Chuyên đề

Đêm “chín cối tháng ba” – ngày Tết kính Thần, vọng tổ tiên của người Mường

Tiếng chiêng âm vang khắp núi rừng, hoa mai, hoa mận khoe sắc trong làn sương mai, chim muông líu lo hót… tất cả báo hiệu mùa xuân đến trên khắp bản Mường và một cái Tết nữa lại đến bên những nếp nhà sàn.

֍

Nhắc đến tết của người Mường chúng ta sẽ được đắm chìm trong không gian văn hóa cồng chiêng, trong mùa của các lễ hội như Khai hạ, Sắc Bùa, Mường Động, trong tiếng cười tiếng nói bên chum rượu cần.

Người Mường có quan hệ rất gần với người Kinh, có cùng nguồn gốc với người Kinh. Các nhà dân tộc học ngôn ngữ đưa ra thuyết cho rằng người Mường và người Kinh có nguồn gốc chung là người Việt-Mường cổ. Vào thời kỳ ngàn năm bắc thuộc thì bộ phận người cư trú ở miền núi, bảo tồn bản sắc cổ Âu Lạc, và sau này trở thành người Mường, theo Wikipedia.

Tết của người Mường không bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp như người Kinh mà bắt đầu từ ngày 27 tháng Chạp.

Để chuẩn bị cho ngày Tết, từ những ngày 25 – 26 tháng Chạp, trẻ con và phụ nữ trong bản đã mang nồi niêu và các đồ dùng khác ra các bờ suối để cọ rửa thật sạch. Theo quan niệm của người Mường, sau một năm sử dụng, các đồ dùng trong nhà cần được rửa sạch để chúng cũng được “ăn tết”. Vừa cọ rửa, họ vừa hẹn nhau đến phiên chợ Tết sẽ cùng nhau đi chợ.

Phiên chợ tết người Mường bắt đầu nhộn nhịp từ ngày 25 tháng Chạp đến tận chiều 30 Tết. Có nơi ngày 27 là ngày phiên chợ chính. Đêm trước ngày phiên chợ, trẻ con mong chờ đếm từng canh gà gáy, cảm giác hồi hộp vui sướng khiến chúng thấp thỏm rồi chìm vào giấc ngủ. Đến sáng, mẹ thức dậy nhóm bếp sớm hơn mọi ngày rồi gọi các con dậy đi chợ.

Từ khắp các nẻo đường đầu làng, cuối bản, trẻ con xúng xính trong bộ quần áo mới. Mọi người gọi nhau đi chợ theo từng tốp người. Thuở trước, khi chưa có nhiều phương tiện như bây giờ, người vác chuối, người mang bao tải gạo nếp, người gánh bưởi hoặc có người đi rừng lấy được bó cây giang, lá dong đem bán để có tiền sắm Tết.

Đến chợ, trẻ con chỉ thích được mẹ mua cái kẹo bông rồi vài cái bóng bay đủ màu sắc xanh đỏ vàng, ăn bát bún cho ấm bụng rồi len lỏi khắp các góc chợ hít hà mùi thơm nồng của quế và tiêu xay, ngắm người mua kẻ bán. Chỉ có các mẹ là cố gắng bán hàng sao cho mau chóng và được giá để còn sắm sửa đồ Tết và mua cho lũ nhỏ manh áo mới.

Đến sáng ngày 28 Tết, từ rạng sáng tinh mơ, tiếng lợn kêu éc éc vang khắp xóm làng, nhiều nhà bắt đầu mổ lợn ăn Tết. Lợn của người Mường là lợn Mường, giống lợn cổ từ xưa có da màu đen, mỗi con chỉ nặng tầm 10 đến 20 kg. Các thanh niên trong gia đình tập trung ở nhà bếp, cùng nhau chia lợn trên những cái nong to trải lá chuối.

Mâm cỗ của người Mường

Mâm cỗ cúng của người Mường món quan trọng nhất là phần ngon nhất của con lợn, không thể thiếu lòng lợn luộc, gan lợn, ruột non lợn và thịt lợn luộc. Ngoài ra còn có cá nướng, xôi, một con gà luộc, bánh chưng, bánh ống, rượu, tiền, một bát nước lã, trầu cau, mắm muối. Tất cả được bày biện đầy đủ và dâng lên bàn thờ gia tiên. Tất cả có 3 mâm thờ gồm: mâm bố mẹ, mâm ông bà và mâm thờ các cụ kỵ. Bàn thờ của người Mường cũng bày mâm ngũ quả và đặc biệt là hai cây mía được dựng 2 bên bàn thờ. Hai cây mía này có ý nghĩa là để các cụ chống gậy về với con cháu. Vào mấy ngày Tết, con cháu trong nhà đều dậy sớm chuẩn bị mâm cỗ mới để thắp hương dâng lên ông bà, việc này kết thúc khi gia chủ tổ chức hóa vàng, tiễn các cụ về trời.

Tết của người Mường thường có rượu cần. Theo sử thi “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường, Thần đã dạy người Mường cách làm rượu. Vì vậy, rượu cần mang ý nghĩa kết nối tâm linh giữa người và thần. Rượu cần được làm từ gạo nếp, men lá, vỏ trấu, có vị ngọt nhẹ, dễ uống. Trong lễ tang, rượu cần được xem như lời tiễn biệt chân thành dành cho người đã khuất, cầu mong họ được an nghỉ ở cõi vĩnh hằng. Trong lễ cưới hỏi, rượu cần là biểu tượng cho lời chúc phúc, cầu mong đôi lứa sống hạnh phúc, trọn vẹn bên nhau. Trong đời sống thường ngày, rượu cần là chất xúc tác đặc biệt giúp gắn kết tình làng nghĩa xóm, thắt chặt mối quan hệ trong cộng đồng. Mỗi khi có dịp tụ họp, người Mường quây quần bên ché rượu cần, cùng nhau hát múa, kể chuyện. Đó không chỉ là lúc mọi người chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, mà còn là cơ hội để truyền dạy các giá trị văn hóa truyền thống.

Đến đêm giao thừa, thời khắc linh thiêng mở đầu cho vòng tuần hoàn mới của đất trời. Đêm 30 Tết, theo lịch Mường là ngày “chín cối tháng ba”, con cháu trong mỗi gia đình đều tụ họp về đền thờ để làm lễ khai sáng. Lễ được chuẩn bị chu đáo với cả lễ chay và lễ mặn, dâng lên tổ tiên và các đấng linh thiêng để cầu cho năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Một thủ tục không thể thiếu trong đêm giao thừa của người Mường đó là một lễ cúng ngoài trời. Lễ này gồm một con cá diếc và một cái bánh chay. Sáng ra, lễ sẽ được mang cho con trâu ăn trước, bởi người Mường cũng quan niệm như người Kinh rằng “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Họ cho con trâu ăn trước để con trâu đi làm, mang lại một mùa màng bội thu.

Ngày tết vùng cao Việt Nam.

Ngày Tết chính của người Mường diễn ra trong không khí trang nghiêm nhưng ấm cúng, xoay quanh những mối quan hệ cốt lõi của đời sống cộng đồng. Trong ba ngày Tết, người Mường chỉ đi tết cha, tết mẹ và tết thầy cúng – những người giữ vai trò quan trọng nhất về huyết thống và tâm linh.

Cũng trong những ngày xuân ấy, phong tục hát sắc bùa được duy trì như một lời chúc phúc đầu năm. Những tốp trẻ em vừa đánh cồng, vừa hát những câu chúc tụng, đi qua từng nếp nhà trong bản. Tiếng cồng, tiếng hát vang lên rộn ràng, mang theo ước vọng về một năm mới an lành, no đủ, gắn kết cộng đồng.

Trong những ngày Tết, nếu ông Trùm (người chủ lễ của bản) chưa cho phép thì dân bản không ai được phép ra đồng làm việc. Khép lại chuỗi sinh hoạt Tết là lễ khai hạ, hay lễ “mở mắt cồng, mắt lệnh”, được tổ chức vào ngày mùng 7 tháng Giêng – ngày xuống đồng chính thức của người Mường. Từ sáng sớm, dân bản tập trung tại phủ thờ Thành Hoàng để làm lễ trình, xin phép thần linh cho mở hội, mở mùa. Khi tiếng chiêng thiêng vang lên, ruộng nương kết thúc kỳ nghỉ Tết, con người chính thức trở lại lao động sản xuất. Lễ khai hạ vì thế không chỉ đánh dấu sự khởi đầu của một năm làm ăn mới, mà còn thể hiện rõ quan niệm sống hài hòa với tự nhiên, tôn trọng trật tự thiêng liêng giữa trời, đất và con người trong văn hóa Mường.

 

Giữa dòng chảy hiện đại, người Mường ngày nay vẫn cố gắng lưu giữ những nét văn hóa truyền thống cổ xưa truyền lại cho con cháu. Tuy nhiên, phong tục đón tết cũng đã có nhiều thay đổi, nhiều nơi, người Mường cũng cúng Tết ông Công ông Táo như người Kinh, việc cúng thờ cũng đã gọn nhẹ hơn ngày xưa.

Khánh Vy

Bài viết có tham khảo bài Đón Tết Nguyên Đán truyền thống của dân tộc Mường, Hòa Bình của tác giả Lan Phạm đăng trên chuyên trang Bộ văn hóa, thể thao và du lịch ngày 20/2/2018.

֍

Khánh Vy

Published by
Khánh Vy

Recent Posts

Túi chườm nước nóng hơn 10 “thầy thuốc Đông y” – liệu pháp giữ ấm đơn giản nhất

Túi nước nóng không chỉ có chức năng đơn giản là "làm ấm"; tác dụng…

26 phút ago

Bộ NN-MT đề xuất phạt 30-40 triệu đồng nếu đưa tin sai về dự báo thời tiết

Bộ Nông nghiệp và Môi trường gửi dự thảo nghị định xử phạt vi phạm…

1 giờ ago

Lãnh đạo đối lập Venezuela bị bắt cóc sau khi vừa ra tù

Lãnh đạo đối lập Venezuela Juan Pablo Guanipa đã bị nhóm vũ trang hạng nặng…

1 giờ ago

Giấc mơ kỳ lạ giúp phụ nữ Mỹ trúng độc đắc nhờ số điện thoại của mẹ

Những câu chuyện thú vị về việc mua vé xổ số vì nằm mơ rồi…

2 giờ ago

Trong 40 ngày, 25 quan chức cấp cao ĐCSTQ bị điều tra

Trong khoảng thời gian 40 ngày từ ngày 1/1 – 9/2/2026, ít nhất 25 quan…

3 giờ ago

Peptide hoạt tính sinh học trong các loại gia vị

Gia vị từ lâu được nghiên cứu chủ yếu dựa trên các hợp chất hóa…

3 giờ ago