(Ảnh minh họa: Shutterstock)
Hiện nay, chính sách thuế quan của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã khiến ngày càng nhiều công ty Trung Quốc chuyển sản xuất sang nơi khác để tránh chịu trọn sức nặng của các rào cản này. Việt Nam là một trong những nước hưởng lợi lớn từ xu hướng đó.
Làn sóng doanh nghiệp Trung Quốc dời ra nước ngoài giúp các nhà sản xuất này tiếp tục bán hàng vào thị trường Mỹ giàu có, còn Việt Nam thì nhận được lợi ích về phát triển, đào tạo và việc làm.
Về lâu dài, xu hướng này lại đặt giới lãnh đạo ở Hà Nội trước những lựa chọn khó khăn. Nếu để doanh nghiệp Trung Quốc kéo vào mà không kiểm soát, Việt Nam có nguy cơ trở thành một kiểu thuộc địa kinh tế của Trung Quốc.
Cưỡng lại làn sóng này để tự phát triển nội lực là hướng đi có giá trị, nhưng sẽ khiến Việt Nam mất những lợi ích trước mắt. Nếu thành công, hướng đi đó sẽ biến Việt Nam thành một đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc.
Gốc rễ của những diễn biến này và các thế khó đi kèm nằm ở Washington. Mọi việc bắt đầu từ nhiệm kỳ đầu của ông Trump, khi chính quyền của ông áp thuế lên đến 20% với hàng Trung Quốc nhập vào Mỹ trong hai năm 2018 và 2019.
Sang nhiệm kỳ thứ hai, ông tăng sức ép lên Trung Quốc. Trước tiên, ông áp thuế gần 60% lên hàng Trung Quốc xuất sang Mỹ, rồi đàm phán hạ xuống mức trung bình nhỉnh hơn 45%, một mức vẫn còn cao.
Để tránh những gánh nặng này và không bị gạt khỏi thị trường Mỹ, các nhà sản xuất Trung Quốc từ sớm đã lập cơ sở tại các nước thứ ba. Nhờ vậy, hàng của họ đi vào Mỹ từ nước khác chứ không phải từ Trung Quốc, và chịu mức thuế thấp hơn. Sau các đợt tăng thuế năm ngoái, xu hướng này càng diễn ra nhanh hơn.
Việt Nam là điểm đến được ưa chuộng. Chính quyền nước này sẵn lòng hợp tác với làn sóng doanh nghiệp Trung Quốc chuyển sang. Tiền lương ở Việt Nam thấp hơn ở Trung Quốc, còn quãng đường vận chuyển thì thuận tiện hơn so với những nơi như Mỹ Latinh. Việt Nam chào đón đầu tư từ Trung Quốc và nước ngoài nói chung, điều thể hiện rõ qua việc nước này sẵn sàng cung cấp cơ sở sản xuất.
Chẳng hạn, liên doanh Khu công nghiệp Việt Nam-Singapore (VSIP) giữa tập đoàn Sembcorp của Singapore và các đối tác nhà nước Việt Nam đã xây dựng khoảng 26 khu công nghiệp tại 15 tỉnh, thành phố. Chỉ riêng trong liên doanh này, tỷ lệ khách thuê Trung Quốc đã tăng từ 9% năm 2021 lên hơn 15% năm 2025. Tỷ lệ này chắc chắn còn tăng trong năm nay, nhưng hiện chưa có số liệu.
Tại thành phố cảng Hải Phòng, các khu công nghiệp DEEP C cho biết khách thuê Trung Quốc chiếm 1/5 diện tích, tăng từ mức chỉ 7% trước khi các đợt thuế quan đầu tiên của ông Trump có hiệu lực.
Trung Quốc vốn đã thâm nhập đáng kể vào nền kinh tế Việt Nam, chiếm khoảng 18% tổng kim ngạch xuất khẩu, sử dụng khoảng 0,6% tổng lực lượng lao động của Việt Nam và gần 12% số người làm trong ngành chế tạo.
Mức thâm nhập này có lẽ còn sâu hơn nếu lao động Việt Nam được đào tạo tốt hơn. Thời gian gần đây, lao động Việt Nam đã đủ trình độ để làm những việc vượt lên trên các mặt hàng giá trị gia tăng thấp, cần nhiều nhân công như giày dép và quần áo. Tuy nhiên, các nhà đầu tư Trung Quốc vẫn nhận xét rằng cái mà họ gọi là “độ sâu chuỗi cung ứng” của Việt Nam còn nông.
Vì thế, toàn bộ công việc nghiên cứu và công việc cần nhiều nhân công vẫn nằm lại ở Trung Quốc. Phần lớn linh kiện chính xác, phức tạp được chuyển sang Việt Nam từ Trung Quốc, đôi khi từ Hàn Quốc hoặc Đài Loan.
Mô hình này thể hiện rõ qua nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc: riêng năm 2025 đã tăng vọt 30% (năm nay chưa có số liệu). Cách sắp xếp như vậy hợp với nỗi ám ảnh kiểm soát của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Dù giúp Việt Nam thịnh vượng hơn, mô hình hiện nay vẫn khiến chính quyền nước này lo ngại về lâu dài. Họ lo rằng nếu làn sóng dịch chuyển cứ tiếp diễn theo hướng này, Việt Nam sẽ ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc và trở thành một kiểu thuộc địa kinh tế. Họ nhận ra rằng muốn phát triển bền vững thì phải dựa vào nội lực.
Giới chức Việt Nam đã thừa nhận mô hình phát triển “đàn nhạn bay” không còn hiệu quả. Đây là con đường mà Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore từng đi: hướng vào thị trường Mỹ và phát triển theo đó. Giờ đây có thể thấy rõ mô hình này chỉ hiệu quả khi chuỗi cung ứng toàn cầu còn kém phát triển hơn hiện nay.
Dù vậy, chính quyền Việt Nam vẫn hy vọng nước này có thể hưởng lợi như Trung Quốc từng hưởng lợi từ dòng đầu tư lớn của Nhật Bản trong thập niên 1990. Họ biết rằng mô hình đó phụ thuộc hoàn toàn vào nỗ lực trong nước.
Để đạt mục tiêu này, Việt Nam đã đề ra một chương trình giáo dục và đào tạo lao động đầy tham vọng. Chương trình đặt ra nhiều mục tiêu, trong đó có nâng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) lên 2% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), đào tạo 50 nghìn kỹ sư thiết kế chip vào năm 2030 và 100 nghìn kỹ sư vào năm 2040.
Câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ: những nỗ lực này sẽ chỉ phục vụ hoạt động của doanh nghiệp Trung Quốc và các doanh nghiệp nước ngoài khác, hay sẽ mang lại cho Việt Nam sự phát triển nội lực mà nước này mong muốn?
Nếu thành công, Việt Nam sẽ chuyển từ vai trò bên tạo điều kiện cho lợi ích của Trung Quốc như hiện nay sang vai trò đối thủ cạnh tranh.
Theo Milton Ezrati / The Epoch Times
Khi mộng du, bà nói chuyện trong lúc ngủ, đi lại khắp căn hộ, thậm…
Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng ký thông qua chủ trương triển…
Các đợt tấn công bằng UAV đã nhiều lần làm gián đoạn nghiêm trọng giao…
Bộ Quốc phòng Yemen tuyên bố quân chính phủ đã chiếm lại thành phố cảng…
Bộ Tư pháp Mỹ hôm thứ Hai (5/10) cho biết đã đệ đơn kiện, đề…
Nguyễn Đức Anh, 21 tuổi, bị tuyên tử hình trong vụ án khiến 3 người…