Vì sao sức khỏe tinh thần có thể định hình hành vi, khả năng phục hồi và sự sống còn của con người?
֍
Chúng ta hiện có những loại thuốc chống trầm cảm hiệu quả hơn, nhiều nhà trị liệu hơn và hiểu biết sâu sắc hơn bao giờ hết về hóa sinh của não bộ. Thế nhưng, tỷ lệ tự tử vẫn tiếp tục gia tăng, số ca tử vong do dùng thuốc quá liều liên tục phá kỷ lục và cảm giác tuyệt vọng dường như ngày càng lan rộng trong xã hội.
Điều gì sẽ xảy ra nếu vấn đề không phải là y học của chúng ta đã thất bại, mà là chúng ta đang điều trị sai vấn đề?

Một nghiên cứubình duyệt gần đây được công bố trên European Economic Association (JEEA) (Tập san của Hiệp hội Kinh tế Châu Âu), đã phân tích xu hướng dài hạn về mức độ tham gia tôn giáo và tỷ lệ tử vong tại Hoa Kỳ. Kết quả cho thấy, những tiểu bang có mức sụt giảm mạnh nhất về số người đến nhà thờ trong giai đoạn từ năm 1985 đến năm 2000 cũng ghi nhận mức gia tăng đáng kể các “ca tử vong do tuyệt vọng”, bao gồm tự tử, tử vong do dùng thuốc quá liều và bệnh gan do rượu.
Đáng chú ý là những mức gia tăng này đã xuất hiện trước khi cuộc khủng hoảng opioid bùng phát vào khoảng giữa thập niên 1990, điều này thách thức giả định phổ biến rằng sự tuyệt vọng lan rộng chỉ do ma túy hay biến động kinh tế gây ra. Thay vào đó, dữ liệu cho thấy sự suy giảm trong việc tham gia đời sống tinh thần đã xảy ra trước, và rất có thể đã khiến con người dễ rơi vào các khủng hoảng về hành vi và sức khỏe về sau.
Trong giai đoạn này, niềm tin vào Chúa không biến mất, các hoạt động xã hội khác cũng không suy giảm theo. Thứ thực sự thay đổi là việc con người còn tham gia hay không, cách tự nhìn nhận bản thân và thực hành đời sống tinh thần hằng ngày – những điều từng giúp chúng ta trở nên có ý nghĩa, sống kỷ luật và không lạc lõng.

Để hiểu vì sao sức khỏe tinh thần lại có ý nghĩa sâu sắc đến vậy, cần nhìn lại cách chúng ta định nghĩa về sức khỏe. Qua hơn 30 năm thực hành lâm sàng, tôi nhận thấy rằng gần như mọi vấn đề sức khỏe đều có thể được lý giải thông qua 4 phương diện liên kết chặt chẽ với nhau. Cách tiếp cận này được tóm tắt trong Mô hình Sức khỏe ACES, trong đó ACES là viết tắt của Anatomy (Giải phẫu), Chemistry (Hóa sinh), Energy (Năng lượng) và Soul (Tinh thần).

1. Giải phẫu (Anatomy) đề cập đến cấu trúc vật lý của cơ thể, bao gồm xương, khớp, cơ, các cơ quan nội tạng, mô liên kết và hệ tuần hoàn. Những vấn đề mang tính cấu trúc như chấn thương, thoái hóa hay các bệnh lý cần can thiệp phẫu thuật đều thuộc nhóm này và thường được điều trị bằng phẫu thuật, vật lý trị liệu, nắn chỉnh cột sống và các chương trình phục hồi chức năng.
2. Hóa sinh (Chemistry) bao gồm sinh hóa và chuyển hóa: chất dinh dưỡng, hormone, chất dẫn truyền thần kinh, thuốc, độc tố, viêm và nhiễm trùng. Phần lớn y học hiện đại tập trung vào lĩnh vực này thông qua dược phẩm, thực phẩm bổ sung và các can thiệp dinh dưỡng.
3. Năng lượng (Energy) đề cập đến cơ chế điều hòa và giao tiếp bên trong cơ thể, đặc biệt là hoạt động của hệ thần kinh, sự cân bằng của hệ thần kinh thực vật, khả năng điều hòa cảm xúc, sinh lý học của căng thẳng và mức độ đáp ứng với môi trường. Các liệu pháp như châm cứu, bấm huyệt, khí công, luyện thở và nhiều liệu pháp thân – tâm khác chủ yếu tác động ở cấp độ này.
4. Tinh thần (Soul) đại diện cho ý nghĩa sống, lương tri, mục đích, định hướng đạo đức và động lực nội tại chi phối hành vi con người. Yếu tố này quyết định vì sao con người hành động theo những cách khác nhau: cách họ đối diện với đau khổ, cám dỗ, mất mát và trách nhiệm trong cuộc sống.
Bốn phương diện này không tồn tại tách biệt mà gắn kết chặt chẽ với nhau. Rối loạn cấu trúc cơ thể có thể ảnh hưởng đến các quá trình sinh hóa; mất cân bằng sinh hóa lại làm rối loạn chức năng điều hòa của hệ thần kinh; căng thẳng kéo dài gây biến đổi sinh lý toàn thân. Khi ý nghĩa sống sụp đổ, hành vi tự hủy hoại có thể xuất hiện, cho dù cơ thể có được điều trị tốt đến đâu.

Trong thực hành lâm sàng, tôi từng gặp không ít bệnh nhân có các chỉ số xét nghiệm trở về bình thường và triệu chứng được cải thiện, nhưng sự đau khổ vẫn còn dai dẳng.
Một bệnh nhân trung niên đến khám với chứng lo âu mạn tính, mất ngủ và lạm dụng rượu ngày càng tăng. Các đánh giá chuyên sâu không phát hiện bất kỳ bất thường sinh hóa đáng kể nào. Thuốc giúp giảm triệu chứng nhưng khiến ông trở nên trơ lì về mặt cảm xúc. Theo thời gian, vấn đề cốt lõi đã dần lộ rõ: sự sụp đổ về ý nghĩa sống sau khi mất việc và bị cô lập xã hội.
Chúng tôi đã áp dụng phương pháp ACES tích hợp để cải thiện giấc ngủ, dinh dưỡng và điều hòa hệ thần kinh. Tuy nhiên, sự cải thiện bền vững chỉ thực hiện bắt đầu khi bệnh nhân quay trở lại với thực hành tâm linh hằng ngày – không phải như một khái niệm trừu tượng mà là sự thực hành hàng ngày của “đời sống nội tâm”. Điều này bao gồm việc tự soi xét bản thân mỗi ngày, ý thức về trách nhiệm đạo đức và tái thiết lập mục đích sống vượt lên trên lợi ích cá nhân. Nhờ đó, các triệu chứng lo âu thuyên giảm, giấc ngủ được cải thiện và việc sử dụng rượu giảm rõ rệt.
Y học giúp ổn định cơ thể. Ý nghĩa sống giúp ổn định hành vi.

Từ góc độ khoa học thần kinh, sức khỏe tinh thần ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ thống não bộ chi phối hành vi, bao gồm kiểm soát xung động, điều hòa cảm xúc, xử lý phần thưởng và phản ứng với căng thẳng.
Những thực hành như cầu nguyện, thiền định và tự suy xét đạo đức hoạt động như các hệ thống rèn luyện về hành vi và thần kinh sinh lý, giúp tăng cường khả năng tự kiểm soát, biết trì hoãn ham muốn và giữ ổn định cảm xúc. Chúng đạt được điều này bằng cách lặp đi lặp lại việc chuyển sự chú ý ra khỏi xung động và cảm giác đe dọa, làm dịu phản ứng căng thẳng, đồng thời củng cố các đường dẫn thần kinh liên quan đến suy ngẫm, tự kiềm chế và lựa chọn có ý thức.
Khi những thực hành như vậy suy giảm trên quy mô toàn xã hội, mức độ dễ tổn thương trước nghiện ngập và tuyệt vọng sẽ gia tăng. Về mặt sinh học, điều này phản ánh sự dịch chuyển mạn tính sang trạng thái sinh lý do căng thẳng chi phối: cortisol tăng cao, trương lực phó giao cảm suy giảm, và khả năng điều tiết của vùng vỏ não trước trán bị suy yếu. Những điều kiện này tạo thuận lợi cho hành vi bốc đồng, cảm xúc thất thường và xu hướng tìm kiếm sự khoái cảm ngắn hạn mất kiểm soát.

Nhận thức của tôi về sức khỏe tâm linh cũng được hình thành qua quá trình quan sát lâu dài đối với Pháp Luân Đại Pháp, còn được gọi là Pháp Luân Công. Đây là một pháp môn truyền thống kết hợp thiền định, khí công nhẹ nhàng và tu dưỡng đạo đức dựa trên nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn.
Nghiên cứu về thiền định và khí công cho thấy sự giảm kích hoạt quá mức của hệ thần kinh giao cảm, tăng cường trương lực phó giao cảm và cải thiện khả năng điều hòa căng thẳng. Tất cả đều là những cơ chế gắn liền với sự ổn định cảm xúc và sức khỏe lâu dài.
Một hệ thần kinh thực vật ổn định là nền tảng của sức khỏe. Khi thoát khỏi sự chi phối ưu thế của hệ thần kinh giao cảm, cơ thể sẽ kiểm soát xung động tốt hơn, bớt phản ứng cảm xúc thái quá, giảm tình trạng viêm, và khôi phục khả năng tự chữa lành vốn có của cơ thể. Những cơ chế này đã nhiều lần được ghi nhận trong các nghiên cứu thần kinh sinh lý học về thiền định.
Pháp luân Đại pháp đặc biệt chú trọng đến việc tu dưỡng đạo đức, khuyến khích người tập điều chỉnh tư tưởng và hành vi phù hợp với nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn, như được trình bày trong cuốn sách chỉ đạo tu luyện “Chuyển Pháp Luân”. Thông qua việc khuyến khích buông bỏ những chấp trước quá mức vào danh vọng, lợi ích vật chất, hưởng thụ, oán giận và các ham muốn xuất phát từ cái tôi, Pháp luân Đại pháp trực tiếp tác động đến căn nguyên tâm lý của các hành vi nghiện ngập và tự hủy hoại.
Về mặt lâm sàng, sự tái định hướng đạo đức này có thể giúp giảm hành vi tìm kiếm phần thưởng mang tính cưỡng bức, đồng thời tăng cường khả năng phục hồi cảm xúc vốn liên quan mật thiết đến sự gia tăng các ca tử vong do tuyệt vọng ở cấp độ dân số, như được đề cập trong bài viết trên JEEA.
Khi nhân cách thay đổi, hành vi thay đổi và khi hành vi thay đổi, sinh lý học sẽ theo sau. Nhiều học viên Pháp luân Đại pháp cho biết họ trở nên điềm tĩnh hơn, tích cực hơn và giàu lòng trắc ẩn hơn – những phẩm chất tạo ra ít gánh nặng căng thẳng hơn đáng kể cho não bộ và cơ thể.

Nghiên cứu của JEEA đặt ra một câu hỏi quan trọng: Điều gì đang lấp đầy khoảng trống khi đời sống tâm linh bị đánh mất? Mạng xã hội mang lại kích thích nhưng thiếu ý nghĩa, giải trí tạo ra sự xao lãng mà không đem lại mục đích; thuốc men điều trị triệu chứng nhưng không khôi phục bản sắc cá nhân. Y tế công cộng không thể giải quyết triệt để sự tuyệt vọng nếu bỏ qua đời sống tinh thần của con người.
Vấn đề cốt lõi không nằm ở sự đối lập giữa tôn giáo và thế tục. Điều then chốt là liệu xã hội hiện đại còn có bất kỳ khuôn khổ nào có thể duy trì cộng đồng đạo đức, củng cố các thực hành tự điều chỉnh hàng ngày và mang lại một ý thức mục đích chung hay không. Khi những nền tảng này suy yếu, sự tuyệt vọng trở nên dễ phát sinh hơn và y học đơn thuần không thể bù đắp được khoảng trống đó.
Tiếp tục với phép ẩn dụ cơ thể con người như một chiếc xe thì tâm linh chính là người cầm lái mang chí hướng, lương tri, khả năng kiềm chế và mục đích sống. Nhưng [đáng tiếc], điều quan trọng như vậy lại thường bị loại ra khỏi hệ thống chăm sóc sức khỏe hiện đại. Khi người cầm lái mất phương hướng hoặc bị tách rời khỏi ý nghĩa sống thì không một mức độ sửa chữa cơ học nào có thể ngăn chặn những va chạm lặp đi lặp lại.

Nhiều cuộc khủng hoảng sức khỏe nghiêm trọng hiện nay có thể không chỉ là thất bại cơ học của cơ thể, mà còn là sự đổ vỡ về ý nghĩa, mục đích và định hướng đạo đức. Đức tin và sức khỏe tâm linh không đối nghịch với y học, mà bổ trợ cho y học trong việc định hình hành vi. Hành vi định hình não bộ và não bộ định hình sức khỏe.
Nếu muốn giảm sự tuyệt vọng, nghiện ngập và tử vong sớm, chúng ta cần một lần nữa chăm sóc con người phía sau tay lái. Chữa lành thực sự không chỉ bắt đầu từ [lớp vỏ bọc] cơ thể [vật chất ở bên ngoài], mà còn từ việc khôi phục ý nghĩa sống cho con người ở bên trong đó.
Theo Tiến sĩ Dương Cảnh Đoan, The Epoch Times
