Trí tuệ cổ nhân: Chí hướng của người ẩn sĩ

Kẻ sĩ thời cổ thường luận về “tam bất hủ” là “lập đức, lập công, lập ngôn”, cho rằng đó là mục tiêu lớn lao của đời người, vì ngay cả sau khi chết về thể xác thì tinh thần và sự ảnh hưởng vẫn tiếp tục tồn tại. Nhưng cũng có những ẩn sĩ tạo nên giá trị riêng không hề thua kém điều này.

Trong “Hậu Hán Thư” có nhắc đến một nhân vật là Nghiêm Quang – Nghiêm Tử Lăng, ca ngợi ông vì “không phụng sự vương hầu, nhưng giữ chí hướng cao cả”. Dù là bạn thân của Hoàng đế, cả đời Nghiêm Quang chưa từng giữ chức quan nào, cũng không được liệt vào danh sách công thần. Thành tựu của ông không đáng kể và các sự nghiệp của ông cũng không có gì nổi tiếng. Tuy nhiên ông cũng để lại được những giá trị riêng đáng suy ngẫm trong cách làm người, và xuất hiện bóng dáng trong thơ ca, trong hội họa.

Bức “Thu giang ngư ẩn đồ” thời Tống tại Bảo tàng quốc gia Đài Loan. (Họa sĩ: Mã Viễn, Public Domain)

Lui thân thủ tiết

Thuở niên thiếu, Nghiêm Quang và Lưu Tú là bạn học thân thiết. Sau này trong họa loạn, Lưu Tú chinh chiến, sáng lập ra triều đại Đông Hán. Vào những năm đầu lên ngôi, Hán Quang Vũ Đế Lưu Tú đã phái người đi tìm Nghiêm Quang ở bờ sông Phú Xuân. Sau nhiều lần được mời, cuối cùng Nghiêm Quang cũng nhận lời đến kinh thành.

“Hậu Hán Thư” ghi lại rằng khi Nghiêm Quang và Lưu Tú gặp nhau, họ nắm tay nhau và ôn lại chuyện xưa. Họ ngủ chung giường cả đêm và nhớ lại tình bạn thời còn là thường dân. Đêm đó, Nghiêm Quang duỗi chân đặt lên bụng Hoàng đế. Ngày hôm sau, thái sử của hoàng cung tấu xưng muốn trị tội Nghiêm Quang. Hoàng đế cười và nói: “Trẫm chỉ đang ngủ với một người bạn cũ mà thôi”. Câu chuyện này cho thấy tình bạn cũ của họ vẫn không thay đổi.

Hán Quang Vũ Đế đã nhiều lần đề nghị Nghiêm Quang về làm quan hoặc tiến cử ông làm gián quan, nhưng Nghiêm Quang đều từ chối. Ông nguyện làm thường dân, lui về sống ẩn dật trên núi. Ông không làm quan nhận lộc, không trở thành bề tôi, giữ tình bạn cũ, tự do tiến lui, thân tâm không bị trói buộc. 

Chính bởi hành động đó mà nhiều học giả sau này đều ca ngợi Nghiêm Quang. Nhà văn thời Đường, Quyền Đức Dư, cảm thán viết:

Tuyệt đính tủng thương thúy,
Thanh thoan thạch lân lân.
Tiên sinh hối kì trung,
Thiên tử bất đắc thần.

Nghĩa là:

Đỉnh cao vút màu xanh thẫm,
Dòng nước trong chảy xiết, đá lấp lánh.
Bậc tiên sinh ẩn khuất nơi ấy,
Đến thiên tử cũng không thể khiến ông làm bề tôi.

Lý Quang Địa đã viết về Nghiêm Quang rằng: “Bất ô Tân Mãng, diệc bất thần Quang Vũ”, không làm bẩn mình bằng cách làm quan cho Vương Mãng – bề tôi lật đổ nhà Hán, cũng không làm bề tôi của Hán Quang Vũ Đế – người sáng lập triều Đông Hán. 

Lễ tiết của Nghiêm Quang không liên quan đến triều chính, mà liên quan đến đạo giữ mình của ông.

Ân cư tu dưỡng

Cảnh sắc ở núi Phú Xuân có thể nói là “thiên hạ độc tuyệt”. Trong bài thơ “Dữ chu nguyên tư thư” của Ngô Quân viết:

Phong yên câu tịnh, thiên sơn cộng sắc.
Tòng lưu phiêu đãng, nhâm ý đông tây.

Nghĩa là:

Cảnh vật u tĩnh, núi non một màu.
Cuộc đời là dòng chảy, mặc ý đông tây không gượng ép.

Tạ Linh Vận khi đến thăm Nghiêm Tử Lai, đã viết trong “Thất lý lai”: “Thạch thiển thủy sàn viên, nhật lạc sơn chiếu diệu”, đá nông nước chảy rì rầm, hoàng hôn chiếu rọi núi non.

Nghiêm Quang lui về sống ẩn dật, dựng một túp lều và câu cá ở sông Phú Xuân. Ông tìm thấy sự bình yên trong khung cảnh, tránh xa lo âu trần tục. 

Để lại gia pháp

Mặc dù Nghiêm Quang chưa từng viết sách, nhưng con cháu ông dựa trên những lời dạy của ông đã biên soạn ra cuốn “Tử lăng công tỉnh thân thập tắc” (Mười quy tắc tự kiểm điểm của Nghiêm Tử Lăng). Mười quy tắc bao gồm: Kính trọng vua và cha mẹ, thiết lập nguyên tắc đạo đức, tôn kính người lớn tuổi có đức hạnh, giữ gìn luân lý, kết bạn với người tài và lương thiện, siêng năng tu dưỡng, tránh xa kẻ gian nịnh, tiết chế dục vọng, tin vào luật nhân quả, và thận trọng lời nói”. Tất cả đều là những phương pháp tu dưỡng và tự soi xét lại mình có thể vận dụng hàng ngày, không có phương pháp nào khó hiểu hay xa vời.

Nghiêm Quang không “lập ngôn”, không cầu tiếng tăm được truyền xa. Ông giữ gìn đức hạnh bằng cách lui về sống ẩn dật, và dù không có ý “lập ngôn”, những lời nói của ông lại xây dựng và duy trì một gia tộc thanh sạch. Hậu duệ ông đã sinh sống tại Phú Xuân qua nhiều thế hệ, giữ gìn gia thế trong sạch và lương thiện. Ít người trong gia tộc làm quan, nhưng lại giữ vững uy tín và danh vọng trong thời gian dài. Cái gọi là “không lập ngôn” của ông không có nghĩa là im lặng, mà là đem chí lễ hóa thành gia pháp và đưa việc tu thân vào cuộc sống hàng ngày.

Nghiêm Quang không để lại di sản cho hậu thế thông qua các tác phẩm của mình, mà thông qua phẩm hạnh cá nhân được đúc rút thành quy tắc truyền lại qua nhiều thế hệ.

Nghiêm Quang trong thơ ca và hội họa

Nghiêm Quang thường xuyên được nhắc đến trong thơ ca và hội họa. Trong bài “Cổ phong” của Lý Bạch viết: “Bất sự vương hầu” (không phụng sự vương hầu). Thi nhân Phạm Thành Đại và Dương Vạn Lý nhiều lần viết về chỗ Nghiêm Quang câu cá. Trong tác phẩm “Nghiêm tiên sinh từ đường ký” của tác giả Phạm Trọng Yêm, cụm từ “núi cao sông dài” được dùng để miêu tả tính cách cao thượng của Nghiêm Quang. Từ thời nhà Đường và nhà Tống, cụm từ này đã trở thành biểu tượng thường hằng của kẻ sĩ ẩn dật trong các tác phẩm. 

Sau khi Nghiêm Quang lui về sống ẩn dật bên sông Phú Xuân thì phong cảnh nơi đây trở thành biểu tượng của chốn ẩn cư, cũng xuất hiện trong các tranh phong cảnh. Bức tranh “Phú Xuân sơn cư đồ” của Hoàng Công Vọng được vẽ vào những năm cuối đời nhà Nguyên đã miêu tả khu vực này. Trong tranh không có sự xuất hiện của Nghiêm Quang, cũng không có dấu hiệu của chỗ câu cá, chỉ có những bờ sông cát phẳng, những đỉnh núi xa xa và những khu rừng thưa thớt, dòng nước uốn lượn và một bầu trời trong vắt, thanh bình. Bức tranh miêu tả một khung cảnh trống trải nhưng không hoang vắng, tĩnh mịch nhưng không cô quạnh, không tranh giành mà tự thỏa mãn, phản ánh cảnh sống lui thân của bậc ẩn sĩ.

Nghiêm Tử Lăng là một ẩn sĩ tự do tiến lui, thân tâm không bị trói buộc, ông không xa lánh thế gian, nhưng sáng suốt chọn cách ẩn mình. Cụm từ Núi cao sông dài” không phải để chỉ cảnh vật hùng vĩ, mà là hàm ý nói đến nhân cách của ông.

Trích đoạn bức “Phú Xuân sơn cư đồ”, họa sĩ Hoàng Công Vọng thời Nguyên. (Nguồn: Bảo tàng Cố cung Quốc gia Đài Loan)
Bức “Nghiêm Lăng Điếu Đài đồ” của Sa Đô Lạt thời Nguyên. (Nguồn: Bảo tàng Cố cung Quốc gia Đài Loan)

Theo Epoch Times tiếng Trung
Tác giả: Lâm Phương Vũ
An Hòa biên tập

Xem thêm:

Mời xem video:

An Hòa

Published by
An Hòa

Recent Posts

Nữ sinh Quảng Châu được mời sang Thái Lan, rồi bị bán vào ổ lừa đảo ở Myanmar

Khi hạ cánh xuống Thái Lan, người "bạn" đã mời cô không xuất hiện.

51 phút ago

EU phê duyệt gói 90 tỷ euro dành cho Ukraine

EU đã chính thức phê duyệt khoản vay khẩn cấp trị giá 90 tỷ euro…

54 phút ago

Nhà nghiên cứu UFO nổi tiếng qua đời đột ngột tại Mỹ

Ông David Wilcock, một người Mỹ tự nhận là nhà nghiên cứu UFO, đồng thời…

1 giờ ago

500.000 hồ sơ sức khỏe của Anh đã bị rò rỉ và rao bán trên Alibaba

UK Biobank trong một tuyên bố cảnh báo rằng một số người tham gia đã…

1 giờ ago

Nổ súng tại trung tâm thương mại bang Louisiana, ít nhất 10 người bị thương

Ngày 23/4, một vụ nổ súng xảy ra tại trung tâm thương mại Louisiana ở…

1 giờ ago

Nhân chứng ngày 25/4/1999: Cuộc gọi cảnh báo và nguy cơ trấn áp trước nửa đêm

"Nếu các học viên (Pháp Luân Công) không rời đi trước nửa đêm, sẽ xảy…

1 giờ ago