Văn hóa truyền thống

Đôi nét về nhà thơ Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương sinh năm 1915 ở Nam Định, là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới, được người đương thời xưng tụng là “Thi bá”. Những sáng tác của ông mang dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông phương.

Chỉ hợp với thơ ca và viết kịch bản

Vũ Hoàng Chương sinh ở Nam Định, nhưng quê gốc ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng (nay thuộc xã Phạm Ngũ Lão, tỉnh Hưng Yên). Ông sinh trưởng trong gia đình khá giả và có truyền thống Nho học. Cha ông là Vũ Thiện Thuật, làm tri huyện và am hiểu chữ Nho. Mẹ ông họ Hoàng, là người hay chữ, biết làm thơ chữ Hán và chơi đàn nguyệt.

Được sinh ra trong gia đình hay chữ, Vũ Hoàng Chương từ nhỏ đã học chữ Nho, sớm tiếp xúc với văn chương. Theo tư liệu tiểu sử do nhà phê bình Đặng Tiến sưu tầm và giới thiệu, Vũ Hoàng Chương học chữ Nho lúc 5 tuổi, sau đó học tiểu học ở Nam Định.

Từ nhỏ, Hoàng Chương đã đọc “Kinh Thi” bằng chữ Hán và “Quốc sử diễn ca” bằng chữ Nôm, giúp ông sớm hiểu văn hóa truyền thống.

Sau khi học xong tiểu học ở Nam Định, ông ra Hà Nội học trường Albert Sarraut của Pháp, đến năm 1937 thì đỗ tú tài Pháp.

Đỗ tú tài, Vũ Hoàng Chương học trường Luật Hà Nội vào năm 1938, nhưng ông chỉ học một năm rồi bỏ vì không hợp. Ông đến làm việc ở Sở Hỏa xa Đông Dương, giữ chức Phó Kiểm soát.

Năm 1941, ông học chương trình Cử nhân Toán ở Hà Nội, nhưng cũng không hợp, vì thế mà bỏ dở, rồi đến Hải Phòng dạy học.

Vũ Hoàng Chương có ý định theo học nhiều môn nhưng đều không hợp, có lẽ ông chỉ hợp với thơ ca. Năm 1940, ông cho ra mắt tập thơ “Thơ say”, đây là cột mốc đáng nhớ trong sự nghiệp sáng tác của ông. Sau đó, ông trở về Hà Nội, cùng những người bạn lập “Ban kịch Hà Nội” và tham gia viết kịch bản.

Năm 1942, Vũ Hoàng Chương gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột của nhà thơ Đinh Hùng. Văn thơ đã gắn kết hai người với nhau, đến năm 1944 thì họ chính thức kết hôn.

Sau khi kết hôn, Vũ Hoàng Chương tiếp tục sáng tác nhiều thơ và kịch, dần trở nên nổi tiếng. Những sáng tác của ông mang màu sắc cổ điển phương Đông.

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương, chụp khoảng thời gian 1942-1945. (Ảnh: Vũ Ngọc Phan, Wikipedia, Public Domain)

Chuyện cứu đói trong trận đói lịch sử Ất Dậu 1945

Năm 1945 diễn ra trận đói lịch sử Ất Dậu ở miền Bắc. Từ vùng quê đến phố phường, người đói kéo nhau đi ăn xin rồi kiệt sức nằm la liệt khắp nơi, có người bị chết đói.

Có những gia đình chết cả, nhà có người sống cũng không còn sức để chôn cất người đã mất cho tử tế. Thóc gạo trở nên quý giá, một nắm cơm nhỏ không thể giúp no, nhưng có thể giúp cầm hơi giữ được mạng sống. Theo những ước tính thường được nhắc đến, có khoảng 1 đến 2 triệu người đã chết trong nạn đói này.

Lúc này, vợ chồng Vũ Hoàng Chương sống cùng mẹ ở nhà tại phố Bến Thóc, gần đầu bến đò Quan, Nam Định. Đây là nơi tập kết thóc, gia đình Vũ Hoàng Chương vốn buôn bán thóc gạo nên sống ở khu này.

Sau này, bà Đinh Thục Oanh (vợ của nhà thơ Vũ Hoàng Chương) từng kể lại việc cứu đói năm 1945.

Chuyện là sau khi nhận ra tính nghiêm trọng của nạn đói, gia đình nhà thơ đã quyết định đóng cửa hàng, ngừng bán thóc gạo để mang số gạo còn lại cứu dân. Họ bàn với nhau nấu vài yến gạo để phát cơm. Để thuận tiện, họ nắm cơm thành từng nắm lớn, mỗi nắm bằng khoảng ba bát cơm, rồi ra trước cửa nhà phát, ai đi qua cũng được một nắm. Nhiều người biết kéo đến chật kín cửa nhà, rồi chen lấn lấy cơm khiến tình hình trở nên hỗn loạn.

Gia đình sợ hãi, vội đẩy thúng cơm còn lại ra ngoài rồi vào nhà đóng kín cửa. Thế nhưng đám đông bên ngoài nghĩ trong nhà còn cơm nên đập cửa.

Ở trong nhà, mọi người lên ban công gọi xuống rằng trong nhà đã hết cơm, nhưng nhà thờ Lớn đang phát chẩn, và bảo mọi người đến đó.

Thấy việc phát cơm nguy hiểm, hôm sau Vũ Hoàng Chương bàn với cả nhà rằng cứ nấu cơm, nhưng đợi đến tối khi những người đói đã mệt lả, nằm trên vỉa hè và trước hiên các ngôi nhà, lúc đó mới mang cơm đến đặt cạnh họ.

Bà Thục Oanh kể rằng tối đến, gia đình chuẩn bị cơm nắm, cho vào những chiếc bị cói cùng giấy báo, rồi chia nhau mang đi phát, mỗi người được phát một nắm cơm to. Họ phát xong thì rời đi ngay, tránh để người khác biết rồi đi theo xin thêm.

Tối hôm đó, họa sĩ Hoàng Lập Ngôn, người từ Hà Nội xuống Nam Định chơi với Vũ Hoàng Chương, cũng tham gia đi cứu đói dọc phố Bến Thóc.

Tuy nhiên, việc phát cơm vào ban đêm cũng rất nguy hiểm. Theo lời kể của bà Thục Oanh, sau một đêm cứu đói đầy lo sợ, gia đình không thể tiếp tục cách làm này.

Sau đó, mẹ của Vũ Hoàng Chương mang mấy bao gạo quyên góp cho ban cứu đói của phường Bến Thóc để họ phân phát cho dân chúng.

Sau năm 1945, gia đình Vũ Hoàng Chương tản cư, có thời gian đến Thái Bình dạy học, đến năm 1950 thì trở về Hà Nội.

Được đề cử giải Nobel văn học 1972

Sau năm 1954, Vũ Hoàng Chương cùng gia đình chọn vào miền Nam, định cư ở Sài Gòn, tiếp tục dạy học và sáng tác. Môi trường trong Nam phù hợp để ông sáng tác ra nhiều tác phẩm của mình, giúp tài năng của ông phát triển rực rỡ.

Năm 1959, tập thơ “Hoa đăng” giúp ông nhận Giải thưởng Toàn quốc về thơ của Việt Nam Cộng hòa. Ông cũng tham dự một số hội nghị thi ca và văn chương quốc tế.

Những năm sau đó, Vũ Hoàng Chương đi nhiều nơi ở châu Á để tham dự các hội nghị văn chương và hoạt động của giới Văn bút. Từ năm 1969 đến 1973, ông giữ chức Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972, ông nhận Giải thưởng Văn chương Toàn quốc lần thứ hai và được vinh danh là “Thi bá”.

Năm 1972, Vũ Hoàng Chương được đề cử giải Nobel Văn học. Theo hồ sơ lưu trữ chính thức của giải Nobel, ông được đề cử bởi Thanh Lãng, một học giả và nhà nghiên cứu văn học Việt Nam. Tuy nhiên, người đoạt giải năm đó là nhà văn Heinrich Böll của Đức.

Việc Vũ Hoàng Chương được đề cử Nobel Văn học năm 1972 là một dấu mốc đáng chú ý trong sự nghiệp của ông, cho thấy tên tuổi của nhà thơ đã được giới thiệu ra ngoài phạm vi văn học Việt Nam.

Năm 1976, nhà thơ Vũ Hoàng Chương bị bắt giam tại Khám Chí Hòa. Theo những tư liệu và hồi ức về cuộc đời ông, trong thời gian bị giam giữ, sức khỏe ông suy yếu nghiêm trọng. Sau đó ông được đưa về nhà trong tình trạng bệnh nặng và qua đời ngày 6/9/1976, chỉ ít ngày sau khi trở về.

Vũ Hoàng Chương mất đi, để lại nhiều tác phẩm thơ ca và kịch có giá trị. Năm 1999, vợ ông là bà Đinh Thục Oanh từ Sài Gòn viết lá thư cho cháu mình ở Hà Nội, mô tả lại cảnh gia đình cứu đói trong trận đói lịch sử năm Ất Dậu 1945.

Bức thư không chỉ ghi lại một câu chuyện cứu đói của gia đình nhà thơ, mà còn là một chứng tích về tình người trong những ngày tháng đau thương của lịch sử.

Trần Hưng

Xem thêm:

Mời xem video:

Trần Hưng

Published by
Trần Hưng

Recent Posts

Đà Nẵng: Sạt lở tại huyện Nam Trà My, xã Trà Giáp

Mưa lớn khiến dòng chảy chảy mạnh, sạt lở đất đã xảy ra tại một…

19 phút ago

Trường mới ở Thung lũng Silicon tuyển theo sản phẩm đã làm, khóa đầu miễn học phí

Một học viện mới tại Thung lũng Silicon, Mỹ, sẽ chọn học viên dựa trên…

24 phút ago

Bà von der Leyen: EU sẽ rót thêm tiền cho UAV và tên lửa Ukraine trong tuần này

Bà von der Leyen cho biết tuần này EU sẽ cấp thêm tiền cho UAV…

32 phút ago

Vương Hữu Quần: Làm gián điệp cho ĐCSTQ, bị bắt thì bị vứt bỏ như dép rách

Ông Vương Hữu Quần cho rằng người làm gián điệp cho Đảng Cộng sản Trung…

42 phút ago

Phân Tích: Trùm lừa đảo Campuchia Trần Chí và quan hệ ngầm với nhà họ Giang

Tác giả Lý Yến Minh cho rằng trùm lừa đảo Campuchia Trần Chí phất lên…

42 phút ago

Đế quốc Mông Cổ hùng mạnh đã tan rã như thế nào? (P2)

Nhà Nguyên sau khi thua trận rút về Mông Cổ lập ra nhà Bắc Nguyên.…

55 phút ago