Ông David Matas, một luật sư nhân quyền đã thực hiện nghiên cứu điều tra sâu rộng về vấn đề mổ cướp nội tạng do nhà nước hậu thuẫn tại Trung Quốc. (Ảnh: Madalina Vasiliu/The Epoch Times)
Luật sư nhân quyền Canada David Matas cho rằng dự luật bảo vệ Pháp Luân Công mà Thượng viện Mỹ nhất trí thông qua hôm thứ Hai (28/9) có ý nghĩa lớn, vì vượt qua khác biệt chính trị.
Dự luật có tên đầy đủ là Đạo luật Bảo vệ Pháp Luân Công và Nạn nhân Cưỡng bức Thu hoạch Nội tạng (S.4009). Trả lời phỏng vấn Epoch Times, ông Matas, một luật sư nhân quyền quốc tế nổi tiếng, cho rằng chỉ riêng việc Thượng viện thông qua dự luật đã có ý nghĩa lớn.
Trước hết, mọi nỗ lực lập pháp thành công đều có thể trở thành hình mẫu thúc đẩy nhân quyền, giúp các nước khác dễ làm theo hơn, ông Matas giải thích.
“Thượng viện đã thông qua dự luật này, nên giờ đây việc đề xuất điều tương tự với các cơ quan lập pháp khác sẽ dễ dàng hơn,” ông nói.
Thứ hai, dự luật được Thượng viện nhất trí thông qua. Điều đó cho thấy dự luật “nhận được sự ủng hộ rộng rãi, vượt qua khác biệt về chính trị và ý thức hệ”.
Theo ông, ý nghĩa lớn của dự luật “không chỉ nằm ở chỗ Thượng viện đã thông qua, mà còn ở chỗ dự luật được nhất trí thông qua”.
Thứ ba, thời điểm thông qua cũng mang tính biểu tượng. Ông cho rằng dự luật ra đời sớm hơn thì tốt hơn, song việc thông qua vào lúc này vẫn có nghĩa là “Thượng viện Mỹ thừa nhận rằng các nạn nhân Pháp Luân Công vẫn đang bị cưỡng bức thu hoạch nội tạng”.
Ông nhắc đến một nhận định trong dự luật: Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã không đưa ra phản hồi “đầy đủ, đáng tin cậy và có thể kiểm chứng độc lập” trước nhiều yêu cầu của cộng đồng quốc tế. Những yêu cầu này nhằm tăng trách nhiệm giải trình và tính minh bạch trong chính sách và hoạt động ghép tạng của nước này, nhất là trước các cáo buộc cưỡng bức thu hoạch nội tạng.
Nhận định này là một kết luận: Chính phủ Trung Quốc “đã không đáp ứng” các yêu cầu đó, và kết luận ấy vẫn còn hiệu lực tính đến ngày 28/9/2026, ông giải thích. Nói cách khác, việc “không đáp ứng” ấy không chỉ thuộc về quá khứ mà vẫn kéo dài đến nay.
Ông Matas cho biết dự luật tuy không trực tiếp kết luận học viên Pháp Luân Công là nạn nhân của nạn cưỡng bức thu hoạch nội tạng, mà chỉ nêu “những mối lo ngại liên quan”. Dù vậy, việc Thượng viện Mỹ sẵn sàng lập pháp để đáp lại những lo ngại này cho thấy cơ quan này coi trọng các bằng chứng và nghiên cứu về vấn đề đó.
Quan trọng hơn, theo ông, các biện pháp mà dự luật đề ra như trừng phạt hay hạn chế nhập cảnh “chỉ có ý nghĩa khi giả định rằng nạn cưỡng bức thu hoạch nội tạng thực sự xảy ra. Nếu không có tội ác này thì cũng không cần đến các biện pháp đó”.
Ông Matas giải thích rằng dự luật dựa trên lập luận: Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) phải chứng minh nạn cưỡng bức thu hoạch nội tạng không tồn tại, chứ không phải Chính phủ Mỹ phải chứng minh tội ác này có thật. Chừng nào ĐCSTQ chưa đưa ra được bằng chứng đáng tin cậy, dự luật mặc định coi đây là sự thật đang diễn ra.
Các biện pháp trừng phạt và những biện pháp khác trong dự luật sẽ có hiệu lực ngay khi Tổng thống ký, không chờ kết quả điều tra, ông nhấn mạnh. Vì vậy, đây không phải “phương án ứng phó có điều kiện”, mà là công cụ chính sách được áp dụng ngay.
“Sẽ là sai nếu hiểu dự luật này như một kế hoạch dự phòng, tức là chỉ đưa ra biện pháp xử lý khi phát hiện hành vi tàn bạo thực sự tồn tại,” ông nói.
Ông đưa ra hai lý do. Thứ nhất, dự luật đề nghị áp dụng các biện pháp ngay sau khi ban hành, không đợi cuộc điều tra mà dự luật giao cho Chính phủ Mỹ kết thúc. Thứ hai, bản thân câu chữ của các biện pháp không được viết theo lối có điều kiện.
Ông Matas nói rõ: “Các biện pháp này được đặt ra để có hiệu lực ngay khi dự luật được Hạ viện thông qua và Tổng thống ký”.
Ông Matas kể ra 4 cơ chế điều tra và thực thi mới mà S.4009 sẽ bổ sung cho Chính phủ Mỹ: trừng phạt, hạn chế nhập cảnh, báo cáo bắt buộc và điều tra nạn cưỡng bức thu hoạch nội tạng có hệ thống tại Trung Quốc, kể cả các trường hợp liên quan đến Pháp Luân Công. “Tất cả các cơ chế này đều lần đầu xuất hiện trong hệ thống pháp luật Mỹ,” ông nói.
Ông Matas là một trong những luật sư nhân quyền quốc tế tiêu biểu nhất của Canada. Nhiều năm nay, ông theo đuổi các vấn đề nhân quyền lớn như bảo vệ người tị nạn, chống diệt chủng, chống ngôn từ thù hận và vạch trần nạn cưỡng bức thu hoạch nội tạng của ĐCSTQ.
Cùng cựu Quốc vụ khanh Canada David Kilgour, ông điều tra cáo buộc ĐCSTQ cưỡng bức thu hoạch nội tạng học viên Pháp Luân Công. Năm 2006, hai ông công bố báo cáo “Thu hoạch đẫm máu” (Bloody Harvest), gây chấn động thế giới. Nhờ công trình điều tra này, cả hai được đề cử giải Nobel Hòa bình năm 2010.
Ông Matas từng nhận Huân chương Canada (Order of Canada) cùng nhiều giải thưởng nhân quyền quốc tế khác.
Ông Matas cho biết kết luận của các nhà nghiên cứu về nạn cưỡng bức thu hoạch nội tạng không dựa trên một bằng chứng đơn lẻ, mà dựa trên nhiều chuỗi bằng chứng. Trong các cuộc điều tra ban đầu, mọi chuỗi bằng chứng nhằm bác bỏ cáo buộc đều không đứng vững, còn mọi chuỗi bằng chứng ủng hộ đều đi đến cùng một kết luận.
“Vấn đề không phải là bằng chứng quá ít, mà là quá nhiều,” ông nói, và cho rằng ĐCSTQ tuy phủ nhận nhưng chưa từng phản bác được bất kỳ bằng chứng then chốt nào trên phương diện sự thật.
Năm 2006, Trung Quốc chưa có hệ thống phân phối nội tạng toàn quốc và nội tạng chủ yếu được lấy tại chỗ, nên học viên Pháp Luân Công, vốn có mặt khắp cả nước, trở thành mục tiêu chính, ông Matas phân tích. Nay Trung Quốc đã lập hệ thống phân phối toàn quốc, khiến nội tạng của người Duy Ngô Nhĩ bị cưỡng bức thu hoạch tại Tân Cương có thể nhanh chóng chuyển đến khắp nơi trong nước.
Ông nêu 4 lý do khiến học viên Pháp Luân Công trở thành nhóm nạn nhân chính: số người tập rất đông (ước tính khoảng 100 triệu người trước khi cuộc đàn áp bắt đầu), có mặt khắp cả nước, bị bôi nhọ và phi nhân hóa một cách có hệ thống, và người tập có sức khỏe tốt, nội tạng chất lượng cao.
Với ông, S.4009 là sự xác nhận cho những phát hiện mà giới điều tra, nghiên cứu về nạn cưỡng bức thu hoạch nội tạng đưa ra suốt nhiều năm. “Thượng viện chỉ thông qua một dự luật như vậy khi đã xem xét nghiêm túc bằng chứng của các nhà nghiên cứu,” ông nói.
Dự luật của Thượng viện Mỹ, theo ông, đã tạo ra một hình mẫu để chính phủ các nước khác tham khảo, và cũng sẽ khiến thêm nhiều nạn nhân cùng gia đình họ dám lên tiếng. Ông Matas nói: “Dự luật cho thấy Thượng viện Mỹ thấu hiểu sâu sắc nỗi đau của các nạn nhân, điều này giúp họ cảm thấy an toàn hơn”.
Ông Matas cho biết Canada đã có luật nhập cư tương tự. Các nước cùng chí hướng thường học hỏi lẫn nhau, và hành động của Mỹ sẽ khiến các nước khác tự hỏi: “Tại sao chúng ta không làm như vậy?”
Về khoảng trống trong luật pháp quốc tế, ông nói hiện mới chỉ có Công ước của Ủy hội châu Âu về chống buôn bán nội tạng người, với 16 nước tham gia, và cần thêm nhiều nước gia nhập.
Ông cũng cho rằng S.4009 có thể trở thành chất xúc tác thúc đẩy Liên Hợp Quốc hành động: “Liên Hợp Quốc hiện chưa quan tâm đúng mức đến nạn buôn bán nội tạng xuyên quốc gia. Dự luật này có thể là cú hích then chốt để các tổ chức đa phương vào cuộc”.
Dự luật hiện chưa thành luật, vì vẫn cần Hạ viện thông qua và Tổng thống ký, ông Matas lưu ý, đồng thời cho rằng cần xây dựng một khuôn khổ ứng phó quốc tế toàn diện. Ông nói thêm: “Bất kỳ ai cũng có thể viết thư hoặc liên hệ với đại biểu dân cử của mình để yêu cầu hành động”.
Ông Matas nhận xét sau hơn 20 năm nỗ lực, tiến trình ngăn chặn nạn cưỡng bức thu hoạch nội tạng trước nay luôn chậm chạp, nay cuối cùng đã có bước đột phá. Điều này khiến ông phần nào được an ủi.
Bài liên quan:
Cáo trạng cho rằng ông Lui biết rõ người dùng cuối thực sự của số…
Người thứ tư, một lập trình viên vừa tròn 18 tuổi hồi tháng 8, đã…
Tàu Crew Dragon của SpaceX chở 4 phi hành gia Mỹ, Canada và Nga đã…
Gửi kèm séc là một lá thư có chữ ký của ông Trump.
Khu trung tâm hành chính mới của Nghệ An có tổng diện tích 41,76ha, gồm…
Phim Digger của Tom Cruise biến mất khỏi lịch chiếu nhiều rạp tại Hồng Kông,…