạt Thiện đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân đệ nhất danh, làm quan đến chức Binh khoa đô cấp sự trung.
Nguyễn Hiển Tích sinh năm 1524, học giỏi và đỗ kỳ thi Hương từ rất sớm. Tưởng chừng sẽ sớm đỗ đạt công danh, nhưng sau đó ông lại sinh ra rượu chè be bét. Tuy vậy ông vẫn thi đỗ một cách may mắn dù chẳng chịu học hành. Câu chuyện thi đỗ này được ghi chép trong “Công dư tiệp ký”.
Chuyện chép rằng do gia đình nhiều người đỗ đạt làm quan và có công lao với Triều đình, lại đã đỗ thi Hương nên Hiển Tích được làm Tùy hiệu ở Hải Dương. Ông thường tụ tập bạn bè ra sông Nhị chè chén.
Một lần ông xuống bến sông tắm thì có một chiếc bè của ai trôi dần đến. Thấy trên bè có một quyển sách, ông lấy xem thì thấy có một bài phú rất hay, bèn tâm đắc ngâm đi ngâm lại mãi đến thuộc lòng.
Dù lười biếng chẳng chịu học, nhưng đến khoa thi năm 1565, Nguyễn Hiển Tích bị gia đình giục nên ông cũng đi thi. Vào trường nhất kỳ thi Hội, nhờ thiên phú và bạn bè giúp cho một ít, ông vượt qua được.
Vào đến trườg nhị, ông mang theo một hồ rượu, trong khi chờ phát đề thì mang ra uống, vì thế mà bài chưa làm đã say. Ông bèn nằm xuống võng đánh một giấc, mãi đến lúc trời có giống tố sắp mưa, sấm sét đánh mới khiến ông tỉnh lại. Nhìn quanh thấy có mấy tờ nháp của ai đó bị gió thổi bay đến, ông nhặt lên đọc và thấy dùng được, bèn chép vào bài thi. Kết trường nhị ông đỗ cao, được hạng ưu.
Đến trường tam, ông lại may mắn sử dụng bài phú đã thuộc được trên sông, nhờ thế mà vượt qua được.
Trường tứ là khó nhất, mà ông bỏ học đã lâu, suốt ngày rượu chè nên chỉ viết qua loa một chút rồi chẳng nhớ ra gì để viết tiếp. Ngồi không chẳng có gì làm cũng buồn, ông chợt nghĩ đến chuyện Lưu Hầu (Trương Lương – một vị quân sư thời Hán).
Thời bấy giờ có bài phú về Lưu Hầu bằng chữ Nôm. Hiển Tích thích chí, bèn sửa lại bằng quốc âm để ngâm nga cho đỡ buồn, rồi chép bài phú Lưu Hầu bằng quốc âm vào giấy, sau đó thì nộp cho quan trường.
Cuốn “Công dư tiệp ký” ghi chép lại rằng:
“… giám khảo cũng có người thích thơ phú quốc âm, lướt qua bài phú của ông, thấy lời lẽ tân kỳ, bèn cầm bút khuyên lấy khuyên để những câu hay, xong, nói với các khảo quan khác rằng:
Quyển này ta không nên giữ lại mà hãy trình cho quan phúc khảo để tặng cho các vị ấy một trận cười.
Quả nhiên, khi nhận được quyển thi ấy, các vị phúc khảo ai cũng ôm bụng mà cười mãi. Các vị giám sát phía ngoài thì cứ tưởng ở trong có chuyện cãi nhau, tính chạy ngay vào để còn can thiệp, nhưng đến khi rõ chuyện cũng không sao nhịn nổi cười. Vậy là kỳ làm bài thứ tư, ông vì làm lạc đề nên phải chịu hỏng.
Nhưng, theo lệ thường, hễ chấm thi xong, khảo quan phải chọn những quyển trúng cách (tức đạt yêu cầu trở lên) đưa về kinh đô để xét lại. Hoàng Đế thấy đỗ ít quá, bèn hạ lệnh lấy đỗ thêm. Trung quan (người mang lệnh của Hoàng Đế) ra trường thi, các quan đều nói:
Văn bài kỳ này kém quá, cho nên, ngoài mấy chục quyển trúng cách, không còn quyển nào có thể lấy thêm.
Trung quan nhất định không nghe. Thế rồi chẳng biết vô tình hay hữu ý, có vị khảo quan nói rằng: “Hiện đây chỉ có quyển Lưu Hầu phú, ngoài ra chẳng còn quyển nào khá nữa”.
Trung quan nghe vậy liền dâng sớ về triều. Hoàng Đế xem qua thấy trong tờ sớ có hai chữ Lưu Hầu, liền cầm bút phê: “Lưu Hầu bất thủ, cánh thủ hà nhân ?” (Lưu Hầu không lấy đỗ thì còn lấy ai đỗ nữa). Phê xong, Hoàng Đế truyền lệnh đưa quyển thi của Nguyễn Hiển Tích về kinh. Khi xem quyển, Hoàng Đế mới biết là mình lầm, nhưng sự đã lỡ rồi, đành thôi, không dám làm gì vì sợ lộ chuyện chẳng hay. Về sau, ông Nguyễn Hiển Tích cũng làm quan đến chức Binh Bộ Thị Lang”.
Nguyễn Giáo Phường sinh năm 1549, khoa thi năm 1586 đỗ đầu kỳ thi Hội, tức Hội nguyên. Vào đến thi Đình thì ông đỗ Thám hoa.
Gia phả dòng họ ghi chép về ông như sau: “Giáo Phường thông minh hiếu học. Trong kỳ thi Đình khi đọc bài phú của ông, nhà vua phê rằng: “Văn của Giáo Phường như sông Giang, sông Hán càng chảy càng lạ”. Kỳ thi ứng chế ông lại đỗ đầu. Nguyễn Giáo Phường làm quan nhà Mạc hơn 6 năm, khi nhà Mạc thất thế, ông theo Mạc kính Cung lên giữ đất Thái Nguyên, Cao Bằng.”
Nguyễn Danh Nho sinh năm 1641, là cháu đời thứ 7 của Thám hoa Nguyễn Văn Huy, thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, làm quan giữ chức Tham chính, Công bộ cấp sự trung, Tổng đốc Sơn Tây, Tham chính Nghệ An.
Nguyễn Công Vọng sinh năm 1644, sinh trưởng trong gia đình có tryền thống khoa bảng, đời đời đều có người đỗ đạt. Từ nhỏ Nguyễn Công Vọng đã nổi tiếng thông minh học giỏi, đỗ kỳ thi Hương khi mới 19 tuổi.
Khoa thi năm 1673 thời vua Lê Gia Tông, ông đỗ Thám hoa, làm quan đến chức Đông các Đại học sĩ, Hộ bộ Thượng thư, tước Bá.
Ông là người có tài ngoại giao và hùng biện nên 3 lần được cử đi sứ, lần nào cũng hoàn thanh nhiệm vụ, dùng ngoại giao với nhà Thanh để cùng đánh dẹp loạn quân, như giặc Tam Khuê.
Đến khi chúa Trịnh Căn lên ngôi, ông thường được mời vào Phủ chúa bàn việc cơ mật quan trọng. Có tài bang giao nên ông thường được Chúa cử đi đến biên giới ở trấn Lạng Sơn giải quyết những việc khó khăn. Công việc hoàn thành, ông được ban thưởng “lộc điền” ở hai ấp Tam Đảo và Hồi Quan.
Là người có tài, ông thường được mời dạy cho con em Hoàng thân quốc thích và các quan đầu Triều, lại phụ trách việc thi cử và tuyển chọn người tài. Ông rất yêu thương dân chúng, nhiều lần tâu lên Vua cho thả các cung nữ, viết chiếu “Quân thần nghĩa” để mở lượng ân đức cho muôn dân.
Nguyễn Công Vọng chăm lo việc nước đến quên cả sức khỏe của mình. Năm 1690, ông dù bệnh vật cố ở cung làm việc. Vua cho người theo dõi chăm sóc bệnh tình của ông ngay tại cung, nhưng do bệnh nặng ông đã mất vào năm này.
Vua Lê thương tiếc tặng ông đôi câu đối:
“Nam Bắc lưỡng triều giai đa hữu.
Vãng hậu công văn nhất nhật công”.
Nguyễn Công Viên sinh năm 1691. Năm 28 tuổi ông đỗ thi Hội, khi vào thi Đình đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan đến chức Đông các hiệu thư, Đốc đồng Cao Bằng.
Nguyễn Đức Đôn sinh năm 1689. Năm 33 tuổi, ông đỗ thi Hội, vào thi Đình, ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan đến chức Tả thị lang bộ Lễ, tước Ngạn Xuyên bá.
Nguyễn Quốc Ích sinh năm 1686. Năm 42 tuổi ông đỗ thi Hội, vào thi Đình, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan đến chức Đông các hiệu thư, Đốc trấn Cao Bằng, Mậu lâm lang.
Tất cả 10 vị họ Nguyễn làng Vĩnh Kiều đỗ đại khoa, tự hào là một trong “Tứ gia vọng tộc” của Kinh Bắc.
Trần Hưng
Xem thêm:
Mời xem video:
Đây dường như là lần đầu tiên các tàu hải quân nước ngoài tiến hành…
Bộ Tài chính khẳng định chưa nên bãi bỏ loại hình bảo hiểm này, nhưng…
Lockheed Martin cho biết "MORFIUS X-Rotor" không chỉ có ưu thế thu hồi và tái…
Hôm 20/7, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ thông báo rằng các nhà chức trách Mỹ…
Sở dĩ đọc sách có thể nâng cao sự tu dưỡng bản thân và nuôi…
Hôm thứ Hai (20/7), Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký một sắc lệnh hành…