Người chuyển giới Luka Hein phát biểu tại tòa nhà Quốc hội bang California ở Sacramento vào ngày 28/3/2023. (Ảnh: John Fredricks/ Epoch Times)
Một trong những kiến trúc sư của bản đánh giá do Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ (HHS) thực hiện về các can thiệp y khoa đối với chứng rối loạn nhận dạng giới ở trẻ em, cho biết trong một cuộc phỏng vấn gần đây rằng gian lận là một phần không thể tách rời của lĩnh vực y tế chuyển giới.
Gần một năm sau khi Tổng thống Donald Trump ký một sắc lệnh hành pháp nhằm bảo vệ “trẻ em khỏi sự tàn phá bằng hóa chất và phẫu thuật“, ông Leor Sapir — người đã tập hợp một nhóm chuyên gia để thực hiện bản đánh giá của HHS — nhấn mạnh rằng các bác sĩ dựa vào những hướng dẫn “khẳng định giới” chưa được kiểm chứng, đang gây hiểu lầm cho bệnh nhân.
Là tác giả báo cáo của HHS và là nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Manhattan, ông Saphir nói với The Epoch Times rằng không có bằng chứng vững chắc nào cho thấy thuốc ức chế dậy thì, hormone hay phẫu thuật, mang lại lợi ích cho những trẻ em không chấp thuận giới tính sinh học của mình; ngược lại, có bằng chứng cho thấy các thủ thuật này có thể gây hại.
Báo cáo dài 409 trang của HHS nêu rõ rằng liệu pháp tâm lý, thay vì các can thiệp y khoa chưa được kiểm chứng, mang lại nhiều lợi ích hơn cho trẻ em mắc chứng rối loạn nhận dạng giới, qua đó củng cố nhu cầu áp dụng các phương pháp dựa trên bằng chứng.
“Gian lận không chỉ là một đặc điểm, hay nói đúng hơn, nó không chỉ là điều thỉnh thoảng xảy ra trong lĩnh vực này. Nó gần như là một yếu tố cơ bản của chính lĩnh vực này,” ông Sapir nói trong một cuộc phỏng vấn với người dẫn chương trình Jan Jekielek của ‘American Thought Leader’, được phát sóng vào ngày 15/1.
Ông Sapir cho biết các bác sĩ và tổ chức thường dựa vào các hướng dẫn của Hiệp hội Chuyên môn Thế giới về Sức khỏe Người Chuyển giới (WPATH), một tổ chức mà ông mô tả là nhóm hoạt động chính trị nhưng tự giới thiệu mình như một tổ chức y khoa. Nhóm này có vai trò then chốt trong việc định hình thực hành hiện nay.
Theo ông Sapir, WPATH không khuyến nghị việc đánh giá sức khỏe tâm thần và còn giúp đảm bảo các thủ thuật này được bảo hiểm chi trả.
Ông Sapir nói thêm rằng một vụ kiện tại tiểu bang Alabama liên quan đến WPATH đã tiết lộ các tài liệu nội bộ cho thấy tổ chức này đã che giấu những phát hiện tiêu cực về các phương pháp điều trị cho trẻ em chuyển giới.
Theo ông Sapir, các nhóm như Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ, WPATH và Hiệp hội Nội tiết học, thường viện dẫn hướng dẫn của nhau như bằng chứng cho thấy các phương pháp điều trị này là an toàn.
Theo báo cáo, một phần sự ủng hộ đối với việc chuyển giới y khoa cho trẻ em xuất phát từ việc vấn đề này được đóng khung như một vấn đề quyền dân sự. Điều này cũng khiến nhiều người trong cộng đồng y khoa phớt lờ các bằng chứng phản đối và hạn chế tranh luận.
Các tổ chức y khoa thường thành lập các ủy ban chuyên biệt để khuyến nghị các phác đồ điều trị cho trẻ em mắc chứng rối loạn nhận dạng giới. Ví dụ, một số ủy ban tập trung vào các vấn đề LGBT [đồng tính luyến ái] và theo báo cáo, sự nghiệp của các thành viên phụ thuộc vào việc ủng hộ chuyển giới ở trẻ em.
Báo cáo của HHS, mang tên “Điều trị Chứng Rối loạn Nhận dạng Giới ở Trẻ em: Đánh giá Bằng chứng và Thực hành Tốt nhất”, ban đầu được công bố vào tháng 5/2025. Mặc dù nhận được nhiều đánh giá tích cực từ giới học thuật vào tháng 11/2025, báo cáo này cũng vấp phải phản ứng dữ dội từ những người ủng hộ can thiệp y khoa cho chứng rối loạn nhận dạng giới.
Ông Sapir lưu ý rằng bản đánh giá của HHS là độc đáo vì đây là bản đầu tiên đề cập đến khía cạnh đạo đức của việc chuyển giới y khoa cho trẻ em và phê phán cách sử dụng ngôn ngữ mô tả không chính xác các thủ thuật.
“Có vẻ như điều này hiển nhiên đến mức trực giác cũng nhận ra rằng rốt cuộc đây là một cuộc tranh luận mang tính đạo đức,” ông Sapir nói.
Các cân nhắc đạo đức bao gồm việc xem xét rủi ro và lợi ích của điều trị, cũng như khái niệm quyền tự chủ của bệnh nhân — tức là quyền được lựa chọn có thực hiện một thủ thuật hay không.
Báo cáo đặt đạo đức y khoa trong bối cảnh lịch sử, nhắc đến Lời thề Hippocrates – một văn bản đạo đức cổ xưa dành cho các y sĩ, được đặt theo tên Hippocrates, cha đẻ của y học phương Tây – và nguyên tắc “không gây hại”.
Một nguy cơ tiềm ẩn là trẻ em mắc chứng rối loạn nhận dạng giới, thường sau này tự nhận mình là người đồng tính, do đó chúng bị ảnh hưởng không cân xứng bởi việc chuyển giới.
“Dựa trên nghiên cứu, chúng tôi biết rằng một phần đáng kể trong số những đứa trẻ này, nếu không được chuyển đổi về mặt xã hội và y tế, sẽ công khai mình là người đồng tính sau này trong cuộc đời,” ông Sapir nói.
Theo báo cáo của HHS, đạo đức y khoa đã chuyển dần sang mô hình đồng thuận có hiểu biết, nhằm tăng cường bảo vệ bệnh nhân trước các can thiệp y khoa không mong muốn. Tuy nhiên, bác sĩ vẫn có nghĩa vụ bảo vệ và thúc đẩy sức khỏe của bệnh nhân, đặc biệt là khi liên quan đến trẻ em.
“Bệnh nhân không có quyền đòi hỏi bác sĩ phải cung cấp một phương pháp điều trị. Bác sĩ có nghĩa vụ nghề nghiệp và đạo đức chỉ kê đơn những thứ nhiều khả năng mang lại lợi ích cho bệnh nhân hơn là gây hại,” ông Sapir nhấn mạnh. “Nhưng trong bối cảnh y học giới, nguyên tắc tự chủ đã bị diễn giải lại thành việc bác sĩ phải cho bệnh nhân thứ họ muốn.”
Báo cáo đặt nghi vấn về chính ý tưởng cho rằng trẻ em, thậm chí mới 8 hoặc 9 tuổi, đã đủ trưởng thành để hiểu được hậu quả của thuốc ức chế dậy thì và việc chuyển giới y khoa. Các nhà cung cấp dịch vụ y tế “thường không” thông báo cho bệnh nhân rằng không có bằng chứng mạnh mẽ cho thấy các thủ thuật này mang lại lợi ích cho những người mắc chứng rối loạn nhận dạng giới.
Báo cáo cho biết việc sử dụng ngôn ngữ đã “làm méo mó bức tranh lâm sàng” trong y học giới ở trẻ em. Do đó, các bác sĩ nên sử dụng ngôn ngữ chính xác và không gây hiểu lầm.
Các thuật ngữ như “chăm sóc khẳng định giới” cũng bị báo cáo đặt dấu hỏi. Thủ thuật cắt bỏ tuyến vú ở những phụ nữ khỏe mạnh về mặt thể chất, được gọi bằng những cách nói giảm nhẹ như “phẫu thuật ngực khẳng định giới” hay “phẫu thuật phần trên” thay vì gọi đúng là phẫu thuật cắt bỏ vú.
Tương tự, các cụm từ như “giới tính được xác định khi sinh” được sử dụng trong ngành này ngụ ý rằng giới tính được xác định một cách chủ quan chứ không phải dựa trên cơ sở sinh học.
Theo báo cáo, “Hướng dẫn phong cách của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ, chẳng hạn, phân loại ‘giới tính khi sinh’ và ‘giới tính bẩm sinh’ là ‘những thuật ngữ mang tính miệt thị’” vì chúng hàm ý rằng giới tính không thể thay đổi.
Bài kiểm tra được dùng để xác định một đứa trẻ có phải là người chuyển giới hay không, theo báo cáo, chỉ đơn giản là hỏi chính đứa trẻ đó. Theo những người ủng hộ mô hình khẳng định giới, trẻ em biết rõ mình là ai.
“Trong lĩnh vực y học giới tính nhi khoa, có một nỗ lực có chủ đích, có hệ thống nhằm điều trị trẻ em, thậm chí cả những trẻ chưa đến tuổi dậy thì, như thể chúng là người lớn trưởng thành”, ông Sapir lưu ý.
Tối thứ Ba (20/1), chiếc Không lực Một chở Tổng thống Mỹ Donald Trump đã…
Tổng thống Mỹ ông Donald Trump ngày thứ Tư (21/1) đã có bài diễn văn…
Bộ Xây dựng khẳng định đang lập báo cáo nghiên cứu khả thi và sẵn…
Bên ngoài Đại sứ quán Trung Quốc tại Phnom Penh (Campuchia), nhiều thanh niên Trung…
Tờ New York Times đưa tin, chính quyền Trump đã trục xuất khoảng 540.000 người…
2 video liên quan đến bác sĩ Trần Tĩnh Du được lan truyền cho thấy…