Đời Sống

Từng được bầy sói nuôi dưỡng, “cậu bé sói” Tây Ban Nha qua đời ở tuổi 80

Khi còn nhỏ, ông Marcos Rodríguez Pantoja đi chân trần, gần như không mặc quần áo sống cùng một bầy sói giữa vùng núi sâu, ông chưa từng bị cái lạnh và sự cô độc làm phiền. Thế nhưng, sự lạnh lùng của thế giới loài người lại khiến ông cả đời khó thích nghi.

(Ảnh minh họa: Shutterstock)

Trong tháng này, “cậu bé sói” Tây Ban Nha Marcos đã qua đời, hưởng thọ 80 tuổi. Câu chuyện cuộc đời huyền thoại của ông khiến người ta khó có thể tin được.

Ông Marcos sinh năm 1946 tại một ngôi làng nhỏ tên Añora ở miền Nam Tây Ban Nha. Mẹ ruột không may qua đời khi ông mới 3 tuổi, mẹ kế luôn ngược đãi ông, còn cha cũng rất lạnh nhạt.

Khoảng 7 tuổi, do gia đình cực kỳ nghèo khó, cha ông bán ông cho một chủ trang trại. Người này đưa ông đến dãy núi Morena để giúp một người chăn cừu già làm việc. Ông lão chăm sóc Marcos, dùng da thú để giữ ấm cho ông, dạy ông vắt sữa dê, đồng thời dạy ông cách săn thỏ rừng.

Không lâu sau, người chăn cừu già qua đời, ông Marcos tự mình sinh tồn bằng những kỹ năng đã học được. Vì nhiều năm chịu đựng những trận đòn của mẹ kế, ông thà sống một mình trên núi còn hơn tiếp xúc với con người, vì vậy chưa bao giờ ông tìm cách rời đi. Mỗi khi nghe thấy tiếng người, ông đều trốn đi. Khi lực lượng Vệ binh Dân sự phát hiện ra ông, ông đã 19 tuổi.

Nhiều năm trước, trong một cuộc phỏng vấn với Đài BBC, Marcos cho biết ông đã hình thành mối liên kết đặc biệt với một bầy sói.

Ông nói: “Một ngày nọ, tôi đi vào một hang núi và bắt đầu chơi với những con sói con sống ở đó, rồi ngủ quên. Sau đó, sói mẹ mang thức ăn về cho chúng, tôi liền tỉnh dậy.”

“Nó nhìn thấy tôi, hung dữ nhìn chằm chằm vào tôi. Sói mẹ bắt đầu xé thịt thành từng miếng. Một con sói con tiến lại gần tôi, tôi thử giành thức ăn của nó vì tôi cũng đói. Sói mẹ vung móng vuốt về phía tôi, nên tôi lùi lại.”

“Sau khi cho đàn con ăn xong, nó ném một miếng thịt về phía tôi. Ban đầu tôi không muốn chạm vào, tưởng rằng nó định tấn công tôi, nhưng nó lại dùng mũi đẩy miếng thịt về phía tôi. Tôi nhận lấy miếng thịt và ăn. Tôi tưởng nó sẽ cắn mình, nhưng nó lại thè lưỡi ra và bắt đầu liếm tôi. Kể từ đó, tôi trở thành một thành viên của gia đình này.”

Trong cuộc phỏng vấn với Đài Phát thanh và Truyền hình Tây Ban Nha, ông nói: “Khi đó tôi sống rất tốt, tôi không biết tiền là gì, nhưng chưa bao giờ thiếu thức ăn.”

“Nếu muốn ăn cá, tôi ra sông câu; nếu muốn ăn thỏ rừng, tôi đi bắt một con; nếu muốn ăn thịt hươu, tôi gọi cha mẹ mình, tức là bầy sói. Tôi tru lên như sói, trốn trong sông, bầy sói sẽ lùa hươu đến trước mặt tôi”.

“Các loài động vật chỉ cho tôi biết nên ăn gì. Chúng ăn gì thì tôi ăn thứ đó. Lợn rừng ăn các loại củ nằm vùi dưới đất. Chúng dựa vào khứu giác để tìm những củ này. Khi chúng đào bới trong đất để tìm kiếm, tôi ném một hòn đá về phía chúng, chúng sẽ chạy đi, rồi tôi lấy trộm những củ đó.”

Ông Marcos nói, chính những mối quan hệ này đã xua tan sự cô đơn. Chỉ khi không nghe thấy tiếng động vật, ông mới cảm thấy cô độc. Những lúc như vậy, ông sẽ bắt chước tiếng kêu của chúng. Khi về già, ông vẫn có thể bắt chước tiếng của sói, hươu, cáo, đại bàng và các loài động vật khác.

“Chỉ cần chúng đáp lại, tôi có thể yên tâm ngủ, bởi tôi biết chúng không bỏ rơi tôi.”

Ông Marcos luôn nói với người khác rằng, những năm tháng hạnh phúc và vui vẻ nhất trong cuộc đời ông chính là khoảng thời gian sống cùng bầy sói. Ông thích sự yên tĩnh của núi rừng, cũng thích trạng thái giản dị khi ở bên các loài động vật.

Tuy nhiên, cuộc sống ấy đột ngột chấm dứt khi ông 19 tuổi. Một ngày nọ, lực lượng Vệ binh Dân sự phát hiện ra ông Marcos, người đang quấn da hươu, tóc tai rối bù, rồi trói hai tay ông và cưỡng ép đưa ông xuống một ngôi làng dưới chân núi.

Cha ông được đưa đến để nhận dạng ông.

“Khi nhìn thấy ông ấy, tôi không có cảm giác gì cả. Ông ấy chỉ hỏi tôi một câu: ‘Áo của con đâu?’ Cứ như thể tôi vẫn sẽ mặc bộ quần áo mà tôi đã mặc khi rời đi vậy!”

Vì cha Marcos không có ý định đưa ông về nhà, cảnh sát đã để ông lại tại một quảng trường công cộng.

“Tôi không biết phải đi đâu. Tôi chỉ muốn chạy trốn lên núi”, ông nói.

Điều khiến ông Marcos bất an nhất chính là sự ồn ào và cảnh người qua lại đông đúc ở nơi con người sinh sống.

“Tôi thực sự không chịu nổi thứ tiếng ồn lớn như vậy… ô tô… và những dòng người đi qua đi lại như đàn kiến. Ít nhất kiến còn đi theo cùng một hướng, còn con người thì chạy tán loạn khắp nơi! Tôi thậm chí còn sợ sang đường.”

Trở lại thế giới loài người và học lại cách “làm người” là một hành trình dài. Ông Marcos phải học lại ngôn ngữ, học đi thẳng bằng hai chân, học cách ngủ trên giường.

Lần đầu tiên đối diện với một bát súp, ông không biết phải làm gì. Ông cẩn thận quan sát một hồi, rồi đưa hai bàn tay ra hứng và bất ngờ thọc tay vào bát. Khi nước súp nóng bỏng chạm vào tay, ông giật mình, khiến chiếc bát rơi xuống vỡ tan, mảnh vỡ và súp vương vãi khắp nơi.

Ban đầu ông Marcos sống cùng một linh mục, sau đó lại sống với các nữ tu ở thủ đô Madrid. Các nữ tu dạy ông ngôn ngữ và những quy tắc ứng xử.

“Họ dạy tôi cách ăn uống đúng cách, còn đặt một miếng gỗ lên lưng tôi, giúp tôi giữ thẳng lưng khi đi.”

Những người gặp ông Marcos lần đầu nhớ lại rằng khi ấy ông đi lại với chiếc lưng còng, chân vòng kiềng trông giống như một con khỉ.

Marcos nhớ lại rằng ông từng phải ngồi xe lăn một thời gian, vì bác sĩ đã cắt hết lớp chai trên chân ông, khiến ông tạm thời không thể đi lại.

Sau khi rời khỏi các nữ tu, ông Marcos làm hết công việc lao động chân tay này đến công việc khác, đồng thời từng có một thời gian ngắn phục vụ trong quân đội.

Những người quen biết ông nói rằng ông chất phác, tốt bụng, có phần trẻ con, hoàn toàn thiếu hiểu biết về xã hội và đời sống giao tiếp, không giỏi giao tiếp, hơn nữa tiếng Tây Ban Nha cũng không lưu loát.

Mọi người thường lợi dụng sự ngây thơ của Marcos để lừa gạt và ngược đãi ông. Ông từng bị các chủ thuê trong ngành khách sạn và xây dựng bóc lột, đồng thời chưa bao giờ thực sự hòa nhập hoàn toàn vào xã hội.

Ông sống một cuộc đời khốn khổ ở Málaga cho đến khi gặp một viên cảnh sát đã nghỉ hưu, người mời ông đến sống tại một ngôi làng nhỏ tên Rante. Tại đây, ông nhận được sự chấp nhận và chăm sóc của một số dân làng, cảm nhận được chút hơi ấm tình người, vì vậy ông sống tại Rante cho đến khi qua đời.

Ông từng nói với phóng viên của The Guardian: “Phần lớn cuộc đời tôi, tôi luôn gặp rất nhiều khó khăn khi sống cùng con người.”

“Khi con người nói chuyện, có thể miệng nói một đằng nhưng trong lòng nghĩ một nẻo. Động vật thì không như vậy.”

Ông luôn cảm thấy rất khó hòa nhập với mọi người. Con người cảm thấy bối rối trước sự thiếu hiểu biết của ông, rồi lại nổi giận vì ông không thể giao tiếp.

“Tôi liên tục phải chịu sự sỉ nhục. Trong đám đông, tôi học được cách căm ghét, cũng học được cảm giác xấu hổ”.

Đó là năm 2018, khi ông đã ngoài 70 tuổi. Trong lúc nói chuyện với phóng viên, ông vẫn khó nhìn thẳng vào mắt đối phương, rụt rè và khép nép, dường như luôn chờ đợi một ánh mắt khinh miệt từ người đối diện.

Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, bởi ngoài việc bị xã hội xa lánh, trong nhiều năm, người ta vẫn không tin câu chuyện ông Marcos kể về việc sống cùng bầy sói trên núi. Mọi người chỉ coi ông là một kẻ ngốc hoặc một người nghiện rượu.

“Ban đầu, khi nghe câu chuyện này, tôi không tin ông ấy. Tôi nghĩ, ‘Không thể nào.’” Giáo sư đại học, nhà nhân học và nhà văn Tây Ban Nha Gabriel Janer Manila nói.

“Nhưng lời kể của ông ấy nhất quán từ đầu đến cuối, lại rất chi tiết, hơn nữa mỗi lần tôi hỏi về những chuyện này, ông ấy đều thuật lại bằng những câu chữ giống hệt nhau. Vì vậy, trong lòng tôi quyết định rằng nhất định phải điều tra mọi chuyện cho rõ ngọn ngành.”

Vào những năm 1970, sau khi tiến hành các cuộc phỏng vấn chi tiết kéo dài nửa năm với ông Marcos, ông Manila đã đến thăm những địa điểm Marcos đề cập và trò chuyện với những người mà ông nhắc đến.

“Tôi đã phỏng vấn những người từng tiếp xúc với ông ấy khi ông ấy được phát hiện, những người từng cưu mang ông ấy, nhân viên đầu tiên tắm cho ông ấy, cũng như các chủng sinh (người học ở chủng viện) từng chăm sóc ông ấy…

Tất cả những người này đều nhấn mạnh tính hoang dã của ông ấy, sự thiếu hiểu biết của ông ấy đối với xã hội, cũng như việc ông ấy không thể tuân theo các quy tắc của trò chơi. Những mô tả này phù hợp với những gì ông Marcos kể với tôi.”

Chính nhờ ông Manila mà câu chuyện của ông Marcos mới được biết đến rộng rãi. Ông Manila đã viết luận án tiến sĩ với đề tài vụ việc của ông Marcos, và nhiều năm sau xuất bản một cuốn tiểu thuyết dựa trên cuộc đời Marcos.

Năm 2010, một bộ phim dựa trên cuộc đời Marcos được công chiếu. Đến lúc này, nhiều người mới tin vào câu chuyện huyền thoại về “cậu bé sói”.

Ông Marcos đột nhiên trở nên nổi tiếng. Các phóng viên và người hâm mộ tìm đến, muốn trò chuyện với ông. Người ta viết thư cho ông, có người muốn tìm hiểu về ông, có người muốn xin lời khuyên của ông, cũng có người bày tỏ mong muốn chăm sóc ông.

“Thỉnh thoảng lại có người tìm đến tôi. Có người nghĩ tôi rất giàu, cố gắng lợi dụng tôi. Tôi chẳng có lấy một xu!”

Ông tiết lộ, từng có một phụ nữ đến thăm ông và bày tỏ tình cảm yêu đương với ông. “Cô ấy muốn hiến thân cho tôi, còn nói rằng chúng tôi nên cùng nhau làm ăn. Tôi nghĩ có lẽ cô ấy tưởng tôi đã kiếm được rất nhiều tiền từ bộ phim đó”.

Marcos không thể hiểu tại sao câu chuyện của ông suốt nhiều thập niên không một ai quan tâm, nhưng 40 năm sau khi ông Manila lần đầu viết câu chuyện này, nó lại đột nhiên khiến ông nổi tiếng khắp trong và ngoài nước.

“Ban đầu họ hoàn toàn không muốn nghe bất kỳ lời nào tôi nói. Bây giờ họ lại cứ muốn nghe. Rốt cuộc họ muốn gì?”

Đối với ông, sự ngưỡng mộ đột nhiên tràn đến trong một thời gian ngắn ấy lại là một điều kỳ lạ khiến ông tổn thương và khó hiểu.

Trịnh Hú Đình

Published by
Trịnh Hú Đình

Recent Posts

Hiệu trưởng Nepal cứu sống 900 học sinh giữa trận lũ kinh hoàng

Một học sinh cho biết quyết định của Dawadi đã cứu mạng các em trong…

30 phút ago

TP.HCM bố trí 8 nơi tiếp nhận hơn 26 triệu m3 bùn nạo vét

TP.HCM vừa công bố danh mục 8 khu vực có thể tiếp nhận bùn, đất…

1 giờ ago

Các nghiên cứu về hiệu quả của vắc-xin cúm có sai sót lớn

Các nghiên cứu ước tính hiệu quả của vắc-xin cúm có một sai sót đáng…

1 giờ ago

Chuyển hóa hay hủy diệt: Bài học từ con trai và ngựa hoang

Có người nhai đi nhai lại nỗi ấm ức, khiến một chuyện nhỏ trở thành…

1 giờ ago

Mini game “Ai đã cùng bạn lớn lên?” khuyến khích học sinh lan tỏa những câu chuyện tử tế

Các tác phẩm đạt giải sẽ nhận được Giấy chứng nhận Đại sứ cuộc thi…

3 giờ ago

Mất tích một năm không tin tức, cụ bà 72 tuổi bất ngờ bị tuyên án 4 năm tù

Trường hợp của bà Viên Thục Phương không phải là cá biệt.

3 giờ ago