Categories: Kinh Tế

Kinh tế tư nhân “hụt hơi”, chuyên gia chỉ ra điểm nghẽn

Kinh tế tư nhân Việt Nam đã có một giai đoạn phát triển mạnh, nhưng chững lại và hụt hơi trong những năm gần đây. Nhóm nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân đã chỉ ra điểm nghẽn và đề xuất hai mô hình liên kết.

Nghị quyết 68 đặt mục tiêu đến năm 2030 tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân đạt khoảng 10-12%/năm, đóng góp 55-58% GDP, khoảng 35-40% tổng thu ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho 84-85% tổng số lao động, năng suất lao động tăng bình quân 8,5-9,5%/năm. (Ảnh: chinhphu.vn)

Khu vực kinh tế tư nhân đang có dấu hiệu hụt hơi trong những năm trở lại đây

Theo số liệu của Cục Thống kê, đến năm 2024, khu vực kinh tế tư nhân chiếm 53,4% tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội, đóng góp 43% tổng GDP và tạo việc làm cho 82,07% tổng số lao động của nền kinh tế.

Đáng chú ý, khu vực kinh tế tư nhân luôn có tốc độ tăng trưởng vượt trội hơn các khu vực khác. Theo nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân, trong giai đoạn 2011-2023, số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng bình quân 14,7%, quy mô đầu tư tăng bình quân 25,3%/năm; lực lượng lao động tăng bình quân 8%/năm. Trong khi các con số tương ứng trung bình của cả nước chỉ là 10%; 21,9% và 5,1%.

Cùng với sự gia tăng quy mô các yếu tố nguồn lực, trong giai đoạn nói trên, tốc độ tăng trưởng doanh thu của khu vực kinh tế tư nhân trung bình là 13,5%/năm, cao hơn nhiều so với doanh nghiệp nhà nước (6,1%).

Nghị quyết 68 đặt mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu có khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế; tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân đạt khoảng 10-12%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, đóng góp khoảng 55-58% GDP, khoảng 35-40% tổng thu ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho khoảng 84-85% tổng số lao động; năng suất tăng bình quân khoảng 8,5%-9,5%/năm. Tới năm 2023, Việt Nam sẽ có trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển số thuộc nhóm 3 đứng đầu ASEAN và nhóm 5 nước đứng đầu khu vực châu Á.

Tuy nhiên, nghiên cứu “Tháo gỡ các nút thắt trong phát triển kinh tế tư nhân nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số”, nhóm nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân đã thẳng thắn chỉ ra các dấu hiệu “hụt hơi” của nền kinh tế.

Theo đó, tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp, doanh thu, vốn đầu tư hay lao động từ năm 2016 đến nay có xu hướng chậm dần so với giai đoạn 2011-2015; hiện tượng doanh nghiệp không muốn lớn có xu hướng gia tăng; hiện tượng doanh nghiệp tư nhân ngừng hoạt động hoặc tuyên bố phá sản có xu hướng tăng trong những năm gần đây, tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân “không có sinh nhật lần thứ 2” lên tới 50%…

Thiếu vắng một mô hình thích hợp, hiệu quả để gắn kết các bộ phận cấu thành của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam

Các chuyên gia nhìn nhận đang tồn tại các nút thắt cản trở sự phát triển của khu vực kinh tế này. Ngoài các bất cập trong nhận thức về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, về chính sách thúc đẩy phát triển,… nhóm nghiên cứu do GS. Ngô Thắng Lợi (Đại học Kinh tế Quốc dân) chỉ ra sự thiếu vắng một mô hình thích hợp, hiệu quả để gắn kết các bộ phận cấu thành của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam.

Đầu tiên, các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn (tập đoàn kinh tế) chưa chủ động được vai trò dẫn dắt trong mô hình phát triển đa tầng lực lượng doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Trong định hướng và thực thi phát triển, các tập đoàn kinh tế tư nhân còn chưa có các chiến lược kinh doanh dựa trên phát triển các ngành công nghệ nguồn, hoặc các ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm thượng nguồn, vì thế, nhu cầu hình thành các chuỗi cung ứng nội địa hoàn chỉnh – cơ sở của việc thực hiện liên kết kinh doanh – còn thiếu.

Bên cạnh đó, các chuyên gia kinh tế chỉ rõ, trong “sứ mệnh” hay “tầm nhìn”, các tập đoàn kinh tế tư nhân vẫn chưa đặt ra vấn đề xây dựng và phát triển các chuỗi – mạng sản xuất do các tập đoàn làm chủ, vì thế, trên thực tế, chưa có chuỗi – mạng sản xuất liên kết các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam.

Trong khi đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thiếu các điều kiện tiên quyết để tham gia liên kết kinh doanh với các doanh nghiệp quy mô lớn của khu vực kinh tế tư nhân, cũng như của các khu vực kinh tế khác, như quy mô quá nhỏ, yếu kém về chất lượng nguồn nhân lực, tài chính, trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất, kỹ năng quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm; hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính ngắn hạn, cơ cấu phần lớn là loại hình kinh doanh dịch vụ, sản phẩm sản xuất và kinh doanh nhỏ lẻ, dung lượng vốn thấp, chất lượng không cao; mạng lưới doanh nghiệp còn quá mỏng, không đủ sức để làm trung gian, kết nối doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ vào quỹ đạo.

Ngoài ra, chúng ta chưa có được mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và người Việt Nam định cư ở nước ngoài với các hoạt động kinh doanh của kinh tế tư nhân trong nước.

Đề xuất hai mô hình liên kết

Nhóm nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân đề xuất hai mô hình gắn kết lực lượng kinh tế tư nhân người Việt Nam.

Một là, mô hình liên kết các loại hình doanh nghiệp tư nhân trong nước dưới dạng “hiệu ứng chảy tràn”. Theo mô hình này, tập đoàn kinh tế tư nhân, tập đoàn kinh tế nhà nước, tập đoàn có vốn đầu tư nước ngoài tiếp cận trực tiếp với thị trường, thực hiện thương mại hóa các sản phẩm.

Để có được sản phẩm đồng bộ với quy mô lớn, các tập đoàn thực hiện liên kết trực tiếp hoặc gián tiếp với các bộ phận khác của khu vực kinh tế tư nhân. Sự liên kết được thực hiện dưới các hình thức khác nhau như liên kết chuỗi giá trị sản xuất, liên kết kinh doanh tuần hoàn, liên kết hợp tác, hợp đồng cung cấp và trao đổi sản phẩm hay theo kiểu doanh nghiệp kinh doanh tạo tác động xã hội. Nhờ đó, kết quả kinh doanh và sự phát triển được chảy tràn từ trên xuống dưới. Muốn tham gia vào chuỗi liên kết này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh phải thay đổi cơ bản hoạt động kinh doanh theo hướng chiến lược, đặt mình vào chuỗi cung ứng sản phẩm cho doanh nghiệp lớn hoặc đảm nhận nghiên cứu và triển khai để tạo ra các sản phẩm mới…

Hai là, mô hình tổ chức liên kết doanh nghiệp của người Việt Nam ở nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân trong nước, cùng với việc tăng cường củng cố vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Theo mô hình này, doanh nghiệp tư nhân của người Việt Nam ở nước ngoài có lợi thế về thị trường tiêu thụ sản phẩm, về các điều kiện vốn đầu tư, công nghệ và thiết bị sản xuất kinh doanh hiện đại. Doanh nghiệp tư nhân trong nước và địa phương có lợi thế về cơ sở nguyên liệu, cơ sở sản xuất và lực lượng lao động. Hai bên sẽ hợp tác, bổ sung cho nhau, từ đó, giúp lực lượng kinh tế tư nhân Việt Nam lớn mạnh hơn.

Nguyên Hương (t/h)

Published by

Recent Posts

Giá vàng tiến sát ngưỡng 129 triệu đồng/lượng

Hơn 1 tháng nữa, Nghị định 232 mới có hiệu lực, nguồn cung vàng vẫn…

19 phút ago

EU đề xuất luật mới để hủy bỏ thuế công nghiệp đối với Mỹ

Ngày 28/8, Ủy ban châu Âu (EC) đã trình dự luật mới nhằm bãi bỏ…

27 phút ago

Hoàng tử Jigyel Ugyen Wangchuck của vương quốc Bhutan cử hành hôn lễ

Hoàng tử Jigyel Ugyen Wangchuck của vương quốc Bhutan đã cử hành hôn lễ cùng…

58 phút ago

Nga muốn khôi phục mậu dịch với Trung Quốc khi lãnh đạo Putin và Tập sắp hội kiến

Mậu dịch Nga–Trung, từng là chiếc phao cứu sinh cho Nga sau các biện pháp…

2 giờ ago

Ngày càng nhiều trẻ em mắc tiểu đường: Cha mẹ cần làm gì để bảo vệ con?

Tại Việt Nam, số trẻ mắc bệnh tiểu đường đang gia tăng nhanh chóng. Theo…

2 giờ ago

Kênh đào Panama bán quyền khai thác cảng mới, từ chối doanh nghiệp TQ tham gia

Cơ quan Quản lý Kênh đào Panama (ACP) có kế hoạch bán quyền phát triển…

3 giờ ago