Ngày nay, họ Phùng ở trấn Thời Yển, thành phố Đông Đài, tỉnh Giang Tô, vẫn còn lưu giữ gia huấn từ tổ tiên rằng: “Tâm địa phải dày, phẩm hạnh phải chính, trị gia phải nghiêm, xử thế phải hòa”. Học theo gia huấn này, họ Phùng trong lịch sử đã xuất sinh nhiều người lương thiện, làm việc đức cứu giúp dân, được dân chúng truyền tụng. Trong đó, Phùng Đạo Lập không chỉ cứu đói, mở trường, chữa bệnh cho dân nghèo mà còn dành cả đời nghiên cứu trị thủy, để lại nhiều công trình và trước tác hữu ích cho hậu thế.

Sự thành tín của cổ nhân
Tranh minh họa. (Ảnh: Wikipedia, Public Domain)

Gia tộc càng làm việc thiện càng giàu có

Từ thời nhà Minh, trấn Thời Yển có thương cảng quan trọng ven sông Vận Diêm Hà (sông vận chuyển muối), nằm trong vùng muối Hai Hoài nổi tiếng. Nơi đây có nhiều thương nhân mua bán muối và nhiều mặt hàng khác.

Họ Phùng ở đây làm thương nhân buôn bán, có tiền của thì hay làm việc thiện, càng làm việc thiện thì việc buôn bán càng thuận lợi. Dần dần họ Phùng cùng với họ Uông là hai gia tộc giàu có nhất ở trấn Thời Yển.

Đến những năm sau thời nhà Thanh, họ Phùng ở Thời Uyển có Phùng Xương Như nổi tiếng làm nhiều việc thiện. Cứ vào dịp cuối năm, tối đến ông thường đeo theo túi tiền đi đến nhà những người nghèo rồi gõ cửa, không chờ mở cửa mà để lại tiền qua khe cửa rồi bỏ đi.

Phùng Xương Như làm việc thiện âm thầm, lúc đầu không ai biết, sau này mới trở nên nổi tiếng trong vùng. Con trai ông là Phùng Ngọc Hoa cũng nhân nghĩa, giàu lòng thương người và làm nhiều việc thiện như cha.

Phùng Ngọc Hoa có người con trai là Phùng Đạo Lập. Khi Đạo Lập lên 6 tuổi thì được cha chỉ bảo trước khi đi học rằng: “Khi ta đi học, cha ta dạy phải tích đức hành thiện, nay ta cũng yêu cầu con như vậy, hãy ghi nhớ”.

Phùng Đạo Lập có được đức tính thiện lương khi còn nhỏ, đến khi trưởng thành thì luôn nghĩ cho dân chúng.

Cứu giúp dân chúng

Năm 1830, Phùng Đạo Lập đứng ra quyên góp để thành lập “Tích thiện hội”, năm mất mùa sẽ dùng quỹ này để phát tiền, phát thuốc, phát lương thực cứu đói, bán lúa giá bình ổn.

“Tích thiện hội” vừa lập thì đã có tác dụng ngay lập tức. Dân chúng dù mất mùa vì lũ lụt nhưng bớt cơ cực hơn nhiều nhờ có quỹ này. Khắp vùng ca ngợi, các bậc sĩ phu tiến cử ông lên Triều đình.

Năm 1831, vua Đạo Quang truyền chiếu chỉ cho Phùng Đạo Lập vào Triều yết kiến. Nhưng năm ấy đê sông Vận bị vỡ, nước ngập khắp nơi, giá lương thực tăng vọt khiến ông không thể rời đi. Phùng Đạo Lập lấy lý do dân gặp lũ lụt và cha ốm để xin ở lại, Vua liền ban cho tấm biển cùng mũ áo biểu dương tinh thần phụng sự của ông.

Năm 1832, ông lại đứng ra thành lập “Phong Bị Thương” (kho dự trữ năm được mùa). Theo đó, năm được mùa thì cứ mỗi thạch lương thực mua bán sẽ quyên một ly tiền, để phòng khi năm mất mùa.

Năm 1834, Phùng Đạo Lập mở trường “Văn trinh nghĩa học” thu nhận người nghèo đến học, không những chẳng thu phí mà còn trả tiền dầu đèn, tiền để mua nghiên mực. Từ đó, con em trong vùng dù nghèo khó cũng được đi học biết chữ nghĩa.

Năm 1836, Phùng Đạo Lập bỏ ra 2.000 quan tiền vận động các thương nhân cùng thành lập “Vụ bản đường thủy long hội sở” còn gọi là “Thủy long cục” để phòng cháy chữa cháy.

Năm 1840, Phùng Đạo Lập khởi xướng trùng tu “Nam Trà am” ở phía bắc trấn, cho mở rộng thêm thành “An Lữ đường”, thành nơi tá túc miễn phí những người lưu lạc, khám chữa bệnh miễn phí cho dân chúng. Sau này lịch sử diễn ra nhiều cuộc chiến tranh khiến “An Lữ đường” không còn, nhưng những ghi chép ở địa phương vẫn ghi rõ vai trò “An Lữ đường” trong việc cứu giúp dân chúng.

Nghĩ cách trị thủy giúp dân

Phùng Đạo Lập lớn lên và thường chứng kiến cảnh lũ lụt hoành hoành ở vùng Hoài Dương, ruộng vườn và nhà cửa chìm trong nước.

Biết rằng dân chúng cực khổ chủ yếu là do lũ lụt từ sông Hoài và sông Hoàng Hà, Phùng Đạo Lập dù giỏi chữ nghĩa, nhưng từ bỏ con đường khoa bảng, quyết tìm hiểu cách trị thủy để giúp dân.

Ông đọc nhiều sách, đặc biệt là cuốn sách “Hà Phòng Nhất Lãm” (Tổng quan về phòng chống lũ) của Phan Quý Huấn đời Minh. Phùng Đạo Lập tự bỏ chi phí đi khảo sát thực địa, vẽ dòng chảy, lập bản đồ.

Sau khi tìm hiểu nghiên cứu kỹ, Phùng Đạo Lập cho rằng để trị thủy cần học theo “thiên nhân hợp nhất”, cần thuận theo tự nhiên chứ không phải chống lại tự nhiên. Ông viết hơn 40 cuốn sách về trị thủy, trong đó cuốn “Hoài Dương Trị Thủy Luận” và “Hoài Dương Thủy Lợi Đồ Thuyết” được nhiều người sau này học hỏi áp dụng.

Ông đưa ra lý thuyết “Thúc thủy quy hải” nghĩa là gom nước về biển, đắp những con đê dẫn nước chảy ngược ra biển chứ không chống lại sức lũ.

Năm 1842, Phùng Đạo Lập đi đầu quyên góp, đắp con đê dài 500 trượng (khoảng 1,6 km), từ đó dân chúng tránh được nạn lũ lụt, an cư lạc nghiệp, sau này dân chúng gọi con đê này là “Phong lã vi”, ca ngợi con đê này và công đức của Phùng Đạo Lập.

Trần Hưng

Xem thêm:

Mời xem video: