(Ảnh: Ungvar, Shutterstock)
“Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” từng một thời là hy vọng của nhân loại. Trong lý niệm của các vị cha lập quốc Hoa Kỳ tỏa rạng ánh sáng của văn minh cổ xưa, dù nó có một phần quan tâm đến việc giải quyết vấn đề vật chất, nhưng nỗi khát khao tự do mãi mãi cao hơn mọi khao khát hiện thực. Hàm nghĩa căn bản nhất của thứ tự do này là: mỗi người đều có quyền làm chủ lương tâm và đạo đức của chính mình, không ngừng vượt lên sự cám dỗ và trói buộc của vật chất cùng dục vọng, để nội tâm nối thông với chân lý bao la của thế giới bên ngoài.
Nếu một ngày kia quốc độ vĩ đại này mất hết mọi dinh dưỡng tinh thần nuôi dưỡng niềm hy vọng ấy, nó sẽ biến thành một cái túi da đầu hàng trước vật chất tiền bạc. Một đế quốc trống rỗng như thế chẳng bao lâu sẽ diệt vong. Dù muốn dù không, thế giới đã gửi gắm rất nhiều hy vọng nơi Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Vậy đất nước này đã phản ứng như thế nào trong cuộc chiến toàn diện với Trung Cộng?
Có người Trung Quốc đến Mỹ, cảm khái vô hạn nói: “Nhóm quốc phụ này của nước Mỹ, những con người như thế, sinh ra được một người đã chẳng dễ; nơi này sao vận may đến thế, lại sinh ra cả một nhóm”.
Những người năm xưa tham dự quyết định nền độc lập của nước Mỹ, ai nấy đều không tầm thường. Bất kể là Washington, Jefferson, hay Franklin và Lincoln, tất cả những vị cha lập quốc này đều có một điểm chung: họ đều là những vĩ nhân được dân chúng ngưỡng vọng trong lòng, là những vĩ nhân từ đầu đến cuối bảo vệ đạo đức.
Mỹ đức của George Washington thể hiện ở chỗ làm sao thông qua thân xác bên ngoài của con người mà thể hiện sức mạnh đạo đức bên trong. Đó là tinh thần hiến thân cống hiến cho phúc chỉ nhân loại mà mỗi chúng ta đều có thể tìm thấy trên chính mình; là quan niệm đạo đức tự hoàn thiện, vừa kỳ vọng vừa thân hành thực hiện.
Thomas Jefferson từ năm 1786 đã thúc đẩy bang Virginia thông qua “Đạo luật Tự do Tôn giáo” do ông khởi thảo, chỉ ra: “Những quan điểm của con người không phải là đối tượng của chính quyền dân sự, cũng không thuộc thẩm quyền quản lý của chính quyền.” Những nguyên tắc được xác lập trong đạo luật này đã góp phần đặt nền tảng tư tưởng và pháp lý cho các quy định về tự do tôn giáo trong Tu chính án thứ nhất thuộc Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill of Rights) của Hiến pháp Hoa Kỳ.
Nguyên nhân nước Mỹ có thể sinh ra cả các vị cha lập quốc
Năm 1776, một nhóm người theo đuổi tự do tín ngưỡng, vượt núi cao đất xa đến Bắc Mỹ hoang vu, rời xa thế giới châu Âu cổ xưa, trong môi trường khoan dung nhất mà thấm sâu sự khải ngộ của Thượng Đế, sáng tạo nên sự theo đuổi tinh thần mới, và từ đó kiến lập quốc độ mới cùng văn minh nhân loại đương đại.
Washington nói: “[Là người Mỹ,] các bạn yêu tự do tha thiết. Tình yêu tự do đã ăn sâu vào trái tim các bạn, đến mức tôi không cần đưa ra thêm bất kỳ lời khuyên nào để củng cố hay khẳng định sự gắn bó ấy.”
Nhìn suốt lịch sử nước Mỹ, hiếm có mấy người nắm trọng quyền như Washington mà dùng quyền lực trong tay thỏa đáng, đúng mực, khiêm cung đến thế. Bởi bản tính thiện lương nhất của những vĩ nhân này nói cho họ biết: quyền lực trong tay đến từ Đấng Sáng Tạo, là để phục vụ đại chúng cho đến toàn nhân loại.
Mỹ đức tự tu hành thể hiện trên thân các tiên hiền dù ở phương Đông hay phương Tây đều ánh chiếu truyền thống viễn cổ; bất kể tiếng nói ấy ngày nay bị hậu nhân lãng quên mà yếu ớt thế nào, chúng ta vẫn có thể từ sâu thẳm nội tâm nghe ra đó là tinh thần phổ biến nguyên sơ của nhân loại, là tiếng gọi trở về truyền thống vĩnh hằng, do Trời cao chỉ dẫn, của cuộc tìm tòi cảnh giới đạo đức cao thượng.
Washington, Jefferson, Franklin, Lincoln đều có lý niệm riêng của mình. Ở đây, khái niệm quốc gia không chỉ là một thực thể chính trị xã hội, mà còn là nơi hội tụ của linh hồn nhân loại. Vị Thượng Đế mà các ông nói tới không phải Thượng Đế của bất kỳ nhà thờ hay giáo phái tôn giáo nào, mà là Thượng Đế theo hàm nghĩa sâu sắc nhất, Đấng Tạo Hóa chân thực nhất trong vũ trụ cùng trong đời người.
Rõ ràng, các tiên hiền khai quốc của Mỹ không phải vì tư tâm và mục đích lấy mình làm trung tâm mà đổ máu hy sinh; họ cũng không đem cái xung động vật chất ấu trĩ không chút kiềm chế, bất kể thời gian, bất kể thủ đoạn, muốn gì đòi nấy, của chúng ta biến thành mục tiêu nỗ lực. Chúng ta không thể hiểu Hợp chúng quốc thành một thực thể xã hội, chính trị, kinh tế thuần túy bên ngoài, một Hợp chúng quốc như thế không thể bền lâu. Hợp chúng quốc chân chính thời lập quốc không dựa trên yêu ghét cá nhân, cũng không phải thỏa mãn dục vọng cá nhân, mà xuất phát từ tinh thần lương tri nhân loại.
Sử gia Mỹ Page Smith từng hỏi: “Giả như thật có một thứ gọi là ý thức Hợp chúng quốc độc đáo, thì nơi phát nguyên của nó ở đâu?” Ông viết: Sức mạnh căn bản nhất tạo hình tính cách người Mỹ là “sự lĩnh ngộ tối hậu về hàm nghĩa của vũ trụ cùng quan hệ giữa chúng ta và vũ trụ, nói gọn một câu, chính là sự lĩnh ngộ về hàm nghĩa của vũ trụ.”
Tổng thống đầu tiên của Mỹ George Washington, trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống ngày 30 tháng 4 năm 1789, đã trình bày rất nhiều lý niệm lập quốc của ông.
Nương nhờ sức mạnh của Đấng Sáng Tạo
“Đã rằng đó là cảm nghĩ của tôi khi tuân theo tiếng gọi của công chúng mà nhậm chức vụ hiện tại, thì nhân dịp tuyên thệ nhậm chức này, nếu không nhiệt thành cầu xin Thượng Đế toàn năng sẽ là một việc rất không thỏa đáng. Ngài cai quản vũ trụ và chủ trì hội đồng của các quốc gia; sự thần trợ của Ngài có thể bù đắp mọi khiếm khuyết của con người. Nguyện Thượng Đế ban phúc cho một chính phủ do chính nhân dân Mỹ thành lập nhằm bảo vệ quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc của họ, để chính phủ ấy có thể thực hiện thành công những mục đích thiết yếu này, phù hộ các biện pháp hành chính của nền chính trị, dưới sự phụ trách của tôi, đều phát huy tác dụng thành công.
Tôi tin rằng, khi dâng lên Đấng Sáng Tạo vĩ đại của lợi ích công cộng và lợi ích tư nhân lòng sùng kính này, những lời này cũng đồng thời nói lên tiếng lòng của quý vị và đông đảo công dân. Không dân tộc nào có nghĩa vụ lớn hơn nhân dân Hoa Kỳ trong việc thừa nhận và tôn kính bàn tay vô hình đang dẫn dắt những công việc của con người. Trên tiến trình đi tới quốc gia độc lập, dường như mỗi bước đi của họ đều có dấu hiệu thiên hựu nào đó; Trong cuộc cải cách quan trọng vừa hoàn thành nhằm thiết lập hệ thống chính phủ liên bang thống nhất, chúng ta không thể không bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, cũng không thể không khiêm nhường mong đợi những phúc lành mà các sự kiện trong quá khứ dường như đã báo trước, thì việc hoàn thành cải cách thông qua sự suy nghĩ bình tĩnh và tán đồng tự nguyện của bao nhiêu tập đoàn khác biệt nhau, phương thức này khó lòng so được với phương thức mà đa số chính phủ áp dụng trong quá trình tổ chức. Vào bước ngoặt hiện nay, tôi nảy sinh những ý nghĩ này quả thực là cảm xúc sâu xa không tự kìm nổi.
Tôi tin rằng quý vị cũng sẽ đồng ý với tôi rằng không có những suy tưởng nào thích hợp hơn lòng biết ơn và niềm tin vào sự phù trợ của Ngài, để một chính phủ mới và tự do có thể khởi đầu hoạt động một cách tốt đẹp nhất.”
Tài năng, chính trực và lòng yêu nước của người được bầu
“Bản Hiến pháp vĩ đại, nó khiến quý vị hôm nay vui vầy tụ hội, nó quy định quyền hạn của quý vị, chỉ ra mục tiêu quý vị cần chú ý. Trong trường hợp như thế, cách làm thỏa đáng hơn, cũng phản ánh nhiệt tình trong lòng tôi hơn, không phải là đề xuất biện pháp cụ thể, mà là ca ngợi tài năng, chính trực và lòng ái quốc của những người được bầu, những người sẽ quy hoạch và áp dụng các biện pháp ấy. Từ những phẩm cách cao quý này, tôi thấy được sự bảo đảm đáng tin cậy nhất: Đầu tiên, không một định kiến hay sự thiên vị địa phương nào, không một quan điểm riêng biệt hay sự thù địch đảng phái nào có thể làm sai lệch cái nhìn toàn diện và công bằng cần có trong việc chăm lo cho cộng đồng rộng lớn gồm nhiều địa phương và những lợi ích khác nhau này.”
Lấy đạo đức cá nhân làm nền tảng, mong muốn được lòng dân
“Thứ hai, những chính sách của quốc gia sẽ được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc trong sáng và bất biến của đạo đức cá nhân; và tính ưu việt của một chính phủ tự do sẽ được thể hiện qua những phẩm chất có thể giành được tình cảm yêu mến của người dân và sự kính trọng của toàn thế giới. Tình yêu đất nước tha thiết khiến tôi vô cùng vui mừng khi hướng tới viễn cảnh ấy. Bởi không có chân lý nào được xác lập vững chắc hơn điều này: theo trật tự và quy luật của tự nhiên, giữa đức hạnh và hạnh phúc, giữa bổn phận và lợi ích, giữa những nguyên tắc chân chính của một chính sách trung thực, cao thượng và những thành quả bền vững của sự thịnh vượng, hạnh phúc chung, luôn tồn tại một mối liên hệ không thể tách rời.
Chúng ta cũng phải tin rằng không một quốc gia nào có thể mong nhận được sự phù hộ của Thượng Đế nếu coi thường những quy tắc vĩnh cửu về trật tự và lẽ phải mà chính Ngài đã thiết lập. Bởi việc gìn giữ ngọn lửa thiêng liêng của tự do và vận mệnh của mô hình chính thể cộng hòa được xem là đang phụ thuộc sâu sắc, thậm chí mang tính quyết định cuối cùng, vào cuộc thử nghiệm chính trị được giao phó cho nhân dân Hoa Kỳ.”
…
“Tôi muốn một lần nữa khiêm nhường cầu nguyện với Đấng Tạo Hóa nhân từ. Bởi Ngài đã rộng lòng ban cho nhân dân Mỹ cơ hội thảo luận và cân nhắc trong hoàn cảnh hoàn toàn thanh bình, cùng tinh thần đồng thuận chưa từng có trong việc lựa chọn một hình thức chính phủ nhằm bảo đảm sự bền vững của Liên bang và nâng cao hạnh phúc của nhân dân. Tôi cầu nguyện rằng sự phù hộ thiêng liêng của Ngài cũng sẽ được thể hiện rõ ràng qua tầm nhìn rộng mở, những cuộc thảo luận ôn hòa, thận trọng và những quyết sách sáng suốt, bởi chính những điều ấy là nền tảng thiết yếu cho sự thành công của chính phủ này.”
Cảnh báo về những dục vọng mãnh liệt nhất trong tư tưởng nhân loại
Washington trong diễn văn từ biệt chức vụ của mình, nói đến nhiều lý niệm hơn:
“Giờ đây, tôi muốn xem xét vấn đề từ một góc nhìn bao quát hơn và trịnh trọng cảnh báo các bạn về những tác hại của thói bè phái nói chung. Thật không may, thói bè phái ấy vốn gắn liền với bản tính con người, bắt nguồn từ những cảm xúc và đam mê mãnh liệt nhất trong tâm trí chúng ta. Nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong mọi chế độ chính quyền, dù ít nhiều bị kiềm chế, kiểm soát hay hạn chế. Nhưng trong những chính thể dựa trên quyền lực nhân dân, tinh thần ấy bộc lộ mạnh mẽ nhất và thực sự là kẻ thù nguy hiểm nhất của những chính thể ấy… Nó còn mở đường cho sự can thiệp và tha hóa từ nước ngoài, khiến những ảnh hưởng ấy dễ dàng xâm nhập vào chính quyền thông qua những đam mê đảng phái. Do đó, chính sách và ý chí của một quốc gia có thể bị đặt dưới sự chi phối của chính sách và ý chí của quốc gia khác.”
Tôn giáo và đạo đức là trụ cột không thể thiếu
“Trong tất cả những phẩm chất và tập quán góp phần tạo nên sự thịnh vượng về chính trị, tôn giáo và đạo đức là những trụ cột không thể thiếu. Người làm chính trị, cũng như người có đức tin thành kính, đều phải tôn trọng và trân quý chúng.
Chúng ta cũng cần thận trọng trước giả định rằng đạo đức có thể được duy trì mà không cần đến tôn giáo. Dù có thể thừa nhận ảnh hưởng của nền giáo dục tinh tế đối với những tâm trí có đặc điểm riêng biệt, cả lý trí lẫn kinh nghiệm đều không cho phép chúng ta kỳ vọng rằng đạo đức của cả dân tộc vẫn có thể được duy trì khi các nguyên tắc tôn giáo bị gạt bỏ.
Về cơ bản, có thể khẳng định rằng đức hạnh hay đạo đức là một động lực thiết yếu của chính quyền dựa trên quyền lực nhân dân. Nguyên tắc này cũng đúng, với mức độ khác nhau, đối với mọi hình thức chính quyền tự do.”
Đề phòng sư tha hóa đến từ ảnh hưởng của nước ngoài
“Một dân tộc tự do phải luôn cảnh giác trước những thủ đoạn thâm hiểm của ảnh hưởng nước ngoài (hỡi đồng bào, tôi tha thiết mong các bạn tin điều này), bởi lịch sử và kinh nghiệm đã chứng minh rằng ảnh hưởng nước ngoài là một trong những mối đe dọa nguy hại nhất đối với chính thể cộng hòa. Nhưng sự cảnh giác ấy, muốn có hiệu quả, phải được duy trì một cách công bằng, không thiên vị. Nếu không, chính sự cảnh giác ấy sẽ trở thành công cụ phục vụ cho ảnh hưởng mà chúng ta muốn tránh, thay vì là phương tiện bảo vệ chúng ta khỏi ảnh hưởng đó.
Việc quá thiên vị một quốc gia và quá căm ghét một quốc gia khác khiến những người chịu tác động của các tình cảm ấy chỉ nhìn thấy hiểm họa từ một phía, trong khi che giấu, thậm chí tiếp tay cho những thủ đoạn gây ảnh hưởng từ phía còn lại. Những người yêu nước chân chính chống lại âm mưu của quốc gia được thiên vị lại dễ bị nghi ngờ và căm ghét; trong khi những kẻ làm công cụ hoặc bị quốc gia ấy lợi dụng lại chiếm được sự tán thưởng và lòng tin của nhân dân, để rồi đem lợi ích của chính nhân dân mình ra đánh đổi.
Nguyên tắc chỉ đạo quan trọng trong quan hệ của chúng ta với các quốc gia khác là: trong khi mở rộng quan hệ thương mại, chúng ta nên duy trì càng ít ràng buộc chính trị với họ càng tốt. Những cam kết đã được thiết lập phải được thực hiện với thiện chí và sự trung thực tuyệt đối. Nhưng chúng ta nên dừng lại ở đó.”
“Điều đó còn mở đường cho ảnh hưởng và sự tha hóa từ nước ngoài, khiến những ảnh hưởng ấy dễ dàng thâm nhập vào chính quyền thông qua những đam mê bè phái. Do đó, chính sách và ý chí của một quốc gia sẽ bị đặt dưới sự chi phối của chính sách và ý chí của quốc gia khác.”
Không được ảo tưởng về quốc gia khác
“Xét về chính sách, tinh thần nhân đạo và lợi ích quốc gia, chúng ta nên duy trì quan hệ hòa thuận và giao lưu rộng mở với tất cả các quốc gia. Ngay cả chính sách thương mại cũng phải dựa trên nguyên tắc công bằng và không thiên vị: không tìm kiếm cũng không dành cho bất kỳ quốc gia nào những đặc quyền hay ưu đãi riêng biệt; tôn trọng sự phát triển tự nhiên của thương mại, khuyến khích mở rộng và đa dạng hóa giao thương bằng những biện pháp ôn hòa, không cưỡng ép…
Hãy luôn ghi nhớ rằng: thật thiếu sáng suốt khi một quốc gia mong đợi những ân huệ vô tư, không vụ lợi từ một quốc gia khác; bởi để nhận được những ân huệ như vậy, quốc gia ấy phải đánh đổi một phần nền độc lập của mình… Không có sai lầm nào lớn hơn việc trông đợi hoặc đặt tính toán của mình vào những ân huệ thực sự vô tư giữa các quốc gia. Đó là một ảo tưởng mà kinh nghiệm phải giúp chúng ta nhận ra, và lòng tự trọng chính đáng phải khiến chúng ta từ bỏ.”
Thomas Jefferson, ngày 4 tháng 3 năm 1801, trong diễn văn nhậm chức Tổng thống Mỹ, với lời kêu gọi “Hỡi đồng bào, chúng ta hãy đồng tâm nhất trí, đoàn kết một lòng”, đã bày tỏ lý niệm lập quốc của ông.
Chúng ta có phẩm cách cao thượng, không thể dung nhẫn sự sa đọa của các quốc gia khác
“Chúng ta có phẩm cách cao thượng, không thể dung nhẫn sự sa đọa của các quốc gia khác; đất nước được ưu ái của chúng ta, bờ cõi đủ dung nạp con cháu muôn đời; chúng ta nhận thức đầy đủ rằng trong việc phát huy tài năng cá nhân, lấy cần lao đổi lấy thu nhập, được đồng bào tôn kính và tin cậy, mọi người đều hưởng quyền bình đẳng, nhưng sự tôn kính và tin cậy ấy không xuất phát từ dòng dõi hay xuất thân, mà từ hành vi của chúng ta và sự phán xét của đồng bào.”
Chúng ta được tôn giáo nhân từ khai sáng
“Chúng ta được tôn giáo nhân từ khai sáng: dù giáo phái khác nhau, hình thức mỗi khác, nhưng chúng đều dạy người chính trực, chân thành, tiết chế, biết ơn và nhân ái; chúng ta thừa nhận và sùng kính Thượng Đế toàn năng, và thiên ý cho thấy Ngài vui lòng khiến con người nơi đây được hạnh phúc, mai sau còn được nhiều hạnh phúc hơn. Chúng ta có những phúc lành này rồi, còn cần gì nữa mới có thể khiến chúng ta trở thành một dân tộc hạnh phúc và hưng thịnh? Hỡi các công dân, chúng ta còn cần một điều: đó là một chính phủ hiền minh mà tiết kiệm, ngăn người ta làm hại lẫn nhau, để họ tự do quản lý thực nghiệp và theo đuổi sự tiến bộ của mình, đồng thời không tước đoạt thành quả lao động của con người. Đây chính là tinh túy của một chính phủ tốt, đây cũng là điều tất yếu để chúng ta đạt tới hạnh phúc viên mãn.”
Nguyên tắc cơ bản của chính phủ là gì?
“Hỡi các công dân, tôi sắp thực hiện chức trách; những chức trách này bao gồm tất cả những gì các bạn trân quý; vì vậy, các bạn nên hiểu điều tôi coi là nguyên tắc cơ bản của chính phủ là gì, những nguyên tắc nào sẽ làm căn cứ cho việc điều hành chính quyền. Tôi sẽ cố trình bày vắn tắt, chỉ nói nguyên tắc chung, không nói các hạn định của chúng: thực hành công lý bình đẳng và chân chính đối với mọi người, bất kể địa vị hay tín ngưỡng tôn giáo hoặc quan điểm chính trị; chung sống hòa bình, qua lại thương mại, hữu hảo chân thành với mọi quốc gia, mà không bị ràng buộc bởi những liên minh phức tạp với bất kỳ quốc gia nào…
Trí tuệ của các bậc tiên triết và máu tươi của các anh hùng đều từng cống hiến cho việc thực hiện những nguyên tắc này; những nguyên tắc này nên là tín điều chính trị của chúng ta, sách giáo khoa giáo dục công dân, đá thử vàng kiểm nghiệm công việc của những người chúng ta tín nhiệm. Nếu chúng ta vì sai lầm hay kinh hoảng nhất thời mà rời bỏ những nguyên tắc này, thì hãy mau quay đầu, trở lại con đường lớn duy nhất dẫn tới hòa bình, tự do và an toàn.”
Quan niệm xã hội của Jefferson lấy sự tu dưỡng đạo đức nội tâm của mỗi cá thể làm tiền đề
Với Jefferson, mục đích của chính phủ tự chủ không phải thỏa mãn tư dục, mà là sự thể hiện của ý chí tự do của chúng ta. Giữa hai điều này có khác biệt một trời một vực; sự hiểu lầm về hàm nghĩa của “tự do” hiện đang đe dọa những giá trị nền tảng của Hợp chúng quốc, và là một trong nhiều lý niệm bị xuyên tạc nghiêm trọng.
Jefferson từng viết:
“Chúng ta tin rằng con người là sinh vật có lý trí, được tự nhiên ban cho những quyền lợi và một cảm quan chính nghĩa bẩm sinh; con người có thể được ngăn ngừa khỏi điều sai trái và được bảo vệ trong lẽ phải, bằng những quyền lực có giới hạn, được giao phó cho những người do chính mình lựa chọn, và buộc những người ấy phải làm tròn chức trách theo ý chí của mình.”
Jefferson khẳng định sự tồn tại của cảm quan chính nghĩa và năng lực hướng thiện trong tâm hồn nhân loại. Do mỗi quyền lợi đều gắn liền với khả năng thực thi ý chí của con người, nên chỉ trên tiền đề thừa nhận lý trí và cảm quan chính nghĩa của con người mới có thể tin tưởng trao cho mỗi người những quyền tự do rộng lớn đến thế. Những vấn đề vốn tưởng chỉ liên quan đến chính trị bên ngoài, những vấn đề tưởng chừng không cần tìm câu trả lời nơi sâu thẳm tâm hồn, nay đã không tránh khỏi dẫn chúng ta đi vào tận cội nguồn của đạo đức và nhân tính để truy căn tầm nguyên.
Sự thiếu vắng cảm quan đạo đức là sự suy giảm phẩm giá nghiêm trọng nhất
“Sự thiếu vắng hoặc khiếm khuyết cảm quan đạo đức ở một số người, cũng như sự thiếu vắng hoặc khiếm khuyết thị giác, thính giác ở những người khác, không chứng tỏ rằng đó là đặc trưng chung của cả loài người… Tôi chân thành tin tưởng… vào sự tồn tại phổ biến của bản năng đạo đức. Tôi cho rằng đó là viên trân bảo rực rỡ nhất trong nhân tính; sự thiếu vắng bản năng ấy còn làm suy giảm phẩm giá con người hơn cả những khiếm khuyết thể chất ghê gớm nhất.”
Jefferson tin chắc rằng con người sinh ra đã có bản năng phân biệt thiện ác. Lương tâm là một phần trong thiên tính của con người, cũng như thị giác, thính giác và xúc giác vốn là những năng lực bẩm sinh. Khả năng tu dưỡng và hoàn thiện đạo đức cũng bắt nguồn từ thiên tính ấy: con người có năng lực theo lành hướng thiện, có thể thông qua giáo dục và sự rèn luyện bản thân mà không ngừng nâng cao phẩm cách, hướng tới cảnh giới lý tưởng trong nội tâm.
Thế nào là sự theo đuổi hạnh phúc
Khi quan niệm “theo đuổi hạnh phúc” bị giải thích thành chủ nghĩa tiêu dùng, sự thoái hóa của lý niệm này có lẽ đã rõ rành rành. Sự theo đuổi hạnh phúc mà Jefferson và các bậc tiên hiền khai quốc khác nói đến không thể bị giản lược thành sự theo đuổi hàng tiêu dùng. Hạnh phúc mà Jefferson hướng tới không chỉ là sự thỏa mãn vật chất, mà còn là trạng thái tốt đẹp của tinh thần con người, là sự hài hòa giữa đời sống thể chất và tâm hồn, giữa cảm quan đạo đức, trí năng và những quy luật của đại tự nhiên. Với Jefferson, người am hiểu triết học tinh thần và truyền thống tư tưởng cổ kim của nhân loại, hạnh phúc không thể chỉ được đánh dấu bằng sự thỏa mãn dục vọng. Giả như khi hiểu sự theo đuổi hạnh phúc mà Jefferson nói, chúng ta mơ hồ cảm thấy đó là một quan niệm chủ yếu liên quan đến sự theo đuổi vật chất, thì chúng ta rất có thể đã hiểu lầm sơ tâm lập quốc của nước Mỹ. Mục đích các bậc tiền bối đổ máu sa trường hoàn toàn không phải chỉ để giành quyền hưởng thụ hàng tiêu dùng vô tận.
Quan điểm của Jefferson thể hiện niềm tin vào thuộc tính theo lành hướng thiện của nhân loại, một niềm tin có vị trí quan trọng trong lý tưởng lập quốc của Hợp chúng quốc. Nghĩa là: trong tự thân chúng ta có một phẩm tính cao quý, gần như thần thánh; phẩm tính này không chỉ thể hiện trong mỗi cá thể, mà còn có thể được phát huy trong đời sống cộng đồng. Đây không đơn thuần là giáo lý của Ấn Độ giáo, dù nghe có chút quen tai. Đây cũng không chỉ là quan niệm tôn giáo của Cơ Đốc giáo hay Do Thái giáo, dù trong đó có những âm hưởng tương đồng. Đây là một phần trong bức chân dung tinh thần của Hợp chúng quốc, đã hòa vào ngôn ngữ của Hợp chúng quốc, đã cắm rễ sâu trong thổ nhưỡng của Hợp chúng quốc.
Đây chính là một phương diện quan trọng trong cách nhìn của Jefferson về bản tính con người. Ông như một tín đồ thành kính đứng trước thánh đàn; những lý niệm và lý tưởng khiến ông phấn chấn ấy, qua lý trí và tình cảm cực kỳ mẫn nhuệ của ông, đã góp phần chấn hưng tinh thần Hợp chúng quốc. Jefferson và các bậc cha lập quốc đồng thời nhận thức được những khuynh hướng thấp kém trong bản tính con người, điều mà truyền thống Cơ Đốc giáo từ lâu đã suy tư; nhưng họ đồng thời tin tưởng vào lý trí, cảm quan đạo đức và năng lực hướng thiện của nhân loại. Họ có khả năng, đồng thời cũng nhận lấy trách nhiệm dùng một ngôn ngữ mới để trình bày những chân lý ấy, thứ ngôn ngữ như tiếng vọng của sự thức tỉnh tinh thần nhân loại; nó mở ra trong nội tâm chúng ta một viễn cảnh quang minh; trong ngôn ngữ ấy không mảy may sự phục tùng mù quáng, mà tràn đầy lời gan ruột của một niềm tin tỉnh táo: ngôn ngữ của đạo đức, ngôn ngữ của lý trí tràn đầy nhiệt tình. Một nền tảng quan trọng trong lý tưởng của Jefferson chính là niềm tin này. Cho nên, từ cách nhìn ấy, chúng ta phải sáng lập một trật tự xã hội và một chính phủ như thế: vừa tôn sùng tự do, phát dương tinh thần nhân loại cao thượng, thiêng liêng, đồng thời lại có khả năng kiềm chế, ràng buộc những xung động đê tiện, vị kỷ, vốn thường chi phối con người trong đời sống thực tế. Đây là tính hai mặt đầy mâu thuẫn trong nhân tính: nơi sâu thẳm nội tâm, chúng ta vừa là người tự do, vừa có thể trở thành nô lệ; chúng ta vừa có thể là thánh hiền vừa có thể là dã thú; vừa có thể cao thượng vừa có thể sa đọa, vừa kiên cường vừa mỏng manh.
“Nhân quyền” là quyền tự do thực hành lương tâm do Thượng Đế ban cho
“Nhân quyền” với Jefferson không chỉ là quyền không bị chính phủ can thiệp, mà còn bao hàm quyền của mỗi người được chủ động thực hiện những quyền tự nhiên do Thượng Đế ban cho, được tự do theo đuổi hạnh phúc và hướng tới phẩm cách cao thượng thông qua lý trí và cảm quan đạo đức ẩn chứa trong nội tâm, hay còn gọi là lương tâm. Nhìn như thế, một trong những mục đích cao quý của việc kiến lập Hợp chúng quốc là sáng tạo một chính phủ có khả năng bảo hộ những quyền tự nhiên ấy, tạo điều kiện để mỗi con người được tự do phát huy phẩm tính đạo đức, từ đó góp phần thúc đẩy sự tiến bộ và thăng hoa tinh thần của xã hội. Jefferson nhận thức rõ những khuynh hướng thấp kém trong bản tính con người, nhưng ông còn từ đáy lòng tin tưởng vào khả năng tu dưỡng, theo lành hướng thiện của nhân tính. Với Jefferson, kết cấu của chính phủ như da và xương, bảo hộ và chống đỡ mỗi con người bằng xương bằng thịt, để họ được tự do tuân theo ngộ tính và lương tâm của chính mình, sống phù hợp với những quyền tự nhiên mà Đấng Tạo hóa đã ban cho. [36]
Chiến tranh là phán quyết của Thượng Đế cho những món nợ
“Nếu chúng ta giả định rằng chế độ nô lệ ở Mỹ là một trong những tội lỗi mà, theo sự quan phòng của Thượng Đế, đã được phép tồn tại; rằng sau khi để nó tiếp diễn trong thời gian mà Ngài đã định, nay Ngài muốn xóa bỏ nó; và rằng Ngài giáng cuộc chiến tranh khủng khiếp này xuống cả miền Bắc lẫn miền Nam như sự trừng phạt dành cho những kẻ đã gây nên tội lỗi ấy, thì liệu chúng ta có thể nhận thấy trong đó điều gì trái ngược với những phẩm tính thiêng liêng mà những người tin vào Thượng Đế hằng quy cho Ngài hay không?
Chúng ta tha thiết hy vọng, thành tâm cầu nguyện rằng tai họa khủng khiếp của cuộc chiến này sẽ sớm chấm dứt.
Nhưng nếu Thượng Đế muốn cuộc chiến tiếp diễn cho đến khi toàn bộ của cải tích lũy từ hai trăm năm mươi năm lao động không được trả công của những người nô lệ bị tiêu tan; cho đến khi mỗi giọt máu do ngọn roi gây ra phải được đền trả bằng một giọt máu đổ xuống dưới lưỡi gươm, thì như lời đã được phán truyền từ ba nghìn năm trước, chúng ta vẫn phải nói rằng: ‘Những phán quyết của Chúa đều chân thật và hoàn toàn công chính.’”
Một quốc gia thai nghén trong tự do và dâng hiến cho lý tưởng
Ngày 19 tháng 11 năm 1863, Lincoln trong bài diễn thuyết nổi tiếng tại chiến trường Gettysburg đã nói:
“Tám mươi bảy năm về trước, những vị cha lập quốc đã sáng lập nên một quốc gia mới trên lục địa này, thai nghén trong tự do và dâng hiến cho lời tuyên bố rằng mọi con người được tạo ra bình đẳng. Ngày hôm nay, chúng ta đang phải đối mặt với một cuộc nội chiến lớn, để thử thách xem một quốc gia như vậy, hay bất cứ một quốc gia nào được thai nghén trong tự do và dâng hiến cho sự bình đẳng đến mức như vậy, có thể trường tồn được hay không.
Chúng ta hội ngộ trên chiến trường lớn của cuộc nội chiến ấy. Chúng ta tới đây để dâng hiến một phần của chiến trường này thành nơi an nghỉ cuối cùng cho những con người đã ngã xuống để tổ quốc được sống. Đó là một điều phù hợp và nên làm.
Nhưng, theo một ý nghĩa rộng lớn hơn, chúng ta không thể dâng hiến, không thể thờ cúng, không thể thần thánh hóa mảnh đất này hơn nữa. Những con người dũng cảm, dù còn sống hay đã khuất, đã nỗ lực để thần thánh hóa mảnh đất này vượt trên khả năng nhỏ bé của chúng ta, chúng ta đã không thể góp phần hay làm lu mờ bớt đi nỗ lực ấy.
Thế giới sẽ không ghi nhớ những gì mà chúng ta đang nói tại đây ngày hôm nay, nhưng thế giới sẽ không bao giờ quên điều mà những con người dũng cảm ấy đã làm được.
Đối với chúng ta, những con người đang sống, chúng ta cần phải dâng hiến bản thân cho những công việc dang dở, mà những con người đã chiến đấu ở đây đang thúc đẩy một cách cao thượng. Chính chúng ta cần phải dâng hiến cho nhiệm vụ trọng đại mà chúng ta đang phải đối diện –
nhiệm vụ mà chúng ta nhận lấy từ những người đã khuất đáng kính, để dâng hiến hơn nữa cho chính nghĩa mà họ đã tận lực hiến dâng;
nhiệm vụ mà chúng ta phải kiên tâm để những người đã ngã xuống không ra đi một cách uổng phí;
nhiệm vụ khiến cho đất nước này, dưới bàn tay của Chúa, được tái sinh trong tự do;
nhiệm vụ để cho một chính quyền của dân, do dân và vì dân sẽ không biến mất khỏi mặt đất này.”
Trong Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ có một câu nói thường xuyên bị dịch sai: “all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights”, “con người được [Chúa Sáng Thế] tạo ra bình đẳng, và được Chúa Sáng Thế ban cho những quyền bất khả xâm phạm”. Không phải “sinh ra” mà là “tạo ra”. Câu nói này thể hiện niềm tin của các vị Cha Lập quốc rằng Chúa Sáng Thế tạo ra con người. Trong quan niệm của các vị Cha Lập quốc, quyền bất khả xâm phạm, quyền tự do của con người không phải là do con người tự ý quy định. Quyền đó là do Chúa Sáng Thế ban cho con người. Sự tự do này là có quy phạm, đặt cơ điểm trên nền tảng đạo đức phổ quát mà tín ngưỡng đem tới.
Hàm nghĩa căn bản nhất trong giá trị phổ quát của Hợp chúng quốc là mỗi người đều có quyền tìm tòi và làm chủ lương tâm của chính mình. Tự do chính trị trước hết và quan trọng nhất là sáng tạo một môi trường xã hội cho phép mỗi người đi tìm tòi đạo đức của tự thân. Nhưng lý niệm và quyền lợi này trong thế giới hiện đại đã bị hiểu thành quyền thỏa mãn dục vọng chủ quan của một người, những dục vọng ấy không tham chiếu bất kỳ tiêu chuẩn đạo đức nội tâm nào. Thế là, lý niệm tự do bị hạ thấp thành sự sùng bái và theo đuổi dục vọng cùng vật chất.
Các quốc phụ của Hợp chúng quốc như Washington, Jefferson, Franklin, Lincoln không hề khái niệm hóa, hình thức hóa, hay dung tục hóa dân chủ thành một kết cấu chính phủ bề mặt. Chính thể cộng hòa ngay từ đầu đã được kiến lập trên hiện trạng thiện ác cùng tồn tại, tức tính hai mặt của con người. Với các vị cha lập quốc, sự kiến lập ban đầu và kiện toàn dần dần của hình thái xã hội Mỹ đều là để dân chúng, với tư cách người thực tiễn của chế độ đương đại, làm cỗ xe chở sự theo đuổi không ngừng cảnh giới tinh thần cao hơn mà thôi.
John Adams, Tổng thống thứ Hai của Hoa Kỳ, nói: “Hiến pháp của chúng ta chỉ dành cho người có đạo đức và tín ngưỡng. Nó hoàn toàn không thích hợp cho chính quyền của những kiểu người khác.” Con người phải là công dân tận trách, đây là tiền đề của mọi quyền lợi được hiến pháp bảo đảm. Rời xa tiền đề này, các vị cha lập quốc không thể tưởng tượng nổi sự bảo đảm quyền con người và hình thức chính phủ. Trong lý niệm lúc lập quốc của họ, tự nhiên là mong hình thức quốc gia bảo hộ tự do, bảo đảm trách nhiệm và quyền lợi của công dân có trách nhiệm, bảo đảm nỗ lực không mỏi của sự theo đuổi tinh thần tự do, từ đó bảo đảm tinh thần của tổng thể xã hội và cá nhân không vì sự thúc đẩy của tư lợi và dục vọng mà suy bại, sa đọa.
Nội hàm của thế giới tinh thần cá nhân bên trong và đạo đức xã hội này có nhiều nội dung: lương tri, tín ngưỡng, sự tuân giữ chính nghĩa, thể ngộ ý muốn của Thượng Đế, an phận trong sự che chở của Thượng Đế. Nhưng khi sự tuân giữ ấy trở nên chẳng đáng kể, hữu danh vô thực, thì tinh thần thực chất của Hợp chúng quốc liền mất đi sức ngưng tụ và sức hấp dẫn chân thực của nó. Dù cái vỏ của nó vẫn giữ được đẹp đẽ và bóng bẩy, nó đã biến thành vật trang trí không nội hàm.
Kết cấu xã hội công chính và phương thức vận hành trong lý niệm của các vị cha lập quốc không phải quần thể con rối dưới sự cưỡng bức của pháp luật, mà là hình thức ngưng tụ của kết cấu tâm lý lành mạnh và sự tịnh hóa tâm linh của những thành viên xã hội tận chức tận trách. Washington, Jefferson, Lincoln là hóa thân hình tượng của những tinh thần lập quốc Hợp chúng quốc này. Muốn hiểu được lý tưởng lập quốc của Mỹ, cần thiết một lần nữa hồi cố họ, nhận thức lại họ. Nhận thức họ không phải vì họ, mà vì chính chúng ta, để nhìn rõ hơn thời đại chúng ta đang sống, cùng vì sao thời đại này suy bại, mối quan hệ giữa việc chúng ta đánh mất bản chất tự thân và nguồn gốc khổ nạn.
Mỹ từng một thời là hy vọng của cả thế giới. Đó là một thứ hy vọng thế nào? Dù sự theo đuổi hưởng thụ vật chất là một phần của hy vọng ấy, dù nỗi khát khao bình đẳng và tự do cũng là bộ phận cấu thành quan trọng của hy vọng ấy, dù hòa bình và an định nơi đây với chúng ta đều vô cùng quý báu, nhưng hy vọng mà “Hợp chúng quốc” mang đến cho nhân loại cao hơn sự theo đuổi vật chất của chúng ta, hơn cả nỗi khát khao bình đẳng và tự do, hòa bình và yên ổn.
Quan niệm giá trị của “Hợp chúng quốc” kỳ thực là tổng hợp thể của văn minh cổ xưa và giá trị phổ quát đương thế: vừa có nội dung cảnh giới cao nhất của tinh thần nhân loại, vừa có những lý niệm đan xen giữa đạo đức và xã hội nhân loại, là loạt giá trị phổ quát mang hy vọng và sức sống đến cho thế giới. Những nội dung về Thượng Đế, tín ngưỡng, đạo đức, linh hồn nhân loại trong giá trị lập quốc của “Hợp chúng quốc” thể hiện trí tuệ văn minh cổ xưa của nhân loại.
Xét từ tầng sâu hơn, bất kể từ góc độ cá nhân hay tổng thể, hy vọng mà “Hợp chúng quốc” bao hàm là nỗi khát vọng về thuộc tính bên trong của con người cùng cảnh giới tinh thần mà con người có thể đạt tới. Chính qua nỗi khát vọng tinh thần này, lời hứa của “Hợp chúng quốc” đối với đời sống của nhân loại mới có thể như một bó đuốc, một ngọn đèn sáng và một tiếng gọi, thu hút con người trong biên giới mỗi quốc gia trên thế giới. “Hợp chúng quốc” từng có một thời là một lý tưởng vĩ đại.
Nếu chúng ta giả định “Hợp chúng quốc” trên thực tế đại biểu dòng chủ lưu của văn hóa thế giới, thì khi “Hợp chúng quốc” đánh mất ý nghĩa tồn tại của chính mình, thế giới này sẽ đi về đâu? Cho nên cuộc thảo luận về mệnh đề “Hợp chúng quốc” sẽ trực tiếp dẫn chúng ta suy ngẫm sâu về mục đích và chốn về của đời sống nhân loại ngày nay.
Sau Thế chiến I, Hoa Kỳ bước vào một giai đoạn hạn chế những cam kết chính trị và quân sự tại châu Âu. Trong khoảng hai thập niên tiếp theo, trật tự quốc tế ngày càng bất ổn, dẫn đến sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai năm 1939. Khi tham chiến vào năm 1941, Hoa Kỳ đã huy động tiềm lực kinh tế, công nghiệp và quân sự khổng lồ, cùng các nước Đồng minh góp phần quyết định vào việc đánh bại phe Trục phát xít.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Tổng thống Woodrow Wilson đã tích cực thúc đẩy việc thành lập Hội Quốc Liên với mục tiêu bảo vệ hòa bình thông qua cơ chế an ninh tập thể. Tuy nhiên những hạn chế về cơ chế thực thi và mâu thuẫn giữa các cường quốc, đã làm suy yếu khả năng duy trì hòa bình của Hội Quốc Liên.
Rút kinh nghiệm, trong Thế chiến II, Tổng thống Mỹ Roosevelt đã dùng thực lực của Hợp chúng quốc để thúc đẩy việc thành lập Liên Hợp Quốc, đồng thời hỗ trợ lâu dài cho sự vận hành của tổ chức này. Trong thời kỳ hậu chiến, Hoa Kỳ cũng góp phần thúc đẩy quá trình phi thực dân hóa thông qua ngoại giao, viện trợ kinh tế và sức ép chính trị đối với một số cường quốc thực dân châu Âu.
Mỹ cùng các nước đồng minh tự do phương Tây liên hợp kiến lập hệ thống kinh tế thị trường phạm vi toàn cầu, để các quốc gia khác cũng hưởng lợi từ đó. Bên cạnh đó, Mỹ cùng các nước đồng minh phương Tây đẩy mạnh ngoại giao nhân quyền trong phạm vi toàn thế giới, đem lý niệm nhân loại dần ngưng tụ trên giá trị cốt lõi tôn trọng nhân quyền và tự do.
Nếu không phải Mỹ đóng vai “cảnh sát thế giới”, dẫn đầu cùng liên minh tự do phương Tây bảo vệ hòa bình thế giới, giữ gìn trật tự cộng đồng quốc tế, thì cục diện thế giới hôm nay sẽ là bộ dạng khác.
Nói riêng về Trung Quốc, nước này từng ít nhất ba lần hưởng ơn lớn từ nước Mỹ:
Hai mươi năm trước, Mỹ dùng phương thức Chiến tranh Lạnh chiến thắng trận doanh cộng sản chủ nghĩa của Liên Xô và Đông Âu. Hai mươi năm sau, Mỹ đối mặt Trung Cộng, kẻ năm xưa tôn Đảng Cộng sản Liên Xô làm “anh cả”, thực lực kinh tế và quân sự của nó so với Mỹ đều không bằng Đảng Cộng sản Liên Xô bấy giờ. Vậy mà nước Mỹ ngày nay, trong quan hệ đối Hoa trên trường quốc tế, lại thường ở địa vị bị động. Việc nước này đẩy mạnh lý niệm dân chủ tự do sang Trung Quốc ngày càng suy yếu, trong khi thế công của Trung Cộng đối với Mỹ trên trường quốc tế ngày càng mạnh. Mỹ đối với Trung Cộng nghiễm nhiên đã ở tư thế phòng thủ, có những lĩnh vực đến ý thức phòng thủ cũng không có, lại càng bất lực phản kích.
Sơ tâm của Tổng thống Mỹ Nixon khi bang giao với Trung Cộng năm xưa là để liên minh với Trung Cộng đánh sập Đảng Cộng sản Liên Xô; Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ rồi, chính sách đối Hoa của Mỹ liền thành “gân gà”, bỏ thì tiếc, ăn chẳng ngon. Hai mươi năm sau đó, cách nói về chính sách đối Hoa của Mỹ về cơ bản là chính sách “tiếp xúc” (Engagement); giải thích chính thức là: qua tiếp xúc giao thiệp với Trung Quốc, dần dần diễn biến hòa bình Trung Quốc thành quốc gia tự do, dân chủ, pháp trị.
Dùng phương thức Chiến tranh Lạnh tiêu hao thực lực cứng cố nhiên có thể đánh sập một khối khổng lồ như Đảng Cộng sản Liên Xô, nhưng theo giới chính trị Mỹ lúc bấy giờ, dùng phương thức “tiếp xúc” của “diễn biến hòa bình” để dân chủ hóa Trung Quốc chưa hẳn đã không khả thi. “Diễn biến hòa bình” rốt cuộc không cần tiêu hao quốc lực một cách lãng phí, lại càng không cần đánh nhau. Nếu thật sự đạt được mục đích, đây đáng được gọi là trí tuệ ngoại giao vượt trội hơn cả Chiến tranh Lạnh. Thế nhưng, hai mươi năm trôi qua, Trung Quốc dưới ách thống trị của Trung Cộng chẳng có tiến bộ gì về chính trị, điều đó có nghĩa là chính sách “tiếp xúc” này đã thất bại rồi.
Hồi cố nguyên nhân thất bại của chính sách đối Hoa của Mỹ chủ yếu có hai:
Mấy khóa chính phủ Mỹ sau Tổng thống Reagan, trong thi hành chính sách đối Hoa có năm chỗ thất đáng sau:
Một, mở thị trường vô hạn chế cho Trung Cộng
Sau chiến tranh, Mỹ vọt lên thành cường quốc số một thế giới. Nền kinh tế phát đạt cao độ khiến thị trường trong nước Mỹ thành thị trường thống nhất chín muồi, hiệu quả nhất thế giới. Nhìn suốt lịch sử kinh tế thế giới sau Thế chiến II: phàm thị trường Mỹ mở cho quốc gia hay khu vực nào, quốc gia hay khu vực ấy liền có thể rất nhanh giàu mạnh lên. Kế hoạch Marshall chấn hưng châu Âu là thế; sự làm giàu của các nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan không ngoại lệ.
Hiệp định quan hệ thương mại Trung – Mỹ ký khi hai nước bang giao năm 1979: hai nước trao nhau “quy chế tối huệ quốc”. Nhưng Mỹ cần thẩm định hàng năm “quy chế tối huệ quốc” đối với Trung Quốc. Như vậy khiến “quy chế tối huệ quốc” thành thủ đoạn cứng chế ước Trung Cộng: mỗi kỳ thẩm định, phía Mỹ có thể lấy các điều kiện như nhân quyền ép Trung Cộng, Trung Cộng cũng buộc phải cúi đầu. Bởi sau 1978, tăng trưởng kinh tế thành nguồn duy nhất của tính chính danh cầm quyền của Trung Cộng; mà mất thị trường Mỹ chính là mất nguồn tăng trưởng kinh tế. Cho nên “quy chế tối huệ quốc” thực là một con bài bóp cổ họng Trung Cộng.
Năm 2000, chính quyền Clinton ký nghị án quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn đối Hoa (PNTR), khiến đạo luật do lưỡng viện Mỹ thông qua này chính thức thành luật pháp Mỹ. Việc ký đạo luật này khiến thị trường Mỹ vĩnh viễn, không chịu bất kỳ hạn chế nào, mở toang cho Trung Quốc. Trung Cộng từ đó vứt bỏ được một mối e ngại lớn với Mỹ; còn Mỹ thì mất một con bài thực lực chế ước Trung Cộng. Một số quan chức Mỹ hiện nay đối mặt nhiều cách làm của Trung Cộng tuy phẫn nộ nhưng bó tay, câu thường nói là: chúng ta đã không còn “leverage”, tức không còn thủ đoạn phản chế Trung Cộng nữa.
Đằng sau đạo luật này tự nhiên là các đại tài đoàn Mỹ nhắm vào lao công giá rẻ của Trung Quốc, từ đó thuyết phục giới chính trị Mỹ mở đường cho việc họ đầu tư vào Trung Quốc. Chính phủ Mỹ vì lợi ích kinh tế mà từ bỏ lập trường nhân quyền dân chủ. Một năm trước khi ký đạo luật, Trung Cộng vừa bắt đầu cuộc trấn áp quần chúng Pháp Luân Công trên cả nước, chính phủ Mỹ không phải không thấy. Khi thông qua đạo luật này tuy kèm việc lập một ủy ban Quốc hội giám sát pháp chế và nhân quyền Trung Quốc, nhưng việc ủy ban này làm chẳng qua mỗi năm ra một bản báo cáo, không có bất kỳ sức ràng buộc thực chất nào.
Thị trường Mỹ mở ra rồi thì không đóng lại được nữa. Lợi ích kinh tế, thông qua phát triển kinh tế và lưu thông thị trường, sẽ như quả cầu tuyết càng lăn càng lớn, đóng chặt trái tim các đại tài đoàn vào thị trường Trung Quốc, từ đó vận động chính phủ Mỹ vì lợi ích của Trung Cộng. Cứ thế, Trung Cộng ngược lại không đánh mà thắng nước Mỹ.
Chính phủ Mỹ khi đối đãi với nhiều chính quyền độc tài đều áp dụng chính sách củ cà rốt cộng cây gậy, duy chỉ với Trung Quốc là lại vứt bỏ cây gậy.
Hai, chú trọng thực lực cứng, xem nhẹ thực lực mềm
Nhiều quan chức Mỹ xử lý sự vụ đối Hoa từng là chuyên gia vấn đề Liên Xô. Họ thường dùng bộ tư duy và cách làm đối với Liên Xô để đối với Trung Cộng, tức chú trọng thực lực cứng. Bao năm nay, vấn đề Trung Quốc mà Mỹ quan tâm chủ yếu là kinh tế và quân sự.
Chỗ Trung Cộng hơn Đảng Cộng sản Liên Xô là giỏi qua lừa dối và dư luận mà tranh đoạt lòng người, từ đó chuyển hóa thực lực mềm thành thực lực cứng, cuối cùng đánh sập đối thủ.
Trung Cộng ngày nay, đối mặt Mỹ và áp lực quốc tế sau sự kiện thảm sát Thiên An Môn, càng chú trọng cuộc chiến thực lực mềm.
Một mặt, trong tuyên truyền hướng vào dân chúng trong nước, luôn coi Mỹ là kẻ thù số một, luôn nhấn mạnh “phản Tây hóa”, “phản diễn biến hòa bình” rất chặt. Truyền thông Mỹ muốn vào Trung Quốc khó hơn lên trời. Trung Cộng khống chế bóp nghẹt Internet, bóp nghẹt thông tin tự do trong nước. Mục đích làm thế là để bảo hộ hệ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa không dễ bị tư tưởng tự do phương Tây do Mỹ đứng đầu ăn mòn.
Ngoài phòng bị Mỹ, Trung Cộng còn áp dụng một tư thế tấn công. Ví như mỗi năm qua đủ danh nghĩa bỏ tiền mời quan chức liên bang, tiểu bang và địa phương của Mỹ thăm Trung Quốc. Những gì họ thấy nghe ở Trung Quốc đều là những gì Trung Cộng muốn cho họ nghe cho họ thấy. Nay gần như mỗi nhà mỗi hộ ở Mỹ đều có thể thu được chương trình tiếng Anh của Đài Truyền hình Trung ương Trung Cộng; China Daily phát hành công khai tại Mỹ; mấy chục Học viện Khổng Tử của Mỹ có lượng lớn thanh niên Mỹ đang học thứ tiếng Trung mà giáo viên Hán ngữ do Trung Cộng phái sang dạy họ. Đồng thời, Trung Cộng ra sức xuất khẩu các dự án văn hóa sang Mỹ, bề ngoài là văn hóa truyền thống Trung Quốc, thực chất là thứ Trung Cộng nhồi vào đầu óc dân chúng Mỹ.
Trong cộng đồng người Hoa ở Mỹ, truyền thông Hoa ngữ họ xem hàng ngày phần lớn bị Trung Cộng thao túng hoặc mua chuộc. Sứ quán, lãnh sự quán Trung Cộng trú Mỹ tiếp xúc lâu dài với cộng đồng người Hoa địa phương, không ngừng đưa những người này về Trung Quốc họp hành hay du lịch. Nhiều người Hoa ở Mỹ, tuy nhiều người đã nhập quốc tịch Mỹ, lòng hướng về thực chất là Trung Cộng; mà nhiều người Hoa như thế hoạt động sôi nổi trong xã hội chủ lưu Mỹ, bao gồm các ban ngành chính phủ Mỹ các cấp.
Mấy chục năm làm lâu dài như thế, lượng biến đến mức nhất định sẽ phát sinh chất biến. Trung Cộng sẽ có ngay trong sân nhà nước Mỹ một đội quân đồng minh ngày càng lớn mạnh. Kỳ thực, đội quân đồng minh này đã phát huy tác dụng: luận điệu “Đồng thuận Bắc Kinh”, thực chất là tuyên truyền cho Trung Cộng, đã bước lên diễn đàn của các nhóm cố vấn Mỹ; truyền thông chủ lưu của Mỹ đã bắt đầu ca ngợi hiệu suất cao của thể chế độc tài Trung Cộng; mỗi khi gặp sự kiện ảnh hưởng đến quan hệ Trung – Mỹ, lại có đông đảo người Hoa ở Mỹ nói đỡ cho Trung Cộng; thậm chí, người Hoa ở Mỹ còn công khai bức hại, quấy nhiễu các nhân sĩ dân chủ và đoàn thể tín ngưỡng ngay trên đất Mỹ.
Nhìn ngược lại, Mỹ về phương diện này thiếu sự cảnh giác cần thiết. Vì là xã hội dân chủ, nên với sự tiến vào và thẩm thấu của truyền thông, văn hóa, nhân viên của Trung Cộng, về cơ bản là cửa mở toang không phòng bị. Chẳng những không phòng bị, nhiều quan chức Mỹ còn không ý thức được (ví như Bộ Thương mại Mỹ trao giải truyền thông sắc tộc thiểu số xuất sắc nhất vùng Đông Nam nước Mỹ năm 2009 cho “China Daily”[38]). Còn nói đến chủ động tuyên truyền lý niệm tự do dân chủ sang Trung Quốc thì càng ít. Công ty lớn đến Trung Quốc chỉ để kiếm tiền, chẳng những không thay đổi được Trung Cộng, còn bị Trung Cộng thay đổi, cũng nhập gia tùy tục học được hủ bại, học được cách bức hại dân chúng Trung Quốc. Các công ty truyền thông, Internet của Mỹ hoặc vào không nổi Trung Quốc, hoặc vào được cũng chỉ sống trong không gian cực kỳ hữu hạn, chẳng phát huy được bao nhiêu tác dụng.
Sự tụt hậu về thực lực mềm sẽ khiến sự phát huy thực lực cứng của Mỹ chịu hạn chế rất lớn. Nói nghiêm khắc, ngay cả nước Mỹ chưa ra khỏi khủng hoảng tài chính vẫn là cường quốc kinh tế quân sự số một thế giới; nhưng nhìn mấy năm gần đây, phong thái lãnh tụ một nước dẫn đầu hoàn cầu của Mỹ trong công việc quốc tế đã không còn; việc gì cũng phải phối hợp đa phương, kết quả thường chẳng nên chuyện gì. Nhiều việc hễ bị Trung Cộng chặn đánh, Mỹ ngoài kháng nghị vài câu ngoài miệng, chẳng đưa ra nổi hành động thực chất nào.
Theo một nghĩa nào đó, nếu Mỹ có thể dốc sức đẩy mạnh lý niệm dân chủ tự do như Trung Cộng đẩy mạnh ý thức cộng sản của nó, thì cục diện hoàn toàn khác. Nhưng rất rõ, từ sau Tổng thống Reagan, điều này dường như chưa từng là trọng tâm chính sách đối Hoa của Mỹ. Vấn đề là Trung Cộng luôn làm, mà càng làm càng hăng. Cứ thế mãi, Mỹ sẽ mất lòng người.
Ba, trong giao thiệp với Trung Cộng, coi lầm Trung Cộng là chính phủ bình thường
Chính phủ Mỹ giao thiệp với Trung Cộng rất giống tú tài gặp lưu manh. Tú tài có thể với người có đáy tuyến đạo đức mà giảng hàm dưỡng, giảng đạo lý, giảng khiêm nhường, giảng quy củ; nhưng nếu đem những thứ ấy đối với lưu manh, chỉ có thể bị lưu manh lừa.
Đặc điểm của lưu manh:
Lưu manh nói lời không giữ lời, nếu trông mong lưu manh thực hiện lời hứa của mình thì chỉ có thể nói chưa nhìn rõ bản chất lưu manh. Năm xưa Bắc Kinh xin đăng cai Olympic 2008, cộng đồng quốc tế bấy giờ yêu cầu Trung Cộng cải thiện nhân quyền trước năm 2008, Trung Cộng tự nhiên đầy mồm nhận lời. Trước Olympic 2008, Trung Cộng ồ ạt bắt giữ học viên Pháp Luân Công, giam cầm nhân sĩ bất đồng chính kiến, nhưng cộng đồng quốc tế phê bình nữa thì sao? Olympic vẫn mở, nguyên thủ các nước vẫn đến. Thử nghĩ: nếu trước đó Trung Cộng không cam kết cải thiện nhân quyền, cộng đồng quốc tế có cho phép Bắc Kinh tổ chức Olympic không? Nhưng làm sao có thể tin lời hứa của một chính quyền lưu manh?
Khi Trung Cộng xin nhập WTO cũng hứa đáp ứng rất nhiều điều kiện. Nhưng một khi vào WTO rồi, theo điều khoản khi nhập WTO ban đầu, nhiều việc phải làm đúng hạn cứ mãi không thực hiện, khiến chính phủ các nước chẳng làm gì nổi Trung Cộng. Lợi thì chiếm hết, trách nhiệm thì không gánh, vẫn là ban đầu tin lời hứa của lưu manh.
Lưu manh bắt nạt kẻ mềm, sợ kẻ cứng: anh nhường lưu manh một bước, nó liền lấn tới. Tổng thống Obama sau khi nhậm chức, khi thăm Trung Quốc năm 2009 đã cố ý không cao giọng phê bình hồ sơ nhân quyền tồi tệ của Trung Quốc, với dụng ý là lấy đó đổi sự ủng hộ của Trung Cộng đối với Mỹ trong các sự vụ khí hậu và năng lượng. Nhưng Trung Cộng không nhận cái tình ấy: anh không phê bình nhân quyền của nó chính là tỏ ra yếu, nó liền bắt nạt anh. Kết quả tại một buổi tụ họp lãnh tụ các nước ở Hội nghị khí hậu Copenhagen cuối năm ấy, Trung Quốc chỉ phái một quan chức hạng hai của Bộ Ngoại giao ngồi đối diện thẳng với Obama. Trong hội nghị có mấy lần, nguyên thủ các nước lại phải chờ quan chức Trung Quốc rời ghế đi gọi điện xin chỉ thị cấp trên. Trong một trường hợp như thế mà làm ra chuyện như thế, tuyệt không phải hành vi cá nhân của một quan chức Trung Cộng. Về vấn đề khí hậu, Trung Cộng không nhường nửa bước, ngược lại còn chỉ trích Mỹ và các nước phương Tây.
Khi giao thiệp với người có đạo đức thì hồi báo là điều bình thường, nhưng lưu manh tuyệt không nghĩ thế. Anh tốt với nó một chút, khoan dung một chút, nó liền cho là mình chiếm lý, ngược lại đòi trèo lên đầu anh bắt nạt anh. Ngược lại, nếu anh kiên trì nguyên tắc và cứng rắn với nó, nó liền sợ.
Từ khi đắc cử năm 2006, Thủ tướng Canada Harper từng nêu rõ: quan niệm giá trị và các lý niệm như nhân quyền của Canada sẽ không bị “đồng tiền toàn năng” chà đạp. Sau đó Ottawa trao cho Đạt Lai Lạt Ma danh hiệu “Công dân danh dự Canada”, phê bình dữ dội hồ sơ nhân quyền Trung Cộng, tỏ thái độ hữu hảo với Đài Loan, đồng thời lên án hành vi gián điệp thương mại của Trung Cộng. Harper không dự lễ khai mạc Olympic Bắc Kinh 2008. Cuối năm 2009, khi Harper lần đầu thăm Trung Quốc, chẳng có gì lạ khi truyền thông Trung Cộng phê bình ông, còn Harper trong các dịp công khai suốt chuyến thăm vẫn tiếp tục nói về nhân quyền và khẳng định Canada sẽ “như trước nêu các nghị đề nhân quyền và tự do”. Một số truyền thông Canada cho rằng lập trường nhân quyền cứng rắn của Harper trên thực tế đã giúp Canada trong đàm phán lĩnh vực thương mại. Chuyến thăm năm 2009, Harper ký hàng loạt điều khoản thương mại, trong đó có hiệp định Trung Quốc nhập khẩu trở lại thịt lợn Canada (thứ mà các thủ tướng Canada tiền nhiệm muốn ký mà không ký nổi) cùng hiệp định để người Trung Quốc thuận tiện hơn sang Canada du lịch.
Lưu manh còn giở đủ trò khiến anh vào tròng. Ví như, sau sự kiện thảm sát Thiên An Môn năm 1989, Trung Cộng gặp cảnh phản đối trên trường quốc tế. Đối mặt với phê bình nhân quyền của các nước, nó liền nghĩ ra một chiêu: nói với các chính phủ phương Tây rằng đàm phán nhân quyền thì được, nhưng phải đóng cửa mà đàm. Kết quả các nước Âu Mỹ lũ lượt vào tròng, từng nhà từng nhà đóng cửa đàm nhân quyền với Trung Cộng. Thực chất, một mặt việc này khiến tiếng nói phê bình Trung Cộng trên trường quốc tế lặng xuống, còn Trung Cộng vẫn có thể “ta làm ta chịu” mà không chút bị chế ước. Mặt khác, các chính phủ về vấn đề nhân quyền đạt giao dịch riêng tư gì với Trung Cộng thì chỉ Trung Cộng và chính phủ các nước biết, đông đảo dân chúng không biết, truyền thông chủ lưu cũng không biết. Đây kỳ thực là việc Trung Cộng thông qua phương thức ấy để thao túng các chính phủ đi vào các thao tác hộp đen trái với chính trị dân chủ trong vấn đề nhân quyền.
Lại như, mỗi khi Trung Cộng chịu áp lực về vấn đề nhân quyền, hoặc gặp lúc tổng thống Mỹ sắp thăm Trung Quốc, nó liền thả một nhân sĩ bất đồng chính kiến bị giam để làm tư thế, tạo giả tượng nhân quyền cải thiện. Quan chức Mỹ giao thiệp với Trung Cộng thường coi đó là thắng lợi ngoại giao, nào biết đây chỉ là một kiểu bố thí ngoại giao của Trung Cộng. Một mặt áp lực quốc tế nhẹ đi, đồng thời quan chức Mỹ làm việc có cái để giao đãi và có “thành tích chính trị”, đáng gọi là một thả hai tiện. Nhưng thực chất, sự trấn áp của Trung Cộng đối với dân chúng không mảy may giảm: thả một người, Trung Cộng quay đầu có thể bắt thêm vài trăm người vào.
Bốn, dốc sức giao thiệp lợi ích với Trung Cộng, quên kết bạn với nhân dân Trung Quốc
Đối tượng tiếp xúc của chính sách “tiếp xúc” đối Hoa của chính phủ Mỹ chủ yếu là chính phủ Trung Quốc và quan chức Trung Cộng, không phải dân chúng Trung Quốc. Ở quốc gia dân chủ thông thường, chính phủ do dân bầu, giữa chính phủ và dân chúng không có mâu thuẫn lớn. Nhưng Trung Quốc thì khác: chính quyền Trung Cộng cùng chính phủ mà nó nắm giữ không phải là một chính quyền hợp pháp, cũng không thể đại diện cho dân chúng Trung Quốc.
Các đời tổng thống Mỹ chưa vị nào khi chính thức thăm Trung Quốc tiếp kiến những nhân sĩ bị Trung Cộng đàn áp. Trong mấy chục năm qua, nhiều nguồn vốn của Mỹ dùng để giúp phát triển dân chủ Trung Quốc cũng đi qua chính phủ Trung Quốc. Sự qua lại giữa chính phủ Mỹ – Trung đáng gọi là tầng tầng lớp lớp, hoa cả mắt: có qua lại giữa các nguyên thủ, có hội đàm chiến lược cấp cao, có qua lại cấp thống đốc – tỉnh trưởng, và có cơ chế tầng chính đảng. Còn giữa chính phủ Mỹ với dân chúng Trung Quốc, đặc biệt là với dân chúng bị Trung Cộng đàn áp, gần như không có cơ chế qua lại cố định nào.
Cách làm thiên về tiếp xúc chính phủ Trung Quốc và quan chức Trung Cộng này không hợp lắm với lý niệm dân chủ. Với Mỹ, cái lợi của việc kết bạn với nhân dân Trung Quốc có hai phương diện:
Đầu tiên, đứng cùng dân chúng Trung Quốc là có vũ khí hùng mạnh chế ước Trung Cộng. Trung Cộng trên trái đất sợ hai thứ: một là chính phủ Mỹ, hai là dân chúng Trung Quốc. Mục đích mấy chục năm gần đây nó một mực làm kinh tế cũng là để lấy phát triển kinh tế giành sự công nhận của dân chúng Trung Quốc, từ đó có tính chính danh cầm quyền. Một khi dân chúng không công nhận nó, ngày tận của Trung Cộng liền đến. Cho nên dù một mặt đàn áp dân chúng, mặt khác nó cũng lấy lợi ích kinh tế lôi kéo dân chúng. Nhưng đại đa số dân chúng Trung Quốc không ở tầng lớp quyền quý, họ trong lịch sử và hôm nay đều từng chịu Trung Cộng bức hại. Nếu chính phủ Mỹ có thể thật lòng giúp họ, lên tiếng vì tự do, quyền lợi, tín ngưỡng của họ, thì sẽ giành được sự ủng hộ của họ. Tuy Trung Cộng mấy chục năm luôn yêu ma hóa nước Mỹ, lâu dài nhồi hệ tư tưởng cộng sản cho nhân dân Trung Quốc, đại đa số dân chúng chỉ là sợ dưới áp lực cao, chứ lòng người không hướng về Trung Cộng. Nhưng nếu chính phủ Mỹ không thể hiện được sự kiên thủ đối với gốc lập quốc, lý niệm tự do của mình, mà một mực đặt lợi ích kinh tế lên trên hết, thì dân chúng Trung Quốc cũng nhìn thấy và họ có thể thất vọng về nước Mỹ.
Mặt khác, bất kể chính cục Trung Quốc biến ảo thế nào, tương lai Trung Quốc nhất định thuộc về 1,3 tỷ nhân dân Trung Quốc, có được họ chính là có được tương lai Trung Quốc. Ngược lại, tiếp xúc và kết bạn với chính quyền chuyên chế hiện tại chỉ có thể là ngắn ngủi, không có tương lai. Mùa xuân Ả Rập ở Trung Đông đã cho một bài học sâu sắc. Chính sách ngoại giao của Mỹ với Ai Cập cũng là “tiếp xúc”, mà là tiếp xúc với kẻ độc tài Ai Cập, coi hắn là đồng minh của Mỹ ở Trung Đông. Tháng 3 năm 2009, Hillary Clinton thăm Ai Cập; truyền thông hỏi hồ sơ chính phủ Ai Cập xâm phạm nhân quyền trong báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ có ảnh hưởng đến chuyến thăm Nhà Trắng của Tổng thống Ai Cập Mubarak bấy giờ không, Hillary đáp: “Hai chuyện này không liên quan. Tôi coi Tổng thống Mubarak cùng phu nhân là bạn của gia đình tôi. Nên tôi mong được thường gặp ông ấy ở Ai Cập và Mỹ.”[39] Đầu năm 2011, sau khi Ai Cập xảy ra cuộc kháng nghị của dân chúng, chính phủ Mỹ rơi vào cảnh vô cùng khó xử. Sau khi Mubarak rời đài, các thế lực chính trị lớn của Ai Cập đều mang thái độ phản Mỹ.[40]
Năm, nhân quyền và dân chủ thành đồ trang trí trong ngoại giao đối Hoa
Trong thi hành chính sách ngoại giao đối Hoa, chính phủ Mỹ rõ ràng coi nhân quyền và dân chủ là đồ trang trí, không thể sánh với sự quan tâm của nó đối với lợi ích kinh tế.
Mỹ – Trung có đối thoại kinh tế và chiến lược cấp cao mỗi năm hai lần, cấp bậc quan chức tham dự đều là thành viên nội các cấp bộ trưởng; còn hội đàm nhân quyền Mỹ – Trung hai năm mới một lần, quan chức dẫn đoàn chỉ là trợ lý ngoại trưởng chủ quản nhân quyền.
Tháng 2 năm 2009, Ngoại trưởng Hillary Clinton khi thăm châu Á đã nói: “Áp lực Mỹ gây về sự vụ nhân quyền không được quấy nhiễu thảo luận các nghị đề then chốt khác.”[41]
Trước Olympic Bắc Kinh 2008, tuy Tổng thống Bush tại Nhà Trắng có tiếp kiến vài nhân sĩ bất đồng chính kiến dân chủ mang tính tượng trưng, nhưng so với việc đích thân ông chạy đến Bắc Kinh xem Olympic thì bên nào nặng bên nào nhẹ nhìn là rõ.
Những cách làm và cách nói này đều đang phát cho Trung Cộng một tín hiệu rõ ràng không lẫn: Mỹ kỳ thực không coi trọng vấn đề nhân quyền Trung Quốc. Với Trung Cộng, điều này chẳng khác gì bật đèn xanh lớn cho bức hại nhân quyền. Trong cộng đồng quốc tế, kẻ thực sự chế ước nổi Trung Cộng chỉ có Mỹ; nếu Mỹ buông, thì không một quốc gia nào trị nổi Trung Cộng nữa.
Chưa hết, Trung Cộng còn quay lại nói tình trạng nhân quyền của mình tốt thế nào, của Mỹ tệ ra sao. Từ năm 1999, mỗi năm, đúng ngày hôm sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo nhân quyền thường niên, Trung Cộng lại châm đối mạch nhọn công bố báo cáo nhân quyền nước Mỹ, chuyển vấn đề nhân quyền sang thế công. Kỳ thực đây là kết quả của sự ám thị và dung túng của Mỹ.
Năm điều trên đều là chỗ thất bại của chính phủ Mỹ trong chính sách đối Hoa. Truy nguyên nhân căn bản, vẫn là sự hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức: giữa “nghĩa” và “lợi”, trọng lợi mà khinh nghĩa, quên mất gốc lập quốc của chính mình.
Còn nữa
Nhóm tác giả “Sự thật về Giang Trạch Dân”
Đăng lại từ 9binh.com (https://9binh.com/su-that-ve-giang-trach-dan)
Tài liệu tham khảo:
[36] Tài liệu tham khảo chính của phần này: Jacob Needleman, “Lý tưởng nước Mỹ” (The American Soul)
http://www.xiaoshuo555.cn/book/2/2630/
[37] Bối Khách Duyệt Độc, cộng đồng Thiên Nhai, diễn đàn Thiên Nhai, ngày 19 tháng 1 năm 2012
http://www.tianya.cn/publicforum/content/worldlook/1/430044.shtml
[38] Mạng Tân Hoa, “‘China Daily • bản Mỹ’ vinh dự nhận giải truyền thông sắc tộc thiểu số xuất sắc nhất năm vùng Đông Nam nước Mỹ”, ngày 5 tháng 8 năm 2009
http://news.xinhuanet.com/world/2009-08/05/content_11830699.htm
[39] Jackson Diehl, “Liệu Mỹ có thể đứng về phía đúng ở Ai Cập?” (Can the U.S. get on the right side in Egypt?), Washington Post, ngày 28 tháng 1 năm 2011
http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2011/01/27/AR2011012707456.html
[40] David Schenker, “Sự lạnh nhạt của Ai Cập” (Egypt’s cold shoulder), Los Angeles Times, ngày 15 tháng 2 năm 2012
http://articles.latimes.com/2012/feb/15/opinion/la-oe-schenker-egypt-20120215
[41] Glenn Kessler, “Clinton bị phê bình vì không tìm cách ép Trung Quốc” (Clinton Criticized for Not Trying to Force China’s Hand), ngày 21 tháng 2 năm 2009
http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2009/02/20/AR2009022000967.html
Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/12/7/20/n3640063.htm
Nhà phân tích Anders Corr nhận định căn cứ không quân Đảng Cộng sản Trung…
Tập đoàn Mỹ Amazon đang đàm phán mua startup AI Decart với mức định giá…
Ông Zandi ước tính chiến tranh Iran khiến mỗi hộ Mỹ tốn gần 2.000 USD,…
IMF hạ dự báo tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2026 xuống 4,5%, cho…
Đại diện Cục Đường bộ Việt Nam cho biết hơn 60% quốc lộ đã quá…
Canada mở thủ tục trục xuất ông Dung Tường Viễn, cựu lính Đảng Cộng sản…