Ngày 17/7/1937, Tưởng Giới Thạch đọc bài diễn văn nổi tiếng tại Lư Sơn: Biến cố Lư Câu Kiều đã đến thời khắc cuối cùng không thể tránh được, “Không còn cơ hội thỏa hiệp. Nếu từ bỏ tấc đất, tấc chủ quyền nào thì sẽ là tội nhân thiên cổ của dân tộc Trung Hoa!” (Ảnh: phạm vi công cộng)
Có lần, một giáo sư Đại học Bắc Kinh nói với tôi: Đài Loan hưng thịnh, phát đạt ngày nay là nhờ năm xưa ông Tưởng Giới Thạch rút ra đảo, mang theo vài triệu lượng vàng trong quốc khố.
Câu nói ấy khiến tôi rất sửng sốt: người ta chỉ thấy giá trị của hàng triệu lượng vàng, mà không thấy thứ ông Tưởng mang theo còn quý giá hơn, thậm chí vô giá, là gì?
Nhìn cuộc đại triệt thoái năm 1949, người đời thường chỉ thấy chính phủ Quốc dân thất bại, giang sơn đổi chủ. Khi bóng ma Mác-Lênin từ phương Tây tới dấy lên làn sóng đỏ ngập trời ở Đại Lục, điên cuồng tàn sát nền văn minh Trung Hoa 5.000 năm, người ta không nhận ra đó là một cuộc đại di cư liên quan đến sự tồn vong của văn minh Hoa Hạ. Hòn đảo Đài Loan trơ trọi ngoài biển khơi đã lặng lẽ gánh vác sứ mệnh bi tráng nhất trong lịch sử nhân loại.
Nay 77 năm đã qua. Một bên là chính quyền bạo ngược của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) bước vào hoàng hôn của lịch sử giữa cảnh đạo đức suy đồi, thể chế mục ruỗng. Bên kia là Đài Loan dung hợp trọn vẹn sự nhân hậu truyền thống với nền hiến chính hiện đại, nở rộ đóa hoa văn minh thịnh vượng.
Lịch sử giao nhau ở thời khắc này, và tội danh “chia cắt” mà ĐCSTQ áp lên hai bờ eo biển đã hóa thành một chiếc boomerang chí mạng bay ngược vào tim chính nó. Đài Loan không phải tàn cục của một triều đình an phận một góc, mà là “con thuyền Noah” của văn minh Thần Châu nhổ neo trước cơn hồng thủy nhấn chìm tất cả.
Từ tháng 12/1948 đến tháng 2/1949, cổ vật của Cố cung được chia làm 3 đợt, tổng cộng 2.972 thùng, lần lượt do tàu Trung Đỉnh, tàu Hải Hỗ và chiến hạm Côn Lôn áp tải tới Cơ Long. Trong đó có những quốc bảo như Thúy ngọc bạch thái (cây cải thảo bằng ngọc bích), bức thư pháp Khoái tuyết thời tình thiếp, chiếc đỉnh đồng Mao Công đỉnh.
Không một tờ giấy, một miếng ngọc nào hư hại. Số cổ vật này đã tránh được kiếp nạn “phá tứ cựu” thời Cách mạng Văn hóa. Trước khi ác ma đỏ hoành hành khắp Thần Châu, Trung Hoa Dân Quốc đã đưa mạch văn hóa Trung Hoa lên thuyền vượt biển.
Năm ấy, thứ được mang đi không chỉ là vài triệu lượng vàng trong quốc khố, mà còn là linh hồn của cả một nền văn minh 5.000 năm. Gần 3.000 thùng hiện vật của Bảo tàng Cố cung, với hơn 600 nghìn món thư pháp, danh họa các đời, đồ đồng thời Thương, Chu và sách quý bản độc nhất thời Tống, Nguyên, đã vượt eo biển giữa khói lửa chiến tranh mà không suy suyển chút nào, như một kỳ tích.
Trong số các bậc học giả uyên bác như Trần Dần Khác, Hồ Thích, Phó Tư Niên, Tiền Mục, người nhận lời mời sang Đài Loan, người tạm cư ở Hồng Kông, Cửu Long. Đạo thống chân chính của tư tưởng và học thuật Hoa Hạ đã bị nhổ rễ, phải lưu vong giữa muôn vàn hoạn nạn. Đây tuyệt nhiên không phải cuộc tháo chạy bị động sau thất bại quân sự, mà là cuộc tự cứu và di dời của một nền văn minh, như có sự an bài trong cõi vô hình.
Điều này khiến người ta không khỏi nhớ tới trận đại hồng thủy thời thái cổ được ghi trong sách Sáng Thế Ký. Trước khi sóng dữ ngập trời nuốt chửng mặt đất, Thần đã truyền bảo Noah đóng thuyền, đưa hạt giống của muôn loài lên thuyền.
Khi ấy trời quang vạn dặm, người xung quanh đều cho Noah là kẻ điên, ra sức chế giễu, châm chọc. Chỉ có Noah một mình đốn gỗ đóng thuyền trong cô quạnh, lặng lẽ chờ khoảnh khắc mây đen che kín mặt trời.
Đài Loan năm 1949, giữa lúc lịch sử đang “trời quang” và người ta còn say sưa trong cơn cuồng hoan “giải phóng” của ĐCSTQ, há chẳng phải cũng hứng chịu ánh mắt lạnh lùng và sự hiểu lầm của cả thế giới, một mình đóng con thuyền chở huyết mạch văn minh Trung Hoa trên bờ vực cheo leo đó sao?
Nhìn lại sau 77 năm, Đại Lục đã trải qua chiến dịch chống phái hữu, nạn đói lớn, “phá tứ cựu” thời Cách mạng Văn hóa, cuộc thảm sát năm 1989, cuộc bức hại những người tu luyện có chính tín từ năm 1999, cho đến ngày nay khi toàn dân bị giam hãm sau bức tường cao kỹ thuật số và trong trại tập trung tư tưởng. Hệ sinh thái văn minh ở đó gần như hoang tàn.
Trong khi đó, hòn đảo Đài Loan rộng 36 nghìn km2 không những không bị sóng dữ nuốt chửng, mà còn hun đúc thành một khối những gì tinh túy nhất của dân tộc Trung Hoa (ôn, lương, cung, kiệm, nhượng), nền văn hóa truyền thống quý giá nhất, luân lý làng quê cùng nền hiến chính dân chủ hiện đại và tự do ngôn luận. 77 năm canh giữ ấy không phải sự an phận một góc do tình cờ, mà là sự che chở của Thần dành cho văn minh Trung Hoa.
Nói ông Tưởng mang trên mình một sứ mệnh, có lẽ nhiều người không cho là đúng. Trước hết, hãy cùng nhìn lại nhận thức sâu sắc suốt nửa thế kỷ của Tưởng Trung Chính (tức Tưởng Giới Thạch) về chủ nghĩa cộng sản.
Những năm đầu thời Dân Quốc, vô số người trong giới trí thức và chính giới bị Lenin mê hoặc. Ngay cả Quốc phụ Tôn Trung Sơn thời kỳ đầu, vì cân nhắc thực tế để tranh thủ viện trợ quốc tế, cũng áp dụng sách lược “liên Nga dung Cộng”.
Thế nhưng, chính Tưởng Trung Chính, người từng đặt chân vào tận sào huyệt đỏ, với nền Nho học thấm nhuần sâu sắc và khứu giác chính trị nhạy bén, mới là người sớm nhất nhìn thấu bản chất khát máu của bóng ma đến từ phương Tây này.
Bước ngoặt lịch sử là năm 1923. Nhận lệnh Tôn Trung Sơn, Tưởng Trung Chính dẫn “Phái đoàn Tiến sĩ Tôn Dật Tiên” sang Moscow khảo sát 3 tháng. Chuyến đi gần 100 ngày ấy đã đập tan chút ảo tưởng lãng mạn ban đầu của ông về cách mạng Xô viết.
Trong nhật ký và trong mật thư gửi Liêu Trọng Khải, ông nói thẳng rằng nước Nga Xô viết miệng nói chống chủ nghĩa đế quốc nhưng thực ra ôm dã tâm, là thứ “chủ nghĩa đế quốc đỏ” còn kín đáo và tàn bạo hơn. Chính trị của Nga Xô viết chuyên chế độc đoán, coi thường phẩm giá con người, hoàn toàn không tôn trọng luân lý truyền thống của Đại Lục. Ông cảnh giác tiên đoán: Đảng Cộng sản Nga hoàn toàn không có thành ý, đảng viên ĐCSTQ cam chịu để người ta giật dây, tương lai ắt sẽ thành đại họa của dân tộc Trung Hoa.
Không may, lời ấy đã thành sự thật. Sau năm 1949, nhân dân Trung Quốc sống trong cảnh nước sôi lửa bỏng dưới ách ĐCSTQ.
Năm 1927, khi ĐCSTQ dưới sự giật dây của cố vấn Liên Xô Borodin tìm cách “mượn vỏ lên sàn”, xích hóa toàn bộ cuộc cách mạng quốc dân, Tưởng Trung Chính đã kiên quyết phát động thanh đảng, chặn đứng họa đỏ lan rộng. Trong những năm tiễu Cộng ở Giang Tây và kháng chiến sau đó, ông nhiều lần gọi ĐCSTQ là “cầm thú đội lốt người” và “mặt người dạ thú” trong nhật ký và các văn cáo.
Ông lên án triết lý đấu tranh của ĐCSTQ dùng hận thù giai cấp xé nát tình thân, xúi giục cha con tàn sát nhau, vợ chồng tố giác nhau, bạn bè cắn xé nhau, chà đạp hoàn toàn nền tảng lập quốc 5.000 năm “trung hiếu nhân ái tín nghĩa hòa bình” có từ thời Khổng Mạnh.
Thời kháng chiến, ĐCSTQ theo phương châm “một phần kháng Nhật, hai phần đối phó, 7 phần phát triển”. Nhân lúc quân đội Quốc dân dùng thân xác máu thịt của hàng triệu trung liệt chống giặc Nhật trên chiến trường chính diện, ĐCSTQ mở rộng quân đội, chiếm đất ở hậu phương địch, thậm chí lén lút cấu kết với quân Nhật để làm hao mòn quân đội Quốc dân.
Tưởng Trung Chính hiểu rõ điều này. Cuộc xâm lược của Nhật Bản chỉ là bệnh ngoài da, cắt đất bồi thường vẫn còn ngày thu hồi. Còn sự xâm thực của chủ nghĩa cộng sản là bệnh trong tim gan, một khi bị xích hóa thì tông miếu thành gò hoang, mạch văn đứt đoạn, Thần Châu sẽ thành địa ngục trần gian vạn kiếp không trở lại.
Sau khi lui về giữ Đài Loan năm 1949, ông ra sức đề xướng “phản Cộng kháng Nga”. Cốt lõi của chủ trương này chưa bao giờ chỉ là tranh giành chính quyền, mà là cuộc quyết chiến sinh tử bảo vệ đạo thống Trung Hoa khỏi bị tay sai của Nga Xô nhổ tận gốc.
Trong thư gửi Liêu Trọng Khải, ông viết: “Lời của đảng Nga chỉ có chủ nghĩa mà không có tín nghĩa. Cái mà họ gọi là chủ nghĩa quốc tế và cách mạng thế giới thực chất là tên gọi khác của chủ nghĩa đế quốc đỏ… Đảng Nga hoàn toàn không có thành ý, họ muốn lợi dụng Quốc dân Đảng chúng ta để đạt mục đích mờ ám của mình”.
Khi Hồng vệ binh ở Đại Lục đào mộ Khổng Tử, đập phá từ đường và di tích các đời, thì ở Đài Loan, bên hồ Nhật Nguyệt Đàm, dưới chân núi Dương Minh, ngọn lửa bất diệt của đạo thống 5.000 năm vẫn được thắp lên.
Muốn kiểm nghiệm ai mới là người kế thừa chân chính của văn minh Trung Hoa, cuộc đại đối đầu lịch sử nổ ra năm 1966 chính là tấm gương chiếu yêu không thể chối cãi. Năm đó, Mao Trạch Đông phát động cuộc “Cách mạng Văn hóa” cuồng bạo trên khắp Thần Châu, tự xưng “hòa thượng che dù, vô pháp vô thiên”.
Ngọn lửa ma “phá tứ cựu” càn quét khắp nam bắc Trường Giang. Khổng Lâm, Khổng Miếu ở Khúc Phụ bị Hồng vệ binh phá bằng thuốc nổ, hài cốt Khổng Tử bị đốt và sỉ nhục; mộ Hải Thụy bị đào, đền Nhạc Phi bị đập, mộ Hoắc Khứ Bệnh bị phá; vô số gia phả truyền đời hàng trăm, hàng ngàn năm bị đốt giữa phố; chùa chiền, đạo quán bị biến thành lò mổ và chuồng lợn; tranh chữ và sách cổ hóa tro trong biển lửa.
Kiếp nạn này không chỉ là sự hủy diệt văn vật, mà còn là cuộc lăng trì vào cốt tủy tinh thần của dân tộc Trung Hoa. “Cha thân mẹ thân không bằng Mao Chủ tịch thân”, vợ chồng vạch rõ ranh giới, con cái đánh cha mẹ, học trò hành hạ thầy giáo.
Đạo hiếu, lòng nhân ái, liêm sỉ và chữ tín chảy trong huyết mạch suốt mấy nghìn năm bị moi rỗng hoàn toàn, thay vào đó là cuộc đấu tranh giai cấp như cầm thú và văn hóa tố giác nuôi bằng “sữa sói”. Đây là cuộc diệt chủng văn hóa và chủng tộc mang tính tự tàn hại, do chính quyền cầm đầu, nhắm vào gốc rễ văn minh của chính dân tộc mình.
Đúng lúc ấy, ngày 12/11/1966, kỷ niệm 100 năm ngày sinh Tôn Trung Sơn, Đài Loan ở bên kia eo biển đã có lời đáp chấn động lịch sử. Tưởng Trung Chính chính thức tuyên bố phát động “Phong trào Phục hưng Văn hóa Trung Hoa” và đích thân làm hội trưởng Ủy ban Xúc tiến.
Đài Loan dùng sức mạnh quốc gia nâng việc bảo vệ, phát huy văn hóa truyền thống lên thành quốc sách cao nhất. Các việc làm cụ thể gồm biên soạn sách “Khái quát văn hóa Trung Hoa”, phổ cập đọc kinh điển “Luận Ngữ”, “Mạnh Tử” ở bậc tiểu học, trùng tu Khổng Miếu ở Cơ Long và Đài Bắc, khôi phục lễ tế Thích Điện với nghi thức Thái Lao, và tận tâm gìn giữ chữ Hán chính thể như huyết mạch chính thống của văn minh Trung Hoa.
Đó là bức tranh trắng đen rõ rệt hiếm thấy trong lịch sử văn minh nhân loại. Bờ tây eo biển, quần ma loạn vũ, xé sách đập bia, giẫm các bậc thánh hiền Hoa Hạ dưới chân. Bờ đông eo biển, tiếng đàn tiếng hát không ngớt, tôn sư trọng đạo, coi lòng nhân ái truyền thống là khuôn vàng thước ngọc.
Chính phong trào phục hưng văn hóa kéo dài hơn 10 năm này đã đặt nền móng đạo đức cho xã hội Đài Loan, đúng như câu “lễ mất thì tìm ở thôn dã”.
Hôm nay, đi trên phố Đài Bắc hay Đài Nam, những gì người ta cảm nhận được, từ vẻ đẹp tình người, sự chân chất của làng quê, sự ôn hòa nhã nhặn cho đến đạo kinh doanh giữ chữ tín, đều là di sản quý giá mà “con thuyền văn minh” năm ấy đã giữ lại cho thế giới người Hoa giữa sóng gió.
Trong bản tuyên ngôn, Tưởng Trung Chính viết: “Việc giặc Cộng phá hủy văn hóa truyền thống Trung Quốc là điềm báo chúng tự đào mồ chôn mình… Hôm nay chúng ta phục hưng văn hóa Trung Hoa tại đây, thực là thiên chức thiêng liêng để cứu đồng bào Thần Châu và cả nền văn minh nhân loại”.
“ĐCSTQ ngay từ ngày ra đời đã là một tập đoàn chia rẽ nằm dưới cánh của Nga Xô. Từ đồng rúp in hình Lenin ở Thụy Kim, đến năm 1949 ngang nhiên xé Đại Lục khỏi bản đồ Trung Hoa Dân Quốc, ĐCSTQ đã phạm trọng tội ‘Lục độc’ [Đại Lục độc lập] từ đầu đến cuối!”
Mấy chục năm qua, tiếng gào thét cuồng loạn nhất của bộ máy tuyên truyền ĐCSTQ không gì hơn việc chụp lên đầu Đài Loan cái mũ “chia cắt đất nước”, “phản bội tổ quốc”.
Thế nhưng, lật lại những hồ sơ lịch sử đã ố vàng, người ta sẽ thấy màn hài kịch đen hoang đường và trơ trẽn nhất lịch sử cận đại. Trong trọng tội chia cắt tổ quốc, xẻ đất chia cương, ĐCSTQ không chỉ là kẻ tái phạm đầy tiền án, mà còn là ông tổ số một.
Tháng 9/1920, ngay trước khi ĐCSTQ thành lập, chàng thanh niên Mao Trạch Đông đã liên tiếp đăng trên tờ Đại Công Báo ở Trường Sa các bài viết như “Vấn đề căn bản của vấn đề xây dựng Hồ Nam: Nước Cộng hòa Hồ Nam”, “Đập tan nước Trung Quốc lớn không có nền tảng, xây dựng nhiều nước Trung Quốc nhỏ: 22 tỉnh, 3 đặc khu, hai vùng phiên thuộc, cộng chung 27 nước”.
Mao Trạch Đông chủ trương trắng trợn: “Cách tốt nhất là Hồ Nam cứ tự làm lấy… các tỉnh tự làm lấy, rạch ròi lập ra 22 tỉnh, 3 đặc khu, hai vùng phiên thuộc, cộng chung 27 nước Trung Quốc nhỏ.” Mao Trạch Đông khi ấy nào có chút ý niệm thống nhất quốc gia? Ông ta chính là người khởi xướng “Tương độc” (Hồ Nam độc lập) và “xẻ thịt Trung Quốc”!
Đáng phẫn nộ hơn là năm 1931. Ngày 18/9 năm đó, quân Quan Đông của Nhật Bản pháo kích Thẩm Dương, sự biến 18/9 bùng nổ, dân tộc Trung Hoa đứng trước nguy cơ mất nước diệt chủng. Còn ĐCSTQ đang làm gì?
Chưa đầy hai tháng sau, ngày 7/11/1931, đúng dịp kỷ niệm 14 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, ĐCSTQ đã công khai lập chính quyền cát cứ “Cộng hòa Xô viết Trung Hoa” ở Thụy Kim, Giang Tây, theo chỉ thị trực tiếp và bằng tiền rúp tài trợ của Moscow!
Mao Trạch Đông giữ chức cái gọi là “Chủ tịch Ủy ban Chấp hành Trung ương”, tổ chức “đại lễ khai quốc”, soạn “Đại cương Hiến pháp”, phát hành tiền giấy Xô viết in hình Lenin, lấy búa liềm của Liên Xô làm quốc kỳ, lấy bài “Quốc tế ca” làm quốc ca!
Bán nước hơn nữa là Điều 14 của bản ngụy hiến pháp Thụy Kim, ghi giấy trắng mực đen: “Chính quyền Xô viết Trung Hoa thừa nhận các dân tộc thiểu số trong lãnh thổ Trung Quốc có quyền dân tộc tự quyết, thừa nhận cho đến cả quyền tách khỏi Trung Quốc để lập nước độc lập.” Giữa lúc quốc nạn, ĐCSTQ cam tâm làm tốt thí cho thế lực thù địch nước ngoài là Liên Xô, lập ra một “nước trong nước” ngay giữa lòng Trung Quốc, cát cứ bằng vũ trang, phối hợp với Nga Xô.
Đến năm 1949, ĐCSTQ được nhà lãnh đạo Liên Xô Stalin viện trợ một lượng lớn vũ khí của quân Quan Đông, dùng bạo lực lật đổ chính phủ Trung Hoa Dân Quốc do dân bầu hợp pháp theo Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc năm 1946, tự lập “nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” trên Đại Lục.
Đây tuyệt nhiên không phải một cuộc thay đổi chính quyền hợp pháp, mà là một cuộc “cách mạng màu” do Quốc tế Cộng sản dàn dựng, rước sói vào nhà. Chính ĐCSTQ đã ngang nhiên tách lãnh thổ Đại Lục khỏi pháp thống hợp pháp của Trung Hoa Dân Quốc! Đây là cuộc “Đại Lục độc lập” (gọi tắt là “Lục độc”) từ đầu đến cuối. Nếu ĐCSTQ không phạm tội “Lục độc” này, thì lấy đâu ra cuộc đối đầu và chia cách kéo dài 77 năm giữa hai bờ eo biển hôm nay?
Ngày 9/10/2021, tại “Đại hội kỷ niệm 110 năm Cách mạng Tân Hợi” ở Đại lễ đường Nhân dân, Bắc Kinh, lãnh đạo ĐCSTQ Tập Cận Bình nghiêm giọng tuyên bố: “Những kẻ quên cội quên nguồn, phản bội tổ quốc, chia cắt đất nước, xưa nay đều không có kết cục tốt đẹp, nhất định sẽ bị nhân dân phỉ nhổ và lịch sử phán xét!”
Nghe câu này, ai có chút hiểu biết thường thức về lịch sử cận đại Trung Quốc đều đập bàn kêu tuyệt. Đập bàn không phải vì tán thưởng, mà vì kinh ngạc trước sự trớ trêu của vận mệnh lịch sử và sự tinh diệu của đạo trời có vay có trả!
Bởi ba tội danh tày trời này, “quên cội quên nguồn”, “phản bội tổ quốc”, “chia cắt đất nước”, tội nào cũng có thủ phạm chính là ĐCSTQ, không ngoại lệ!
Thử hỏi: ai quên cội quên nguồn? Nhận người Đức Marx, người Nga Lenin làm cha đẻ tinh thần, giẫm đạo thống Viêm Hoàng 5.000 năm xuống bùn, đập phá Khổng Miếu, đốt sách vở kinh điển, phế bỏ chữ Hán chính thể, khiến hơn một tỷ người Trung Quốc buộc phải nhận giặc làm cha, đó chẳng phải là sự “quên cội quên nguồn” lên tới tột đỉnh từ trước tới nay của nhân loại sao?
Thử hỏi: ai phản bội tổ quốc? Giữa lúc quốc nạn trong kháng chiến chống Nhật, họ trốn ở Diên An trồng thuốc phiện (gọi là “đặc hóa”), mưu tính cấu kết với quân Nhật và chính quyền bù nhìn Uông Tinh Vệ để làm hao tổn chủ lực quân đội Quốc dân.
Sau khi lập chính quyền, để đổi lấy sự ủng hộ của Liên Xô, Triều Tiên, Miến Điện, họ phẩy bút cắt nhượng vùng Giang Đông lục thập tứ đồn, vùng Tannu Uriankhai, một nửa hồ Thiên Trì trên núi Trường Bạch và đảo Bạch Long Vĩ, thậm chí còn hoan hô việc Ngoại Mông tách hẳn khỏi bản đồ Trung Quốc! (Chú thích của Trí Thức VN: Bạch Long Vĩ hiện là đặc khu thuộc thành phố Hải Phòng, Việt Nam.) Đó chẳng phải là “phản bội tổ quốc” từ đầu đến cuối sao?
Thử hỏi: ai chia cắt đất nước? Năm 1920 cổ xúy 27 nước độc lập, năm 1931 lập chính quyền ngụy Xô viết cát cứ ở Thụy Kim, năm 1949 dùng bạo lực xé toạc bản đồ Trung Hoa Dân Quốc, tự lập môn hộ “Lục độc”, đó chẳng phải là thủ phạm thiên cổ gây ra sự chia cắt hai bờ eo biển suốt 77 năm qua sao?
Trong bài phát biểu, ông Tập Cận Bình chỉ trích các thế lực ở hải ngoại và Đài Loan. Thế nhưng ba lời buộc tội “quên cội quên nguồn, phản bội tổ quốc, chia cắt đất nước” lại khớp từng điều với những hành vi thực tế trong lịch sử của ĐCSTQ từ khi lập đảng đến khi cầm quyền.
“Thứ Đài Loan giữ được không phải bá quyền ở một hòn đảo, một vùng đất, mà là cuộc sống thường nhật có tôn nghiêm mà hơn một tỷ người con Trung Hoa lẽ ra được hưởng. Vinh quang của con thuyền này rồi sẽ chiếu rọi khắp đất Thần Châu vào ngày họa đỏ tan biến.”
Nếu năm 1949 ĐCSTQ không cấu kết với thế lực bên ngoài xé toạc lãnh thổ, gây ra cuộc “Đại Lục độc lập” thảm khốc chưa từng có, thì đất Thần Châu hôm nay lẽ ra phải như thế nào?
Lẽ ra, dưới sự bảo đảm của Hiến pháp năm 1946, 1,4 tỷ đồng bào Đại Lục đã được hưởng quyền phổ thông đầu phiếu trực tiếp, thật sự thuộc về nhân dân. Họ được hưởng chế độ bảo hiểm y tế toàn dân giúp người giàu kẻ nghèo đều yên tâm chữa bệnh, được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, và một nền tư pháp độc lập, công bằng.
Họ không phải ngậm oan nuốt hận giữa những vụ cưỡng chế phá dỡ và khiếu kiện, không phải nơm nớp lo sợ giữa sữa bột nhiễm độc, dầu ăn tái chế từ cống rãnh và những tòa nhà bỏ dở, càng không phải trở thành “cái giá phải trả” và “rau hẹ” có thể bị cắt bất cứ lúc nào dưới nắm đấm sắt của thể chế toàn trị.
Những thể diện cơ bản ấy của một xã hội văn minh không phải là độc quyền của văn minh phương Tây. Ở bên này eo biển Đài Loan, chúng đã thành hiện thực sinh động, vững chắc từ mấy chục năm nay.
Sự vĩ đại của Đài Loan không nằm ở diện tích rộng lớn, mà ở sứ mệnh cao cả. Trong nghịch cảnh kéo dài 77 năm, trước mối đe dọa sinh tồn từ bờ bên kia, khi thì những trận mưa tên lửa, khi thì công kích bằng lời lẽ, đe dọa bằng vũ lực, Đài Loan đã trụ vững trước mây đen vần vũ của cả khối toàn trị cộng sản.
Đài Loan không trượt vào cơn điên cuồng của chủ nghĩa quân phiệt. Trái lại, hòn đảo đã hoàn thành cuộc chuyển đổi hòa bình từ thể chế độc đoán sang xã hội dân chủ hiện đại với sức bền bỉ phi thường.
Hôm nay, thế giới đã thấy “dân quý quân khinh”, “thiên hạ vi công” trong luân lý Nho gia hoàn toàn có thể song hành, cùng tỏa sáng với pháp trị hiện đại, xã hội công dân và công nghệ bán dẫn tiên tiến của thế kỷ 21.
Năm 1946, Quốc dân Đại hội thông qua hiến pháp. Năm 1987, Đài Loan bỏ thiết quân luật. Năm 1996, lần đầu tiên tổng thống được bầu trực tiếp. Đài Loan có 3 lần chuyển giao quyền lực hòa bình giữa các đảng vào các năm 2000, 2008 và 2016, đặt nền móng cho chính thể dân chủ trưởng thành đầu tiên của thế giới người Hoa.
Đại hồng thủy rồi sẽ có ngày rút, con thuyền rồi sẽ cập bến trên đỉnh núi Ararat khi trời đất sáng trở lại. Hôm nay, “quy luật chu kỳ lịch sử” của ĐCSTQ đã không thể đảo ngược: kinh tế suy kiệt, lòng dân sôi sục oán hận, ngoại giao cô lập, “bẫy Tacitus” sâu không thấy đáy. Tòa lâu đài cát đỏ xây trên bạo lực, dối trá và sự tự tàn hại văn hóa này đang sụp đổ trên mọi phương diện.
Còn Đài Loan, con thuyền văn minh Trung Hoa được dày công gây dựng suốt 77 năm, từ lâu đã gìn giữ nguyên vẹn mật mã văn hóa thuần khiết nhất, hạt giống dân chủ trưởng thành nhất và thiện ý ấm áp nhất giữa các cộng đồng.
Đây chính là vinh quang tột bậc mà lịch sử dành cho Đài Loan. Khi những con sóng đục ngập trời của họa đỏ trở thành dấu tích lịch sử, khi đất Thần Châu tỉnh dậy từ cơn ác mộng, xin cảm tạ con thuyền vĩ đại ấy, với thân mình rộng 36 nghìn km2, đã giữ lại linh hồn và mồi lửa văn minh cho cả dân tộc Trung Hoa trong những năm tháng mưa gió mịt mù!
Tài liệu tham khảo:
Trần Tĩnh / Vision Times
Các nhà địa chất xác định vết lõm một người mê thiên văn thấy trên…
Nhật Bản dự kiến chi tới 21 tỷ USD xây hai nhà máy chip tại…
Nghị sĩ Canada Jacob Mantle yêu cầu điều tra vụ học viên Pháp Luân Công…
Ba học viên Pháp Luân Công ở Trung Quốc qua đời trong chưa đầy 10…
Cựu Thị trưởng Trùng Khánh Hoàng Kỳ Phàm bị điều tra chủ yếu vì bình…
Bưu kiện nhỏ vào Mỹ giảm hơn 70% về trọng lượng trong tháng đầu sau…