Blog

Từ Paris đến các trường học Mỹ: Cuộc du nhập của tư tưởng “phản truyền thống”

Ngày 15/8, New York Post đăng bài bình luận của học giả bảo thủ Daniel J. Mahoney, dựa trên tác phẩm “Nước Pháp tự sát” (The Suicide of France) của nhà văn cánh hữu Pháp Éric Zemmour, để nhìn lại di sản chính trị và văn hóa mà “Phong trào Tháng Năm” năm 1968 của Pháp để lại. Học giả Mahoney cho rằng, mặc dù phong trào sinh viên năm đó không lật đổ chính phủ De Gaulle, nhưng những tư tưởng “phản truyền thống”, “chống quyền lực” và giải cấu trúc văn hóa mà phong trào đại diện đã từng bước thâm nhập vào hệ thống chính trị và xã hội Pháp, sau đó được các triết gia Pháp truyền bá sang các trường đại học Mỹ, tạo ảnh hưởng sâu sắc đối với chính trị bản sắc và chủ nghĩa cấp tiến ở Mỹ trong vài thập niên qua.

Charlottesville, bang Virginia, Mỹ, ngày 27/10/2025: Khuôn viên Đại học Virginia. (Nguồn: Ken Wolter/Shutterstock)

Quan điểm này không mới trong giới tư tưởng Âu-Mỹ, nhưng từ lâu vẫn gây tranh cãi gay gắt. Những người ủng hộ coi năm 1968 là điểm khởi đầu cho sự tan rã của trật tự truyền thống tại Pháp, trong khi những người chỉ trích cho rằng quy tất cả vấn đề từ nhập cư, nữ quyền, hội nhập châu Âu cho đến chính trị trong khuôn viên đại học Mỹ đều bắt nguồn từ “Phong trào Tháng Năm” là đã đơn giản hóa những biến đổi xã hội phức tạp trong nửa thế kỷ thành một chuỗi quan hệ nhân quả quá đơn giản.

“Phong trào Tháng Năm” không giành được chính quyền nhưng đã thay đổi ngôn ngữ xã hội Pháp

Tháng 5/1968, các cuộc biểu tình của sinh viên Pháp nhanh chóng lan rộng từ các khuôn viên đại học ở Paris, trên đường phố xuất hiện các chướng ngại vật và xảy ra đụng độ giữa cảnh sát với người biểu tình, sau đó phát triển thành một cuộc đình công quy mô lớn lan rộng khắp cả nước. Giới học thuật nhìn chung cho rằng đây là một trong những cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng nhất của Pháp thời hậu chiến, đồng thời cũng là một trong những phong trào quần chúng có quy mô lớn nhất trong lịch sử Pháp.

Những sinh viên cấp tiến khi đó thách thức không chỉ chính phủ De Gaulle mà còn cả quyền uy trong trường đại học, đạo đức gia đình, chuẩn mực tôn giáo, đạo đức tình dục cũng như các thứ bậc xã hội truyền thống. Những khẩu hiệu như “Cấm, cấm”, “Dưới những viên đá lát đường là bãi biển” về sau trở thành biểu tượng của sự phản kháng văn hóa trong thời kỳ này.

Bài viết trên New York Post tiếp thu nhận định của Zemmour, khái quát tinh thần của phong trào bằng các từ “giải cấu trúc, chế giễu, phá hủy”, cho rằng mặc dù những người cấp tiến năm 1968 không thể hoàn thành cuộc cách mạng chính trị, nhưng họ đã giành được một thắng lợi lâu dài hơn trong lĩnh vực văn hóa: những điều từng được xem là hiển nhiên như gia đình, tôn giáo, dân tộc và quyền uy dần mất đi sức ràng buộc, trong khi giải phóng cá nhân và chính trị quyền lợi bước vào dòng chính.

“Nước Pháp tự sát” của Zemmour được xuất bản lần đầu tại Pháp vào năm 2014, và năm nay được Nathan Pinkoski dịch sang tiếng Anh, một lần nữa gia nhập thị trường Mỹ. Luận điểm cốt lõi của cuốn sách là kể từ sau khi thời đại De Gaulle kết thúc, nước Pháp không ngừng từ bỏ truyền thống, chủ quyền và bản sắc văn hóa của mình, trong đó năm 1968 là bước ngoặt về tư tưởng của sự thay đổi này. Bản tiếng Anh được xuất bản vào tháng 7 năm nay.

Tuy nhiên, việc hoàn toàn nhìn nhận di sản của năm 1968 là “phá hủy” cũng vấp phải sự hoài nghi của không ít nhà nghiên cứu lịch sử. Khi nhìn lại giai đoạn này, The Guardian chỉ ra rằng “Phong trào Tháng Năm” đồng thời thúc đẩy những thay đổi lớn trong nghệ thuật, điện ảnh, âm nhạc và phương thức biểu đạt công cộng của Pháp. Ảnh hưởng của nó không chỉ nằm ở chủ nghĩa cấp tiến chính trị, mà còn bao gồm việc thách thức quyền uy văn hóa và thúc đẩy những thử nghiệm nghệ thuật tự do hơn.

Nói cách khác, năm 1968 thực sự đã làm thay đổi nước Pháp, nhưng đó là “giải phóng” hay “tan rã” phần lớn phụ thuộc vào việc người quan sát đứng về phía nào.

Từ vấn đề phá thai, nhập cư đến hội nhập châu Âu, Zemmour quy những chuyển đổi của Pháp về cùng một mạch tư tưởng

Điểm gây tranh cãi nhất trong quan điểm của Zemmour là ông kết nối những thay đổi chính sách tưởng chừng khác nhau trong vài thập niên sau đó thành cùng một câu chuyện về “sự suy tàn của quốc gia”.

Ông cho rằng phe trung hữu Pháp sau thời De Gaulle không thực sự chống lại cuộc cách mạng văn hóa năm 1968, mà ngược lại, không ngừng tiếp nhận các giá trị của cuộc cách mạng này. Năm 1975, Pháp hợp pháp hóa phá thai, khiến chế độ gia đình có sự thay đổi; sau đó quy mô nhập cư gia tăng, ảnh hưởng truyền thống của Công giáo suy giảm; đến những năm 1980 và 1990, Pháp lại đặt ngày càng nhiều quyền lực quốc gia trong khuôn khổ hội nhập châu Âu.

Năm 2024, Pháp tiếp tục ghi quyền tự do phá thai của phụ nữ vào Hiến pháp, trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới bảo đảm rõ ràng quyền này bằng hiến pháp. Khi đó, hãng thông tấn Associated Press đưa tin, việc sửa đổi hiến pháp được Quốc hội Pháp thông qua với kết quả áp đảo 780 phiếu thuận và 72 phiếu chống; quyền phá thai cũng nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các đảng phái chính trị chủ yếu và công chúng Pháp ở cả cánh tả lẫn cánh hữu.

Điều này vừa cho thấy một điểm gây tranh cãi trong lập luận của Zemmour: nhiều “di sản của chủ nghĩa cấp tiến năm 1968” mà ông mô tả, vài thập niên sau đã không còn chỉ là chủ trương của cánh tả cấp tiến, mà đã trở thành sự đồng thuận chính trị khá rộng rãi trong xã hội Pháp.

Zemmour cũng liên hệ tình trạng nhập cư quy mô lớn của Pháp với cuộc khủng hoảng bản sắc quốc gia, cho rằng dưới tác động của cảm giác tội lỗi do lịch sử thuộc địa để lại cùng tư tưởng chủ nghĩa phổ quát, các chính phủ qua các thời kỳ đã không thể bảo vệ hiệu quả văn hóa truyền thống của Pháp, cuối cùng dẫn đến sự tồn tại lâu dài của những xung đột giữa cộng đồng người nhập cư Hồi giáo và xã hội chủ lưu.

Vấn đề này quả thực ngày càng nổi bật trong đời sống chính trị thực tế của Pháp, nhưng việc truy nguyên toàn bộ vấn đề về năm 1968 cũng gây tranh cãi. Sau khi cuốn sách “Nước Pháp tự sát” được xuất bản lần đầu, The New Yorker nhận xét rằng Zemmour đã nắm bắt được những lo âu có thật trong xã hội Pháp như thất nghiệp, đình trệ kinh tế, tác động của toàn cầu hóa và khó khăn trong hội nhập người nhập cư, nhưng cách giải thích của ông đã đưa gần như tất cả các vấn đề từ tránh thai, phá thai, quyền phụ nữ, quyền của người đồng tính, nhập cư, Liên minh châu Âu cho đến văn hóa tiêu dùng Mỹ vào cùng một bức tranh tổng thể về “sự suy tàn của quốc gia”, vì vậy kết luận của ông tuyệt đối hơn nhiều so với bản thân những vấn đề đó.

Đây cũng là điểm then chốt để hiểu sức ảnh hưởng của Zemmour: lập luận của ông không phải là tạo ra những mâu thuẫn xã hội của Pháp từ hư không, mà sử dụng một cách lý giải có tính thống nhất cao, đồng thời cũng mang tính lựa chọn cao, để quy những cuộc khủng hoảng có nguồn gốc khác nhau trong nhiều thập niên về một kết luận rằng “nước Pháp đã từ bỏ chính mình”.

Foucault, Derrida tiến vào các trường đại học Mỹ, “Lý thuyết Pháp” được tái định hình tại Mỹ

New York Post đặt một trong những manh mối mà người Mỹ cần cảnh giác nhất vào khuôn viên các trường đại học.

Bài viết cho rằng tư tưởng hậu cấu trúc và hậu hiện đại của Pháp sau đó đã vượt Đại Tây Dương, tiến vào các ngành khoa học nhân văn của Mỹ. Các tác phẩm của những nhà tư tưởng Pháp như Michel Foucault, Jacques Derrida, Gilles Deleuze, Alain Badiou trở thành những văn bản quan trọng trong các khóa học về văn học, nghiên cứu văn hóa và lý thuyết xã hội tại Mỹ, cuối cùng cung cấp một phần công cụ tư tưởng cho chính trị bản sắc, nghiên cứu giới tính cũng như thứ ngày nay được gọi là “văn hóa thức tỉnh” (woke).

Việc tư tưởng Pháp tạo ra ảnh hưởng rất lớn đối với các trường đại học Mỹ bản thân nó không gây nhiều tranh cãi.

Tư liệu của Đại học Columbia về lịch sử tư tưởng học thuật thời hậu chiến cho thấy, ngay từ giữa những năm 1960, chủ nghĩa cấu trúc Pháp và sau đó là chủ nghĩa hậu cấu trúc đã bắt đầu thâm nhập vào giới học thuật Mỹ; sau đó, các nhà xuất bản, khoa chuyên ngành tại các trường đại học và mạng lưới trí thức Mỹ tiếp tục thúc đẩy việc truyền bá các tác phẩm của Foucault, Derrida và Deleuze cùng những người khác.

Các nghiên cứu xã hội học cũng phát hiện rằng ảnh hưởng của Derrida tại Mỹ đặc biệt tập trung trong lĩnh vực văn học và khoa học nhân văn; các tổ chức học thuật chuyên ngành, tạp chí và mạng lưới đại học của Mỹ đóng vai trò quan trọng trong quá trình lan truyền “chủ nghĩa giải cấu trúc”.

Tuy nhiên, ở đây tồn tại một sự đảo chiều lịch sử dễ bị bỏ qua: cái gọi là “French Theory” mà người Mỹ ngày nay quen thuộc không hoàn toàn đồng nhất với những quan điểm chính trị ban đầu của các nhà tư tưởng này tại Pháp.

Nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng François Cusset đã dành nhiều năm nghiên cứu lịch sử truyền bá tư tưởng xuyên Đại Tây Dương này. Ông chỉ ra rằng Foucault, Derrida, Deleuze và những người khác vốn có sự khác biệt rất lớn về tư tưởng, nhưng các trường đại học Mỹ lại tái tổ hợp họ thành một hệ thống “Lý thuyết Pháp” tương đối thống nhất. Sau khi kết hợp với các vấn đề về chủng tộc, giới tính và chính trị của các nhóm thiểu số tại Mỹ, những tư tưởng này lại tạo ra những hình thái lý luận vốn không tồn tại ở Pháp.

Vì vậy, thay vì nói rằng các nhà tư tưởng Pháp đơn giản “biến các trường đại học Mỹ thành như ngày nay”, đúng hơn phải nói rằng giới học thuật Mỹ đã lựa chọn, chuyển ngữ và tái định hình Lý thuyết Pháp.

Điều thú vị hơn là vài thập niên sau, khi những lý thuyết đã được Mỹ đóng gói lại này trở về Pháp dưới hình thức “văn hóa thức tỉnh”, chính trị bản sắc và các phong trào chống phân biệt chủng tộc, một bộ phận trí thức và chính trị gia Pháp lại cho rằng chúng đã bị Mỹ hóa quá mức.

Từ đó hình thành một vòng tuần hoàn tư tưởng đầy tính mỉa mai: lý thuyết được xuất khẩu từ Pháp, được gia công lại tại Mỹ, rồi lại được xuất khẩu trở về Pháp.

“Pháp phá hủy nước Mỹ” là cách nhìn quá đơn giản, thực tế là tư tưởng cấp tiến Âu-Mỹ đã tác động và định hình lẫn nhau

Cuối bài viết trên New York Post, Mahoney trực tiếp liên hệ lịch sử này với nền chính trị Mỹ ngày nay.

Theo cách lý giải của ông, chính trị bản sắc, tính đúng đắn chính trị và “văn hóa thức tỉnh” trong các trường đại học Mỹ có mối liên hệ tư tưởng rõ ràng với cuộc cách mạng tư tưởng ở Pháp năm 1968, trong khi các phong trào chống phân biệt chủng tộc ở Mỹ những năm gần đây lại theo chiều ngược lại du nhập vào Pháp, làm suy yếu truyền thống cộng hòa của Pháp vốn nhấn mạnh “không phân biệt chủng tộc, không phân biệt tôn giáo” trong tư cách công dân.

Sự ảnh hưởng xuyên Đại Tây Dương này quả thực tồn tại, nhưng nếu từ đó kết luận rằng “những người cấp tiến Pháp đã thâm nhập vào các trường học Mỹ” thì dễ biến quá trình phát triển phức tạp của nền chính trị nội bộ Mỹ thành một quá trình tiếp nhận tư tưởng một chiều.

Bản thân nước Mỹ trong những năm 1960 cũng trải qua phong trào dân quyền, phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam, nữ quyền và phong trào sinh viên; sự trỗi dậy sau đó của chính trị bản sắc cũng gắn chặt với lịch sử chủng tộc đặc thù của Mỹ, di sản của chế độ nô lệ và cuộc đấu tranh dân quyền, chứ không phải đơn giản được du nhập từ các giảng đường đại học Paris.

Ngay cả “Phong trào Tháng Năm” của Pháp cũng không hoàn toàn do Pháp tạo ra. Các phong trào phản chiến, văn hóa giới trẻ, chủ nghĩa Marx, Tân Cánh tả và giải phóng tình dục lan rộng khắp Âu-Mỹ trong những năm 1960 vốn đã là những hiện tượng xuyên quốc gia; Pháp và Mỹ từ lâu đã tác động qua lại lẫn nhau.

Điều thực sự đáng chú ý có lẽ không phải là rốt cuộc quốc gia nào đã “làm suy đồi” quốc gia kia, mà là trong nửa thế kỷ qua, các tư tưởng cấp tiến của Âu-Mỹ không ngừng truyền bá qua lại giữa hai bờ Đại Tây Dương, và mỗi khi bước vào một môi trường chính trị, xã hội mới, chúng lại được diễn giải lại.

Zemmour và New York Post đại diện cho một cách lý giải bảo thủ ngày càng có ảnh hưởng trong số đó: kể từ năm 1968, phương Tây đã đẩy “giải phóng” đi quá xa, đến mức truyền thống, gia đình, tôn giáo, bản sắc dân tộc và những ràng buộc xã hội liên tục bị suy yếu.

Những người phản đối lại cho rằng cách nhìn này bỏ qua sự gia tăng về quyền phụ nữ, quyền của các nhóm thiểu số, tự do cá nhân cũng như mức độ cởi mở của xã hội trong cùng thời kỳ, đồng thời biến mọi thay đổi xã hội thành một câu chuyện về sự suy tàn của văn minh.

Cuộc tranh luận về năm 1968 trong xã hội Pháp đến nay vẫn chưa kết thúc, chính bởi hai bên thực chất không chỉ tranh luận về một phong trào sinh viên diễn ra gần 60 năm trước, mà còn tranh luận về một vấn đề thực tế hơn: trong nửa thế kỷ qua, xã hội phương Tây rốt cuộc đã đạt được nhiều tự do hơn, hay những gì đã mất đi đã vượt quá những gì đạt được?

Và khi những tranh luận tương tự tiến vào các trường đại học Mỹ, chính trị bầu cử và các cuộc chiến văn hóa, “Phong trào Tháng Năm” từ lâu đã không còn chỉ là một trang trong lịch sử Pháp, mà vẫn đang tham gia dưới một hình thức khác vào cuộc tranh luận của xã hội phương Tây ngày nay về quyền uy, bản sắc, tự do và nền văn minh mà họ thuộc về.

(Bài viết chỉ thể hiện quan điểm của tác giả)

Lộ Khắc

Published by
Lộ Khắc

Recent Posts

Ebola tại CHDC Congo: 2.325 người thiệt mạng; 101 ca nhiễm chỉ trong một ngày

Hiện một số loại vaccine và phương pháp điều trị thử nghiệm đang được đánh…

28 phút ago

Diễn tập Hán Quang 42: Đài Loan đẩy mạnh phòng thủ thực chiến

Cuộc diễn tập thực binh Hán Quang 42, đợt thao diễn phòng thủ quy mô…

37 phút ago

Thiệt hại do gian lận tại Mỹ năm 2025 đã vượt quá 21 tỷ đô la

Đối với các cuộc gọi đáng ngờ, người dân không cần vì phép lịch sự…

42 phút ago

Tập Cận Bình “chiêu hồn” Giang Trạch Dân: Điềm báo đại hung?

Tại sao ông Tập lại chọn đúng thời điểm này, bất chấp dư luận, rầm…

52 phút ago

Đề xuất bỏ quy định Bộ Tài chính kiểm tra nghiệp vụ in, đúc, tiêu hủy tiền

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết đề xuất bỏ quy…

56 phút ago

2 ranh giới nội tâm quyết định bản lĩnh của một người mạnh mẽ

Lấy thiện tâm làm nền tảng, lấy ranh giới làm con đường

1 giờ ago