Chụp nhũ ảnh phát hiện ung thư sớm, nhưng cứu sống được bao nhiêu người?

Các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu xem có bao nhiêu phụ nữ được cứu sống nhờ chụp nhũ ảnh và có bao nhiêu người phải trải qua các phương pháp điều trị không cần thiết.

Xét nghiệm máu dò hơn 50 loại ung thư: Chưa chứng minh giúp giảm tử vong

Mỗi năm, Việt Nam ghi nhận khoảng 25.711 ca ung thư vú mới, chiếm 28,1% tổng số ca ung thư ở nữ giới. Phát hiện bệnh sớm có thể giúp nâng tỷ lệ chữa khỏi lên đến 90%. (Ảnh: AI)

“May mắn là chúng tôi đã phát hiện ra ung thư từ sớm”. Đây có lẽ là điều mà bất kỳ người phụ nữ nào vừa được chẩn đoán mắc ung thư vú cũng mong được nghe.

Sàng lọc ung thư dựa trên một tiền đề đơn giản: phát hiện sớm, điều trị sớm, cứu sống người bệnh.

Đôi khi, điều đó thực sự xảy ra. Chụp nhũ ảnh (chụp X-quang tuyến vú) có thể phát hiện khối u trước khi người phụ nữ sờ thấy hoặc trước khi ung thư di căn. Phát hiện sớm như vậy có thể cứu sống được người bệnh.

Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng vậy. Một số khối u phát triển chậm đến mức không bao giờ gây ra triệu chứng trong suốt cuộc đời người phụ nữ. Bà có thể sống chung với khối u mà không hề hay biết, rồi qua đời vì một nguyên nhân khác.

Nhưng trên thực tế, bà lại phải trải qua phẫu thuật, có thể cả xạ trị cùng những rủi ro và tác dụng phụ đi kèm. Khối u có thể không bao giờ ảnh hưởng đến sức khỏe của bà nhưng việc điều trị lại có thể gây ra những tác dụng phụ và rủi ro không đáng có.

Ung thư là căn bệnh có thật và việc điều trị có thể hoàn toàn hợp lý. Vấn đề là bác sĩ không thể xác định được chính xác khối u nào sẽ trở nên nguy hiểm. Trong thống kê của một chương trình sàng lọc, cả hai loại khối u đều được tính là “ung thư được phát hiện sớm”.

Việc điều trị cho tất cả bệnh nhân, kể cả những người có khối u không bao giờ gây nguy hiểm đến sức khỏe, có thể vẫn là một sự đánh đổi chấp nhận được. Nếu chương trình sàng lọc cứu sống được một phụ nữ, thì việc một số phụ nữ khác phải điều trị dù không thực sự cần thiết có lẽ vẫn là cái giá đáng chấp nhận. Tuy nhiên, rất khó cân đối giữa lợi ích cứu sống người bệnh và những rủi ro do điều trị gây ra cho nhiều phụ nữ vốn sẽ không bao giờ xuất hiện triệu chứng của căn bệnh này.

Hai nghiên cứu mới được công bố trên tập san Journal of Medical Screening (Tập san Sàng lọc Y khoa) tiếp cận những câu hỏi này từ hai góc độ khác nhau. Một nghiên cứu tìm hiểu xem có bao nhiêu ca ung thư được phát hiện nhờ chụp nhũ ảnh nhưng thực tế sẽ không bao giờ gây ra triệu chứng hay ảnh hưởng đến sức khỏe người phụ nữ. Nghiên cứu còn lại xem xét liệu việc phát hiện ung thư sớm có thực sự đồng nghĩa với việc chương trình sàng lọc đang cứu sống được nhiều người bệnh hay không.

Vấn đề không chỉ nằm ở chụp nhũ ảnh. Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đang xem xét một xét nghiệm máu mới, được thiết kế để phát hiện dấu hiệu sớm của hơn 50 loại ung thư, trong đó có những loại hiện chưa được đưa vào chương trình sàng lọc thường quy. Triển vọng này rất đáng chú ý. Tuy nhiên, khi y học ngày càng có nhiều phương pháp phát hiện ung thư sớm hơn, làm thế nào để biết việc phát hiện sớm thực sự mang lại lợi ích cho người bệnh?

Những ca ung thư lẽ ra không cần điều trị

Giới nghiên cứu gọi việc phát hiện một khối ung thư vốn sẽ không bao giờ gây ra triệu chứng hay ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh là chẩn đoán quá mức. Điều này không có nghĩa là kết quả chụp sai hay khối ung thư không có thật mà là nếu không tham gia sàng lọc, người phụ nữ ấy có thể sống hết cuộc đời mà không hề biết mình mắc bệnh, rồi qua đời vì một nguyên nhân khác.

Tuy nhiên, rất khó xác định được liệu có bao nhiêu trường hợp ung thư được phát hiện nhưng thực tế không bao giờ gây triệu chứng hay ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh. Một khi ung thư được phát hiện, người bệnh thường sẽ được điều trị. Vì không thể biết chắc điều gì sẽ xảy ra nếu khối u được để nguyên, không can thiệp.

Na Uy mang đến cho các nhà nghiên cứu một cơ hội hiếm có để ước tính mức độ phổ biến của hiện tượng này.

Năm 1995, Na Uy bắt đầu gửi thư mời phụ nữ từ 50 đến 69 tuổi đi chụp nhũ ảnh định kỳ hai năm một lần. Chương trình được triển khai thí điểm tại 4 hạt, sau đó mở rộng dần sang các hạt còn lại trong 10 năm tiếp theo. Việc triển khai theo từng giai đoạn như vậy cho phép các nhà nghiên cứu so sánh số ca ung thư vú được chẩn đoán ở những khu vực đã có chương trình sàng lọc với những khu vực chưa triển khai chương trình.

Dựa trên cơ sở dữ liệu ung thư quốc gia của Na Uy, nhóm nghiên cứu đã phân tích hơn 63.000 trường hợp ung thư vú được chẩn đoán trong suốt ba thập niên. Khi chương trình sàng lọc được mở rộng, số ca chẩn đoán cũng tăng lên. Điều này nằm trong dự đoán, bởi chụp nhũ ảnh có thể phát hiện những khối u mà phụ nữ chưa hề biết mình mắc phải.

Vấn đề đặt ra là liệu chụp nhũ ảnh chỉ đơn giản là phát hiện ung thư sớm hơn nhiều năm so với thời điểm bệnh gây triệu chứng, hay còn phát hiện cả những trường hợp ung thư vốn sẽ không bao giờ khiến người phụ nữ bị bệnh?

Hãy hình dung một phụ nữ được chẩn đoán ung thư nhờ chụp nhũ ảnh ở tuổi 60. Nếu không tham gia sàng lọc, khối u ấy có thể chỉ phát triển thành khối có thể sờ thấy khi bà 72 tuổi. Vì ung thư đã được phát hiện từ năm 60 tuổi nên bà sẽ không được tính là một ca chẩn đoán mới ở tuổi 72.

Xét trên hàng nghìn phụ nữ, nếu chụp nhũ ảnh chỉ giúp phát hiện ung thư sớm hơn thì số ca được chẩn đoán ở độ tuổi trẻ hơn sẽ tăng và số ca được chẩn đoán ở những năm sau đó sẽ giảm. Cứ mỗi ca ung thư được phát hiện thêm nhờ sàng lọc thì sau khi chương trình sàng lọc kết thúc, lẽ ra số ca được chẩn đoán phải giảm đi khoảng một ca.

Tuy nhiên, kết quả thực tế lại không như vậy. Số ca được chẩn đoán ung thư có giảm sau khi phụ nữ không còn được mời tham gia sàng lọc ở tuổi 70, nhưng mức giảm này vẫn chưa đủ. Ngay cả khi theo dõi những phụ nữ này đến năm 84 tuổi, các nhà nghiên cứu vẫn nhận thấy số ca chẩn đoán giảm xuống chưa bù được số ca ung thư được phát hiện thêm trong quá trình sàng lọc.

Nhóm nghiên cứu kết luận rằng một số ca ung thư không đơn thuần là được phát hiện sớm hơn. Nếu không chụp nhũ ảnh, những khối ung thư này có thể sẽ không bao giờ gây ra triệu chứng trong suốt cuộc đời của những phụ nữ đó.

Theo ước tính của nhóm nghiên cứu, cứ 100 ca ung thư vú được phát hiện qua sàng lọc thì có 18 ca bị chẩn đoán quá mức. Con số này bao gồm cả ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ (DCIS), thường được gọi là tiền ung thư hoặc ung thư giai đoạn 0. Ở dạng này, các tế bào bất thường thường vẫn nằm trong ống dẫn sữa, nhưng đôi khi có thể phát triển thành ung thư xâm lấn, tức là các tế bào ung thư vượt qua thành ống dẫn sữa và lan vào mô vú xung quanh.

Khi kết hợp kết quả này với các ước tính trước đây về số ca tử vong do ung thư vú mà chương trình sàng lọc giúp ngăn ngừa, nhóm nghiên cứu tính toán rằng cứ ngăn ngừa được một ca tử vong do ung thư vú thì có khoảng 3 phụ nữ bị chẩn đoán quá mức.

Ông Harald Weedon-Fekjær chuyên gia thống kê sinh học tại Bệnh viện Đại học Oslo, đồng tác giả nghiên cứu và là thành viên Ban cố vấn của chương trình BreastScreen Norway vẫn ủng hộ sàng lọc vì sàng lọc cứu sống được nhiều người, nhưng cũng thừa nhận rằng mỗi phụ nữ nên cân nhắc sự đánh đổi này theo nhiều cách khác nhau.

“Mỗi người có những giá trị và quan điểm riêng”, ông viết trong email gửi The Epoch Times. Với một số phụ nữ, việc được chẩn đoán mắc ung thư, dù là không cần thiết, vẫn có thể làm đảo lộn cuộc sống của họ. Trong khi đó, những phụ nữ khác sẵn sàng trải qua các phương pháp điều trị gây nhiều tổn hại cho cơ thể, dù có thể không cần thiết, để có cơ hội sống đến ngày nhìn các cháu khôn lớn.

Khi phát hiện sớm vẫn chưa đủ

Phát hiện ung thư sớm nghe có vẻ là điều tốt, nhưng liệu có thực sự giúp giảm số người tử vong vì ung thư hay không?

Một nghiên cứu khác được công bố trên tập san Journal of Medical Screening đã tìm cách trả lời câu hỏi này. Các nhà nghiên cứu xem xét 58 thử nghiệm ngẫu nhiên về 10 loại ung thư. Trong các thử nghiệm này, người tham gia được phân ngẫu nhiên vào nhóm được mời tham gia sàng lọc hoặc nhóm được chăm sóc theo thông lệ. Nhóm nghiên cứu muốn tìm hiểu xem liệu những thử nghiệm phát hiện được nhiều ca ung thư ở giai đoạn sớm hơn có đồng thời ghi nhận số ca tử vong do ung thư giảm nhiều hơn hay không.

Nếu số ca ung thư được phát hiện là thước đo đáng tin cậy về hiệu quả cứu sống người bệnh thì những thử nghiệm phát hiện được nhiều ca ung thư ở giai đoạn sớm hơn cũng phải ghi nhận ít ca tử vong do ung thư hơn.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu lại không cho thấy điều đó. Xét trên toàn bộ các thử nghiệm, việc phát hiện được nhiều ca ung thư ở giai đoạn sớm hơn không đồng nghĩa một cách nhất quán với việc giảm số ca tử vong do ung thư.

Các tác giả đã đưa ra một số cách giải thích. Một số ca ung thư phát hiện sớm lẽ ra không bao giờ gây hại, như nghiên cứu ở Na Uy đã cho thấy. Một số khác phát triển nhanh và mạnh đến mức việc tìm ra sớm hơn cũng không thay đổi được kết cục. Lại có những ca vẫn khó điều trị ngay cả khi được phát hiện ở giai đoạn sớm. Như các nhà nghiên cứu giải thích trong bài báo, việc phát hiện ung thư sớm “có thể giúp giảm số ca tử vong, nhưng cũng có thể không mang lại lợi ích nào cho người bệnh, thậm chí còn gây hại”.

Điều đó không có nghĩa là sàng lọc không cứu sống được người bệnh. Với một số loại ung thư, sàng lọc thực sự giúp cứu sống người bệnh. Tuy nhiên, phát hiện sớm chỉ có ích khi nó giúp thay đổi diễn biến bệnh và kết quả điều trị so với những gì có thể xảy ra nếu không phát hiện sớm.

Ông Adam Brentnall, chuyên gia thống kê tại Đại học Queen Mary London và là đồng tác giả nghiên cứu, giải thích với The Epoch Times qua email: “Phát hiện sớm là điều kiện thiết yếu để sàng lọc ung thư, có thể giúp giảm tỷ lệ tử vong do ung thư”.

Tuy nhiên, các xét nghiệm sàng lọc vốn được thiết kế để phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm. “Vì vậy, chỉ riêng việc phát hiện sớm thôi là chưa đủ để giúp chúng ta biết phương pháp sàng lọc có hiệu quả hay không”, ông nói.

Ông Brentnall cho rằng một chỉ dấu đáng tin cậy hơn về hiệu quả của sàng lọc là liệu số ca ung thư giai đoạn tiến triển có giảm hay không. Đây là những trường hợp khối u đã phát triển lớn hoặc lan rộng, khiến việc điều trị trở nên khó khăn hơn.

Các nghiên cứu trước đây của ông Brentnall và cộng sự cho thấy, trong những thử nghiệm mà số ca ung thư giai đoạn tiến triển giảm thì số ca tử vong do ung thư cũng thường giảm. Vì vậy, so với việc chỉ đếm số ca ung thư được phát hiện sớm thì mức giảm số ca ung thư giai đoạn tiến triển là một chỉ dấu hứa hẹn hơn để đánh giá lợi ích của sàng lọc.

Điều các nhà nghiên cứu thực sự muốn biết là liệu sàng lọc có giúp giảm số người tử vong do ung thư hay không. Tuy nhiên, để trả lời câu hỏi này, cần có thêm nhiều thử nghiệm và theo dõi người tham gia trong nhiều năm.

Sàng lọc bao nhiêu là đủ?

Với một phụ nữ đang cân nhắc xem khi nào thì nên đi chụp nhũ ảnh, câu trả lời có thể khác nhau tùy vào bác sĩ mà người đó tham khảo ý kiến.

Lực lượng Đặc nhiệm Dịch vụ Phòng ngừa Hoa Kỳ (USPSTF) khuyến nghị phụ nữ từ 40 đến 74 tuổi chụp nhũ ảnh hai năm một lần. Trong khi đó, Hội Điện quang Hoa kỳ (ACR) khuyến nghị chụp nhũ ảnh hằng năm từ tuổi 40 và tiếp tục sàng lọc chừng nào người phụ nữ còn có sức khỏe tốt.

Cả hai tổ chức đều khuyến nghị bắt đầu sàng lọc từ tuổi 40, dù việc sàng lọc ở phụ nữ trẻ hơn có những khó khăn riêng. Ông Weedon-Fekjær cho biết phụ nữ dưới 50 tuổi thường có mô vú dày hơn, khiến hình ảnh chụp nhũ ảnh khó đọc hơn và dễ dẫn đến kết quả dương tính giả hơn.

Các tổ chức có các quan điểm khác nhau về mức độ sàng lọc bổ sung mà họ cho là hợp lý. Chụp nhũ ảnh càng thường xuyên hơn thì cơ hội phát hiện sớm những khối ung thư nguy hiểm càng lớn, nhưng đồng thời cũng làm tăng khả năng phát hiện những khối ung thư vốn sẽ không bao giờ gây hại cho người bệnh. Ông Weedon-Fekjær cho biết, nhìn chung, sàng lọc càng thường xuyên thì nguy cơ chẩn đoán quá mức càng cao, đặc biệt ở phụ nữ lớn tuổi.

Bác sĩ Karla Kerlikowske, nhà nghiên cứu về sàng lọc ung thư vú tại Đại học California, San Francisco, cho biết các mô hình máy tính của Mỹ đã lượng hóa sự đánh đổi này.

Lấy ví dụ một nhóm gồm 1.000 phụ nữ từ 50 đến 74 tuổi được sàng lọc ung thư vú bằng phương pháp chụp nhũ ảnh 3D. Theo các mô hình ước tính, nếu nhóm phụ nữ này chụp nhũ ảnh hai năm một lần, sẽ có khoảng 7 người tránh được tử vong do ung thư vú so với trường hợp không sàng lọc. Nếu chụp hằng năm, số người tránh được tử vong do ung thư vú sẽ tăng lên khoảng 9 người.

Như vậy, chụp nhũ ảnh hằng năm giúp ngăn ngừa thêm khoảng 2 ca tử vong so với chụp hai năm một lần.

Tuy nhiên, lợi ích này cũng đi kèm những hệ quả không mong muốn. Theo các mô hình, so với chụp hai năm một lần, chụp hằng năm sẽ khiến thêm khoảng 400 lượt phụ nữ phải quay lại kiểm tra sau khi chụp, nhưng kết quả cuối cùng cho thấy họ không mắc ung thư. Ngoài ra, sẽ có thêm 50 phụ nữ phải sinh thiết (lấy mẫu mô để xét nghiệm) nhưng không phát hiện ung thư. Số phụ nữ bị chẩn đoán quá mức cũng tăng thêm 6 người, từ 12 lên 18 người. Đây là những trường hợp ung thư vốn không bao giờ gây ra triệu chứng hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe của họ.

Bà Kerlikowske lưu ý rằng đây chỉ là những con số ước tính từ các mô hình, chứ không phải kết quả đã được chứng minh qua thực tế. Chưa có thử nghiệm ngẫu nhiên nào chứng minh việc chụp nhũ ảnh hằng năm giúp giảm số ca tử vong do ung thư vú nhiều hơn so với chụp hai năm một lần.

Tuy nhiên, đối với những phụ nữ bị chẩn đoán quá mức, những hệ quả phải gánh chịu lại hoàn toàn có thật và có thể rất nặng nề. Họ có thể phải phẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ vú, trải qua các đợt xạ trị, chịu áp lực tài chính do phải nghỉ làm và đối mặt với nhiều hệ lụy khác.

“Nếu việc sàng lọc hằng năm mang lại thêm lợi ích thì lợi ích đó cũng không đáng kể”, bà Kerlikowske viết trong email gửi The Epoch Times, nhất là khi cân nhắc lợi ích này với những lần xét nghiệm bổ sung, các kết quả báo động giả, sinh thiết và tình trạng chẩn đoán quá mức.

Bác sĩ Stamatia Destounis, Chủ tịch Ủy ban Chẩn đoán hình ảnh vú thuộc Hội Điện quang Hoa Kỳ, có cách nhìn khác về sự đánh đổi này.

Bà ủng hộ chụp nhũ ảnh hằng năm vì cách này tạo thêm cơ hội phát hiện những ca ung thư nguy hiểm trước khi chúng di căn. Phát hiện ung thư sớm hơn có thể giúp phụ nữ trải qua các phương pháp điều trị nhẹ hơn. Bà dẫn chứng các nghiên cứu mô hình tại Mỹ dự báo rằng số ca tử vong do ung thư vú sẽ giảm nếu phụ nữ chụp nhũ ảnh mỗi năm một lần.

“Tôi muốn bệnh nhân hiểu rõ cả lợi ích của việc sàng lọc hằng năm lẫn những rủi ro khi sàng lọc hai năm một lần”, bà chia sẻ trong email gửi The Epoch Times.

Lực lượng Đặc nhiệm Dịch vụ Phòng ngừa Hoa Kỳ (USPSTF) cho rằng hiện chưa có đủ bằng chứng để xác định liệu sàng lọc ung thư vú ở phụ nữ trên 74 tuổi mang lại lợi ích nhiều hơn tác hại hay ngược lại. Trong khi đó, Hội Điện quang Hoa Kỳ khuyến nghị tiếp tục sàng lọc miễn là người phụ nữ còn đủ sức khỏe.

Phụ nữ càng lớn tuổi thì càng có nhiều khả năng được phát hiện mắc những khối ung thư phát triển chậm, vốn sẽ không gây ra triệu chứng hay ảnh hưởng đến sức khỏe của họ trong suốt quãng đời còn lại.

Ông Weedon-Fekjær đưa ra quan điểm dứt khoát hơn. Theo ông Weedon-Fekjær, nếu một cụ bà 80 tuổi mắc bệnh Alzheimer đang tiến triển thì không nên sàng lọc ung thư vú cho bà. Bởi nếu phát hiện ung thư, việc điều trị có thể khiến bà phải trải qua những can thiệp y tế nặng nề, làm giảm chất lượng quãng đời còn lại, trong khi không giúp bà sống lâu hơn.

Điều này đặt phụ nữ trước một quyết định khác, ngoài câu hỏi sàng lọc có hiệu quả hay không: họ sẵn sàng chấp nhận sàng lọc thêm tới mức nào để đổi lấy khả năng được lợi nhiều hơn?

Với ông Weedon-Fekjær, thời điểm ngừng sàng lọc tùy thuộc vào “cả mong muốn cá nhân lẫn sức khỏe của từng người”.

Có những loại ung thư có thể không cần điều trị?

Quyết định nên sàng lọc ung thư với tần suất bao nhiêu là một vấn đề. Nhưng khi phát hiện ung thư, nên xử trí như thế nào lại là một vấn đề hoàn toàn khác.

Không ai, dù là bác sĩ giải phẫu bệnh, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh hay bất kỳ bác sĩ nào khác có thể dự đoán chắc chắn ca ung thư nào sẽ trở nên nguy hiểm. Vì vậy, các nhà nghiên cứu bắt đầu tìm hiểu xem liệu có thể theo dõi một số trường hợp ung thư nguy cơ thấp thay vì điều trị ngay hay không.

DCIS, thường được gọi là ung thư vú giai đoạn 0, là một ví dụ. Vì bác sĩ không thể biết chắc trường hợp nào sẽ tiến triển thành ung thư xâm lấn nên phụ nữ được chẩn đoán DCIS thường phải phẫu thuật, đôi khi kết hợp xạ trị hoặc dùng thuốc.

Vậy liệu một số phụ nữ có thể tránh phẫu thuật mà vẫn bảo đảm an toàn hay không?

Một thử nghiệm lâm sàng mang tên COMET đã kiểm chứng khả năng này. Các nhà nghiên cứu tuyển chọn kỹ những phụ nữ mắc DCIS nguy cơ thấp, sau đó phân họ vào hai nhóm: một nhóm được điều trị theo tiêu chuẩn và nhóm còn lại được theo dõi chủ động. Thay vì phẫu thuật ngay, phụ nữ trong nhóm theo dõi được khám vú và chụp nhũ ảnh định kỳ, đồng thời làm thêm xét nghiệm nếu phát hiện bất kỳ thay đổi nào.

Sau hai năm, trong nhóm theo dõi chủ động, 4,2% phụ nữ được chẩn đoán ung thư xâm lấn ở bên vú có DCIS, so với 5,9% ở nhóm điều trị tiêu chuẩn. Theo tiêu chí đánh giá được xác định trong thử nghiệm, sau hai năm, phương pháp theo dõi chủ động cho kết quả không kém hơn so với điều trị tiêu chuẩn.

Bác sĩ Destounis đánh giá kết quả này là đáng khích lệ, nhưng lưu ý rằng không nên áp dụng kết luận này cho mọi trường hợp. Bà nói: “Kết quả này không chứng minh rằng tất cả bệnh nhân DCIS đều có thể an toàn trì hoãn điều trị vô thời hạn”.

Đối với những phụ nữ có tình trạng bệnh đáp ứng các tiêu chí của thử nghiệm, bà cho rằng phương pháp theo dõi chủ động là một lựa chọn đáng cân nhắc để thảo luận với đội ngũ điều trị của họ.

Tuy nhiên, ngay cả khi phương pháp theo dõi chủ động là lựa chọn hợp lý về mặt y khoa thì quyết định không điều trị ngay cũng không hề dễ dàng.

Ông Weedon-Fekjær, đồng tác giả nghiên cứu về chẩn đoán quá mức tại Na Uy, nhận xét: “Biết mình mắc ung thư mà không điều trị thì có lẽ đó là điều rất khó có thể chấp nhận”.

Hiện tại, các bác sĩ vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn rằng mọi ca ung thư đều có thể được trì hoãn điều trị. Tuy nhiên, đối với một số phụ nữ mắc DCIS nguy cơ thấp, kết quả nghiên cứu COMET có thể mở ra một hướng đi khác: thay vì phải lên lịch phẫu thuật ngay sau khi khám, họ có thể được theo dõi chặt chẽ mà chưa cần điều trị ngay, qua đó tránh những can thiệp y tế không cần thiết đối với tình trạng có thể không gây hại cho họ.

Các xét nghiệm mới

Những câu hỏi đặt ra từ việc chụp nhũ ảnh ngày càng trở nên cấp thiết, khi các nhà nghiên cứu phát triển những xét nghiệm mới có khả năng phát hiện các loại ung thư hiện không được sàng lọc thường quy.

Một ví dụ là Galleri, xét nghiệm máu do công ty Grail phát triển, có khả năng phát hiện dấu hiệu của hơn 50 loại ung thư chỉ qua một lần lấy máu. Thay vì sàng lọc riêng từng cơ quan hoặc từng hệ cơ quan, xét nghiệm này tìm kiếm dấu hiệu ung thư trên khắp cơ thể.

Lời hứa này rất đáng kỳ vọng.

Tuy nhiên, một thử nghiệm quy mô lớn tại Anh cho thấy việc phát hiện thêm nhiều ca ung thư không dễ chuyển thành những cải thiện thực sự về kết quả điều trị cho người bệnh.

Thử nghiệm có hơn 142.000 người tham gia, so sánh hai phương pháp: sàng lọc ung thư theo quy trình thông thường và sàng lọc thông thường kết hợp với xét nghiệm Galleri. Xét nghiệm máu này phát hiện thêm một số ca ung thư, trong đó có cả những ca ở giai đoạn sớm.

Có điều, thử nghiệm không đạt được mục tiêu chính. Với 12 loại ung thư mà nhóm nghiên cứu tập trung, Galleri không làm giảm có ý nghĩa thống kê tổng số ca được chẩn đoán ở giai đoạn III và IV, khi khối u đã lớn hơn, ăn sâu hơn vào mô hoặc lan khắp cơ thể. Nói cách khác, mức chênh lệch giữa hai nhóm quá nhỏ để loại trừ khả năng chỉ do ngẫu nhiên.

Riêng với ung thư giai đoạn IV, nhóm có làm thêm xét nghiệm này ghi nhận ít người mắc hơn. Các nhà nghiên cứu đang tiếp tục theo dõi người tham gia để biết khác biệt này có kéo dài không và rốt cuộc xét nghiệm có ngăn được tử vong do ung thư hay không.

Brentnall, người đứng đầu đơn vị nghiên cứu tham gia thực hiện thử nghiệm này, cho biết kết quả cho thấy việc phát hiện ung thư mới chỉ là một trong những tiêu chí cần xem xét khi đánh giá một xét nghiệm sàng lọc.

Theo ông, phát hiện được ung thư chưa đủ để đánh giá hiệu quả của một xét nghiệm sàng lọc. “Nhưng chỉ xem xét tỷ lệ tử vong do ung thư cũng chưa đủ”, ông nói thêm. Những gì xảy ra sau khi một người nhận kết quả dương tính cũng là yếu tố quan trọng cần tính đến.

Hồi tháng 9, một ủy ban cố vấn của FDA đã bỏ phiếu với 7 phiếu thuận, 2 phiếu chống và 1 phiếu trắng, cho rằng lợi ích của xét nghiệm Galleri lớn hơn những rủi ro mà xét nghiệm này mang lại. Tuy nhiên, các thành viên có ý kiến khác nhau rõ rệt hơn về việc liệu đã có đủ bằng chứng chứng minh hiệu quả của xét nghiệm hay chưa: 6 người bỏ phiếu ủng hộ và 4 người phản đối. FDA vẫn chưa đưa ra quyết định phê duyệt cuối cùng.

Đối với những phụ nữ đang cân nhắc có nên thực hiện sàng lọc hay không, ông Brentnall gợi ý nên hỏi bác sĩ rằng: “Đối với một người có đặc điểm như tôi, xét nghiệm sàng lọc này mang lại những lợi ích và rủi ro cụ thể nào? Và dựa vào đâu bác sĩ có thể xác định được điều đó?”

Nhiều phụ nữ đọc bài viết này đã từng được điều trị ung thư sau khi chụp nhũ ảnh và phát hiện ra bệnh. Khi được hỏi những phụ nữ đã từng điều trị ung thư nên nhìn nhận kết quả nghiên cứu tại Na Uy như thế nào, ông Harald Weedon-Fekjær thừa nhận rằng không có một câu trả lời chung cho tất cả mọi người.

“Việc sàng lọc bằng chụp nhũ ảnh có thể đã cứu sống bạn, nhưng chúng ta không bao giờ có thể biết chắc điều đó”.

Published by

Recent Posts

Tổng thanh tra Lầu Năm Góc: Không quân Mỹ phù hợp hơn để điều tra vụ Starlink ở Ukraine

Tổng thanh tra Lầu Năm Góc cho biết vụ giới hạn tốc độ Starlink ở…

2 phút ago

TASS: Bà Delcy Rodríguez yêu cầu Ngân hàng Trung ương Anh trả khoảng 31 tấn vàng Venezuela

Bà Delcy Rodríguez tuyên bố sẽ không từ bỏ yêu cầu Ngân hàng Trung ương…

33 phút ago

Bộ Ngoại giao Úc: Trung Quốc có quyền lập trạm trong vùng Nam Cực Úc

Bộ Ngoại giao Úc bác ý kiến coi đường băng của Trung Quốc trong Lãnh…

41 phút ago

Mỹ: Cháy phòng thí nghiệm hạt nhân Savannah River, khảo sát không phát hiện nhiễm xạ

Đám cháy tại phòng thí nghiệm thuộc khu hạt nhân Savannah River của Mỹ gây…

50 phút ago

Tượng Nữ thần Tự do tròn 140 tuổi, biểu tượng của tự do và hy vọng

Tượng Nữ thần Tự do ở cảng New York tròn 140 năm khánh thành, là…

52 phút ago

Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng: Dự thảo Luật Đất đai bảo đảm không lạm dụng thu hồi đất

Ông Trịnh Việt Hùng cho biết dự thảo Luật Đất đai sửa đổi quy định…

1 giờ ago