Lý Quang Địa đã viết về Nghiêm Quang rằng: “Bất ô Tân Mãng, diệc bất thần Quang Vũ”, không làm bẩn mình bằng cách làm quan cho Vương Mãng – bề tôi lật đổ nhà Hán, cũng không làm bề tôi của Hán Quang Vũ Đế – người sáng lập triều Đông Hán.
Lễ tiết của Nghiêm Quang không liên quan đến triều chính, mà liên quan đến đạo giữ mình của ông.
Ân cư tu dưỡng
Cảnh sắc ở núi Phú Xuân có thể nói là “thiên hạ độc tuyệt”. Trong bài thơ “Dữ chu nguyên tư thư” của Ngô Quân viết:
Phong yên câu tịnh, thiên sơn cộng sắc.
Tòng lưu phiêu đãng, nhâm ý đông tây.
Nghĩa là:
Cảnh vật u tĩnh, núi non một màu.
Cuộc đời là dòng chảy, mặc ý đông tây không gượng ép.
Tạ Linh Vận khi đến thăm Nghiêm Tử Lai, đã viết trong “Thất lý lai”: “Thạch thiển thủy sàn viên, nhật lạc sơn chiếu diệu”, đá nông nước chảy rì rầm, hoàng hôn chiếu rọi núi non.
Nghiêm Quang lui về sống ẩn dật, dựng một túp lều và câu cá ở sông Phú Xuân. Ông tìm thấy sự bình yên trong khung cảnh, tránh xa lo âu trần tục.
Để lại gia pháp
Mặc dù Nghiêm Quang chưa từng viết sách, nhưng con cháu ông dựa trên những lời dạy của ông đã biên soạn ra cuốn “Tử lăng công tỉnh thân thập tắc” (Mười quy tắc tự kiểm điểm của Nghiêm Tử Lăng). Mười quy tắc bao gồm: “Kính trọng vua và cha mẹ, thiết lập nguyên tắc đạo đức, tôn kính người lớn tuổi có đức hạnh, giữ gìn luân lý, kết bạn với người tài và lương thiện, siêng năng tu dưỡng, tránh xa kẻ gian nịnh, tiết chế dục vọng, tin vào luật nhân quả, và thận trọng lời nói”. Tất cả đều là những phương pháp tu dưỡng và tự soi xét lại mình có thể vận dụng hàng ngày, không có phương pháp nào khó hiểu hay xa vời.
Nghiêm Quang không “lập ngôn”, không cầu tiếng tăm được truyền xa. Ông giữ gìn đức hạnh bằng cách lui về sống ẩn dật, và dù không có ý “lập ngôn”, những lời nói của ông lại xây dựng và duy trì một gia tộc thanh sạch. Hậu duệ ông đã sinh sống tại Phú Xuân qua nhiều thế hệ, giữ gìn gia thế trong sạch và lương thiện. Ít người trong gia tộc làm quan, nhưng lại giữ vững uy tín và danh vọng trong thời gian dài. Cái gọi là “không lập ngôn” của ông không có nghĩa là im lặng, mà là đem chí lễ hóa thành gia pháp và đưa việc tu thân vào cuộc sống hàng ngày.
Nghiêm Quang không để lại di sản cho hậu thế thông qua các tác phẩm của mình, mà thông qua phẩm hạnh cá nhân được đúc rút thành quy tắc truyền lại qua nhiều thế hệ.
Nghiêm Quang trong thơ ca và hội họa
Nghiêm Quang thường xuyên được nhắc đến trong thơ ca và hội họa. Trong bài “Cổ phong” của Lý Bạch viết: “Bất sự vương hầu” (không phụng sự vương hầu). Thi nhân Phạm Thành Đại và Dương Vạn Lý nhiều lần viết về chỗ Nghiêm Quang câu cá. Trong tác phẩm “Nghiêm tiên sinh từ đường ký” của tác giả Phạm Trọng Yêm, cụm từ “núi cao sông dài” được dùng để miêu tả tính cách cao thượng của Nghiêm Quang. Từ thời nhà Đường và nhà Tống, cụm từ này đã trở thành biểu tượng thường hằng của kẻ sĩ ẩn dật trong các tác phẩm.
Sau khi Nghiêm Quang lui về sống ẩn dật bên sông Phú Xuân thì phong cảnh nơi đây trở thành biểu tượng của chốn ẩn cư, cũng xuất hiện trong các tranh phong cảnh. Bức tranh “Phú Xuân sơn cư đồ” của Hoàng Công Vọng được vẽ vào những năm cuối đời nhà Nguyên đã miêu tả khu vực này. Trong tranh không có sự xuất hiện của Nghiêm Quang, cũng không có dấu hiệu của chỗ câu cá, chỉ có những bờ sông cát phẳng, những đỉnh núi xa xa và những khu rừng thưa thớt, dòng nước uốn lượn và một bầu trời trong vắt, thanh bình. Bức tranh miêu tả một khung cảnh trống trải nhưng không hoang vắng, tĩnh mịch nhưng không cô quạnh, không tranh giành mà tự thỏa mãn, phản ánh cảnh sống lui thân của bậc ẩn sĩ.
Nghiêm Tử Lăng là một ẩn sĩ tự do tiến lui, thân tâm không bị trói buộc, ông không xa lánh thế gian, nhưng sáng suốt chọn cách ẩn mình. Cụm từ “Núi cao sông dài” không phải để chỉ cảnh vật hùng vĩ, mà là hàm ý nói đến nhân cách của ông.
Theo Epoch Times tiếng Trung
Tác giả: Lâm Phương Vũ
An Hòa biên tập
Xem thêm:
Mời xem video: