Washington vượt sông Delaware”, tranh năm 1851 của họa sĩ Emanuel Leutze. (Tác phẩm thuộc phạm vi công cộng)
Nếu 250 năm lịch sử qua dạy cho chúng ta điều gì, thì đó là nước Mỹ phải tiếp tục hướng về Thiên Ý và Đấng Thiêng liêng.
“Đó sẽ là một đêm khủng khiếp đối với những người lính không có giày”, John Fitzgerald đã viết như vậy trong nhật ký của mình. “Một vài người trong số họ phải quấn những mảnh giẻ rách quanh chân, nhưng tôi chưa nghe thấy một lời phàn nàn nào”.
Đêm đó là ngày 25/12/1776, được xem là một trong những đêm quan trọng nhất trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ. Tướng George Washington đã chia quân thành 3 nhóm dọc theo sông Delaware, theo một kế hoạch tấn công công phu. Tuy nhiên, thời tiết không thuận lợi: một trận bão tuyết đã quét qua New Jersey. Thêm vào đó, như Fitzgerald nhắc tới, nhiều binh lính không chuẩn bị đầy đủ cho việc vượt sông, chưa nói đến kế hoạch tấn công. Xét theo tình hình chiến tranh lúc bấy giờ, những người sống sót qua đêm và cuộc tấn công sẽ hầu hết trở về nhà, vì hạn kỳ nghĩa vụ của họ kết thúc vào ngày 31/12. Với Washington, đây là nỗ lực cuối cùng trong năm nhằm giành chiến thắng, hy vọng thuyết phục binh lính tiếp tục chiến đấu sang năm mới.
Washington dẫn đầu một lực lượng gồm 2.400 người. Đội quân còn lại của ông với khoảng 2.200 binh sĩ – chia làm hai cánh – được bố trí ở phía nam, chuẩn bị cho cuộc tấn công ba gọng kìm chống lại quân đội được cho là gồm 2.000 đến 3.000 lính đánh thuê người Hessian (trên thực tế chỉ có 1.500 người). Ông đã hy vọng vào một cuộc tập kích ban đêm, nhưng kế hoạch của Washington bị chậm lại, buộc quân đội của ông phải truy kích kẻ thù dưới ánh bình minh. Tồi tệ hơn, cuộc tấn công ba gọng kìm của Washington đã bị giảm xuống chỉ còn một, do bão tuyết khiến các binh sĩ ở phía nam không thể vượt sông. Cuối cùng, nhiều binh lính đã qua được sông lại không thể khai hỏa vì vũ khí bị ẩm.
Trong cuốn sách kiệt tác “1776” của mình, David McCullough đã suy ngẫm về cuộc tấn công mang tính bước ngoặt vào buổi sáng hôm đó: “Đối với những ai đã ở bên Washington và hiểu rõ tình thế lúc khởi đầu ngàn cân treo sợi tóc như thế nào – khi mà hoàn cảnh, những trận bão, những cơn gió ngược, hay những tính cách cá nhân đã tạo nên sự khác biệt – thì kết quả [của cuộc Cách mạng] dường như chẳng khác gì một phép màu”.
Đó là từ cuối cùng trong cuốn sách của McCullough, và nó khái quát phần lớn lịch sử nước Mỹ. Quốc gia này không còn nghi ngờ gì nữa chính là một phép màu. Thật kỳ diệu khi chúng ta đánh bại được quân đội Anh — cường quốc quân sự mạnh nhất thời bấy giờ. Thật kỳ diệu khi các vị Tổ phụ của chúng ta sáng suốt khi đưa vào Tuyên ngôn Độc lập câu “chúng ta được Đấng Tạo hóa ban cho những quyền không thể xâm phạm”. Thật kỳ diệu khi chỉ 11 năm sau ngày cụm từ này được thông qua, các vị Tổ phụ đã được thuyết phục rằng Mỹ sẽ không thể thành công dưới mô hình một liên minh các bang (confederation) mà cần có một “thể chế chính thể cộng hòa”.
Và khi chúng ta kỷ niệm 250 năm quốc khánh, chẳng phải là một phép màu khi Hiến pháp Mỹ là bản hiến pháp tồn tại lâu nhất lịch sử? Hơn nữa, trước khi tuyên bố độc lập, chúng ta đã có 150 năm thực hành tự quản, đảm bảo sẵn sàng trở thành một quốc gia độc lập. Không một quốc gia nào khác từng có được cơ hội đó – và tôi khó có thể nghĩ rằng nếu có một quốc gia nào khác có được nó, họ cũng sẽ trở thành một đất nước tự do nhất, thịnh vượng nhất và quyền lực nhất mà thế giới từng chứng kiến.
Đúng vậy, nước Mỹ tự thân là một phép màu, nhưng phép màu tập thể ấy chỉ phản ánh niềm tin lâu đời của mỗi cá nhân vào điều kỳ diệu.
Các vị Tổ phụ của chúng ta định danh đó là Thiên ý (Providence). Những người Mỹ đầu tiên dưới lá cờ Betsy Ross đã chứng kiến những gì thuộc về một cuộc chiến của những điều kỳ diệu xuất hiện đúng lúc, dù không phải lúc nào cũng nhất quán.
Không nhất quán ư? Chắc chắn rồi. Phép màu vốn không tuân theo tự nhiên, nên hiếm và khó đoán. Chính vì vậy, niềm tin vào điều kỳ diệu đòi hỏi niềm tin vào Đấng Tạo Hóa. Nói một cách ngắn gọn, đó là đức tin. Không có đức tin, thậm chí sẽ không có cả niềm hy vọng vào một điều kỳ diệu. Do đó, những người vô thần sẽ không nhận ra phép màu khi nó đến, chỉ coi đó là một sự kiện bình thường giải thích bằng lý trí.
Niềm tin vào sự nhiệm màu, và vì thế là niềm tin vào Thiên ý, đòi hỏi chúng ta phải đặt đức tin của mình đúng nơi. Các nhà lập quốc đã đặt đức tin ấy vào Đấng Sáng Tạo nhân từ. Một Đấng Sáng Tạo xấu xa sẽ không ban cho con người các quyền bất khả xâm phạm về sự sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc. Vì vậy, nếu đức tin của chúng ta đặt vào Đấng Sáng Tạo nhân từ, thì lẽ tự nhiên là những cuộc đấu tranh của chúng ta cũng phải hướng tới điều thiện.
Khi Alexis de Tocqueville đến thăm Mỹ vào năm 1831, ông đã lưu ý: “Đặc điểm của nền văn minh Anglo-Mỹ trong diện mạo chân thực của nó… là kết quả… của những yếu tố mà ở những nơi khác thường xuyên xung đột, nhưng ở Mỹ lại được kết hợp và hòa quyện với nhau một cách đáng ngưỡng mộ. Tôi đang muốn nói đến tinh thần Tôn giáo và tinh thần Tự do”.
Người Pháp đáng kính này, có lẽ đã mô tả nước Mỹ rõ nét hơn bất kỳ người Mỹ nào, đã bày tỏ những quan điểm tương đồng với tâm nguyện của các vị khai quốc công thần, cũng như với những lời Washington bài phát biểu khi từ biệt cương vị tổng thống.
“Trong số tất cả các khuynh hướng và thói quen dẫn đến sự thịnh vượng chính trị, tôn giáo và đạo đức là những bệ đỡ không thể thiếu,” Washington tuyên bố.
“Và chúng ta hãy thận trọng trước giả định rằng đạo đức có thể được duy trì mà không cần tôn giáo. Dù có thừa nhận tầm ảnh hưởng của một nền giáo dục tinh hoa đối với những người có phẩm chất đặc biệt đến đâu, thì cả lý trí và kinh nghiệm đều không cho phép chúng ta kỳ vọng rằng đạo đức quốc gia có thể thịnh trị nếu tách rời các nguyên tắc tôn giáo.”
Chắc chắn những “bệ đỡ không thể thiếu” này đã gắn kết nước Mỹ ngay cả trong những thời điểm chúng ta coi điều kỳ diệu là hiển nhiên hoặc, trong sự ngạo mạn của mình, coi thường nó, như thể việc được thụ hưởng những điều kỳ diệu làm thay đổi thế giới đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ không bao giờ phạm sai lầm hay phải trả giá cho những sai lầm ấy. Trong một quyết định nông nổi, và chưa đầy một thập kỷ sau khi được Thiên ý giúp tăng gấp đôi diện tích lãnh thổ, chúng ta đã tuyên chiến với Vương quốc Anh, khiến thủ đô của đất nước đã bị thiêu rụi. Điều kỳ diệu là những văn kiện lập quốc quan trọng nhất của chúng ta đã được giải cứu. Sau khi đánh bại Mexico và ký Hiệp ước Guadalupe Hidalgo vào ngày 2 tháng 2 năm 1848, chúng ta đã mở rộng diện tích quốc gia thêm một phần ba, và dường như dưới sự an bài của Thiên ý, vàng đã được tìm thấy ở California chỉ 11 ngày trước khi ký hiệp ước.
Lục địa đã thuộc về chúng ta, kẻ thù bị đánh bại hoặc được xoa dịu, và các con đường của chúng ta tràn ngập vàng bạc. Thế nhưng, chúng ta đã không còn cảm nhận được điều kỳ diệu nữa.
Khi Tổng thống Abraham Lincoln kêu gọi chúng ta hướng tới “những thiên thần tốt đẹp hơn trong bản tính của mình” (the better angels of our nature), lời kêu gọi đó đã không được đáp lại.
Tuy nhiên, Lincoln vẫn hướng nước Mỹ về niềm tin vào sự nhiệm màu, dù tốt hay xấu, khi tuyên bố: “Nếu Chúa muốn [cuộc chiến] tiếp diễn cho đến khi toàn bộ của cải tích lũy từ 250 năm lao động không công của những người nô lệ bị tiêu tan, và cho đến khi mỗi giọt máu rơi xuống bởi những trận đòn roi phải được đền đáp bằng một giọt máu khác bởi lưỡi gươm, thì như người ta đã nói từ 3000 năm trước, giờ đây vẫn phải nói rằng ‘các phán quyết của Chúa hoàn toàn chân thật và công chính'”.
“Những thiên thần tốt đẹp hơn trong bản tính của chúng ta” đã dần chiến thắng. Niềm hy vọng của Lincoln là người Mỹ sẽ “làm tất cả để đạt được và trân quý một nền hòa bình công chính và lâu dài giữa chúng ta và với tất cả các quốc gia”. Điều kỳ diệu về nền hòa bình trong lòng nước Mỹ vẫn tiếp diễn, ngay cả khi có thêm 16 bang được kết nạp kể từ đó, chưa kể 11 bang từng ly khai.
Hơn thế nữa, chúng ta đã giúp “tất cả các quốc gia” đón nhận điều kỳ diệu mang tên nước Mỹ thông qua việc duy trì hòa bình trên toàn thế giới sau Thế chiến thứ hai. Bước vào một cuộc chiến mà chúng ta từng hy vọng tránh được, chúng ta đã kết thúc một cuộc chiến mà mình không khởi đầu. Tuy nhiên, đó là tầm nhìn của những người Mỹ vĩ đại, những người hiểu rằng không phải mọi con rồng đều đã bị tiêu diệt và châu Âu cần một điều kỳ diệu mang phong cách Mỹ. Chúng ta đã viện trợ và tái thiết châu Âu từ tro tàn trong khi ngăn chặn những gì Tổng thống Ronald Reagan từng gọi ngắn gọn là “đế quốc tà ác”.
Cuộc Chiến tranh Lạnh với Liên Xô đã đẩy chúng ta vào thế đối đầu với một hệ tư tưởng phủ nhận hoàn toàn sự nhiệm màu, cùng với bất kỳ biểu hiện nào của tự do, chưa nói đến việc mưu cầu hạnh phúc. Chủ nghĩa cộng sản đã bao trùm nước Nga vốn từng kính sợ Chúa. Nhưng làm thế nào một điều như vậy lại có thể xảy ra?
Aleksandr Solzhenitsyn, nhà văn đoạt giải Nobel từng trải qua hệ thống trại cải tạo Gulag của Xô Viết, đã khẳng định: “Con người đã quên mất Thiên Chúa; đó là lý do tại sao tất cả những điều này xảy ra”.
Nhưng ông nói thêm: “Nếu tôi được yêu cầu xác định một cách ngắn gọn đặc điểm chính của toàn bộ thế kỷ XX, thì ở đây cũng vậy, tôi sẽ không thể tìm thấy điều gì chính xác và cô đọng hơn là lặp lại một lần nữa: ‘Con người đã quên mất Thiên Chúa'”.
Chiến tranh Lạnh kết thúc vào năm 1989 với sự sụp đổ của Bức tường Berlin. Hoặc có lẽ là năm 1991 với sự tan rã của Liên Xô. Dù thế nào đi nữa, một cuộc Chiến tranh Lạnh khác đã bắt đầu ngay sau đó, với một đối thủ được nhào nặn từ chính khuôn mẫu của Liên Xô trước đây.
Nếu cuộc Chiến tranh Lạnh lần thứ nhất dạy cho chúng ta bất cứ điều gì, quả thực nếu 250 năm qua đã dạy cho chúng ta bất cứ điều gì, thì đó là nước Mỹ phải tiếp tục hướng về Thiên ý, về Đấng Tối Cao. Chúng ta phải tiếp tục kỳ vọng và trân trọng những điều kỳ diệu, và do đó duy trì đức tin vào Thiên Chúa, điều đã bảo vệ chúng ta qua những vinh quang và thất bại, qua sự khôn ngoan lẫn niềm nông nổi của chúng ta.
Washington đã ra đi từ thế kỷ 18, Lincoln từ thế kỷ 19. Người bạn Nga của chúng ta là Solzhenitsyn, cùng với McCullough kính yêu, đều đã qua đời trong thế kỷ này. Nhưng bạn và tôi vẫn ở lại đây, được giao phó sứ mệnh duy trì những “bệ đỡ không thể thiếu” của tôn giáo và đạo đức – được các bậc tiền nhân yêu cầu phải loan báo điều kỳ diệu khi nó xảy ra, và không ngừng cầu nguyện cho điều kỳ diệu tiếp theo.
Nước Mỹ không thiếu những điều kỳ diệu. Cuộc tìm kiếm một phi công Mỹ bị bắn rơi ở Iran trong dịp Lễ Phục sinh vừa qua – thời điểm tưởng niệm điều kỳ diệu vĩ đại nhất của Thiên Chúa – đã thể hiện rõ sự gắn kết của chúng ta với tôn giáo. Chúng ta đã công khai cầu nguyện và thỉnh cầu sự cầu nguyện, cho thấy rõ ràng rằng chúng ta không hề quên mất Thiên Chúa. Rằng chúng ta cần Người trong khoảnh khắc đó cũng như chúng ta đã cần Người vào đêm Giáng sinh 250 năm trước.
Trong trường hợp này, cũng như vô số lần khác trước đây – và hy vọng là vô số lần khác sắp tới, chúng ta đã nhận được những gì mà David McCullough mô tả là “không khác gì một điều kỳ diệu”.
Bộ Chỉ huy Trung tâm Mỹ (CENTCOM) đã công bố một đoạn video, cho thấy…
Trong một hồ nước giữa rừng sâu, có một chú vịt con xấu xí sống…
Cử tri bang California đã đề cử ứng viên Đảng Dân chủ Xavier Becerra bước…
Theo một cựu điệp viên, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã huy động một…
Đặng Tất là một vị tướng tài, góp công lớn trong việc khiến nhà Hậu…
Ngày 6/6, hàng chục ngàn người dân Hàn Quốc đã tập trung trước khu vực…