Văn Hóa

Sự thật về Giang Trạch Dân (10.2) – Sự sa ngã trong cuộc chiến lợi dụng lòng tham

Chúng ta đã nói về “tham chiến”, cuộc chiến mà trong đó Đảng Cộng sản Trung Quốc lợi dụng lòng tham của các cường quốc phương Tây. Hậu quả của cuộc chiến mà ít người để ý đến này là gì?

3. Đá thử vàng

Có lẽ chẳng ai ngờ rằng vấn đề Pháp Luân Công lại trở thành đá thử vàng cho đạo đức của mọi người và thể hiện rõ sự tụt dốc của các chính phủ liên quan trong cuộc chiến lợi dụng lòng tham mà Đảng Cộng sản Trung Quốc âm thầm phát động. Những gì ghi lại ở đây chỉ là vài trường hợp mà thôi. Nhưng những câu chuyện như thế có thể đang xảy ra ngay quanh bạn, hoặc trên chính bản thân bạn.

Úc: Chiều lòng Trung Cộng, ngoại trưởng cấm Pháp Luân Công kháng nghị

Trần Dụng Lâm, cựu quan chức ngoại giao cấp cao của Trung Quốc, người từng dũng cảm quyết định đào thoát khỏi hàng ngũ Trung Cộng, khi trả lời phỏng vấn chuyên đề của Đài Á Châu Tự Do tiết lộ: Trung Cộng năm 2002 vạch ra một kế hoạch đưa Úc vào “phạm trù đại chu biên” của Trung Quốc. Ý tưởng cơ bản là: trong quan hệ Úc – Mỹ, phá vỡ liên minh quân sự Úc – Mỹ, biến Úc thành nước Pháp thứ hai, kỳ vọng Úc trở thành quốc gia phương Tây dám nói “không” với Mỹ.[26]

Ngày 19 tháng 3 năm 2002, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Cộng Đường Gia Triền sang thăm Úc, hội đàm với Ngoại trưởng Úc Alexander Downer tại Canberra. Cũng như khi giao thiệp với Pháp, chiếc cặp Đường Gia Triền mang theo cũng chứa đơn hàng khổng lồ: thời điểm ấy Úc vừa khéo có một dự án khí đốt tự nhiên rất lớn với Quảng Đông, Trung Quốc, đàm phán đang tiến hành. Do hai bên Trung – Úc “hài lòng” với hiệu quả hội đàm, về sau chính quyền Trung Cộng quả nhiên quyết định trao cho Úc hợp đồng khí đốt khổng lồ. Công ty liên doanh Thềm lục địa Tây Bắc của Úc giành được hiệp định thương mại trị giá 13,5 tỷ đô la Mỹ, mỗi năm xuất khẩu hơn 3 triệu tấn khí thiên nhiên hóa lỏng sang nhà máy chế biến LNG tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, trở thành hợp đồng xuất khẩu lớn nhất trong lịch sử nước Úc.[27]

Downer không phụ “tư thế hữu hảo” của Trung Quốc; ông ta biết rất rõ Trung Cộng muốn gì. Để đền đáp, Ngoại trưởng Úc Downer, trong thời gian Ngoại trưởng Trung Quốc Đường Gia Triền thăm Úc, đã ký ban hành lệnh hành chính đặc biệt “cấm học viên Pháp Luân Công căng biểu ngữ thỉnh nguyện trước Đại sứ quán Trung Quốc tại Úc”, ra lệnh cưỡng chế dỡ bỏ các biểu ngữ và thiết bị loa phóng thanh, đã tồn tại 9 tháng của học viên Pháp Luân Công kháng nghị cuộc bức hại của Trung Cộng trước Đại sứ quán Trung Quốc tại Úc. Lệnh hành chính đặc biệt do ngoại trưởng ký có hiệu lực 30 ngày, và buộc phải trình Quốc hội trong 7 ngày làm việc. Downer thì liên tục 42 tháng ký ban hành loại chứng thư lệnh hành chính đặc biệt vi phạm nhân quyền công dân Úc này. Tại Quốc hội, trong 82 bản lệnh hành chính “cấm học viên Pháp Luân Công căng biểu ngữ trước Đại sứ quán Trung Quốc”, chỉ có 78 bản được lưu hồ sơ; 4 bản còn lại không được thông qua tại Quốc hội. Đáng chú ý: bản lệnh hành chính đầu tiên do Downer ký ngày 16 tháng 3 năm 2002, một ngày trước khi Ngoại trưởng Trung Quốc Đường Gia Triền thăm Úc chưa từng được lưu hồ sơ tại Quốc hội; điều này có nghĩa là việc cảnh sát liên bang thu dỡ biểu ngữ Pháp Luân Công trước Đại sứ quán Trung Quốc năm 2002 là hành vi vi phạm pháp luật.

Các học viên Pháp Luân Công mỗi tháng đều cố gắng câu thông với Ngoại trưởng Downer, nhưng ông ta luôn cự tuyệt đối thoại. Cuối cùng, các học viên Pháp Luân Công đành khởi kiện lên Tòa án Tối cao thủ đô Canberra của Úc, kiện Ngoại trưởng Úc Downer cấm họ cử hành hoạt động kháng nghị tại Canberra. Luật sư của các học viên Pháp Luân Công Bernard Collaery tuyên bố: phản ứng của chính phủ Úc trong việc Pháp Luân Công bị bức hại là đáng xấu hổ. Vì tăng cường quan hệ song phương với Trung Quốc, bao gồm hợp tác kinh tế mà áp dụng thái độ tiêu cực đối với vấn đề nhân quyền, đó là nỗi nhục của một quốc gia.[28]

Luật sư nói:

“Chúng ta thấy trên tin tức: hàng trăm triệu vốn đầu tư đổ vào mảnh đất Úc này. Điều cần nói với mọi người là: một phần số tiền ấy được dùng để giám sát người tập Pháp Luân Công, làm tan rã tổ chức của họ, bức hại những người vô tội. Chúng tôi đã nghiên cứu pháp luật và hiến pháp Trung Quốc, phát hiện việc thành lập Phòng 610 là vi phạm pháp luật. Chính phủ Úc là một chính phủ nhu nhược. Hai năm qua, tôi đi qua nhiều quốc gia, chưa thấy quốc gia dân chủ nào cấm biểu ngữ Pháp Luân Công. Trong thế giới tự do, quốc gia duy nhất cấm biểu ngữ Pháp Luân Công chính là Úc; điều này rất khiến toàn thể nhân dân Úc lo ngại. Việc này sau ba năm, cuối cùng phải giải quyết qua con đường pháp luật.”[29]

Ngày 14 tháng 12 năm 2006, tòa án nêu rõ: bị đơn Downer cam kết không ký ban chứng thư nữa; ông ta từ ngày 11 tháng 3 năm ấy đã ngừng ký chứng thư hạn chế học viên Pháp Luân Công dùng biểu ngữ và loa phóng thanh, và ngày 1 tháng 11 đã nộp cho tòa một bản cam kết, tỏ rõ sẽ không ký ban chứng thư nữa. Thẩm phán cho rằng bản cam kết này về hiệu lực chấp hành nên tương đương lệnh cưỡng chế; lời cam kết của Downer còn tốt hơn việc tòa ra lệnh cưỡng chế buộc Downer không được ký chứng thư hạn chế hoạt động kháng nghị hòa bình của học viên Pháp Luân Công trước Đại sứ quán Trung Quốc tại Canberra, Pháp Luân Công có thể tự do, không bị hạn chế, bày tỏ sự kháng nghị của mình đối với việc Trung Cộng vi phạm nhân quyền. Vì vậy tòa phán quyết: bị đơn Downer chi trả toàn bộ án phí của nguyên đơn là học viên Pháp Luân Công, hai mươi nghìn đô la Úc.[30]

Chính phủ Đức: Giang Trạch Dân đến thăm, người đi đường không được mặc màu vàng

Tờ Die Welt của Đức đưa tin: ngày 8 tháng 4 năm 2002, Giang Trạch Dân đến Đức, bắt đầu chuyến thăm Đức kéo dài sáu ngày. Chuyến đi Đức lần này lấy dịp kỷ niệm 30 năm bang giao Đức – Trung làm cơ hội, nhấn mạnh ý nghĩa chính trị – kinh tế của quan hệ Đức – Trung. Phía Trung Quốc nhiều lần tỏ rõ: Đức không chỉ là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc ở châu Âu; đồng thời Trung Quốc cho rằng trong thế giới đa nguyên hóa, Berlin ít nhiều nên trở thành một lực lượng kiềm chế Mỹ.[31]

Trong thời gian thăm Đức, Giang Trạch Dân đã xuất khẩu cuộc bức hại Pháp Luân Công sang Đức. Đài Tiếng nói Hoa Kỳ đưa tin: trưa ngày 12 tháng 4, đoàn xe của Giang Trạch Dân đến khách sạn Kempinski, nơi nghỉ hôm ấy. Để không làm lãnh đạo Trung Quốc khó xử, mọi đoàn thể biểu tình theo lệ đều bị chặn ở nơi cách vài trăm mét. Trước khách sạn chỉ có đội ngũ sinh viên do sứ quán tổ chức đứng bên đường vẫy cờ chào đón. Khi Giang Trạch Dân xuống xe chuẩn bị vào khách sạn, đột nhiên một phụ nữ đứng hàng đầu trong đội ngũ chào đón hô lớn “Pháp Luân Đại Pháp hảo!”, hiện trường phút chốc hỗn loạn. Nhân viên an ninh Trung Quốc lập tức xông lên bóp cổ cô. Tiếp đó hai bảo an người Đức cũng xông lên, lôi người phụ nữ này khỏi hiện trường. Số cảnh sát còn lại ra sức ngăn phóng viên có mặt chụp ảnh, nhưng nhiều cơ quan truyền thông Đức vẫn đưa tin về sự kiện bất ngờ này.

Khi trả lời phỏng vấn phóng viên Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, người phụ nữ họ Trương này nói: “Tôi vừa hô xong ‘Pháp Luân Đại Pháp hảo’, tiếng còn chưa dứt, thì có một bàn tay một người đàn ông com-lê giày da, đeo kính tiến đến bóp lấy cổ họng tôi. Lúc ấy tôi không hô ra tiếng được nữa, liền dùng tay đẩy tay hắn ra. Tiếp đó tôi hô: Tu Chân Thiện Nhẫn vô tội.” Những người Đức có mặt bình luận: cách làm của cảnh sát lúc ấy vô cùng thô bạo. Một người Đức tại chỗ bày tỏ cực kỳ khó hiểu trước việc lãnh đạo Trung Quốc phòng bị nghiêm ngặt đến thế, không cho phép xuất hiện bất kỳ tiếng nói phê bình nào. Theo quy định pháp luật Đức: cá nhân đơn lẻ hô khẩu hiệu hoặc căng biểu ngữ không tính là biểu tình, không cần bất kỳ phê chuẩn nào.[32]

Cảnh sát địa phương tiết lộ: theo yêu cầu của phía Trung Quốc, phải cách ly toàn bộ đám đông biểu tình kháng nghị ra ngoài tầm mắt của lãnh đạo Trung Quốc. Để tránh Giang nhìn thấy các học viên Pháp Luân Công đeo các dấu hiệu màu vàng, trên con phố gần khách sạn Giang Trạch Dân nghỉ tại thành phố Potsdam, cảnh sát thậm chí không cho người mặc áo vàng đi qua. Nhân viên gốc Á của khách sạn Adlon thậm chí bị yêu cầu không đến làm việc trong mấy ngày Giang Trạch Dân lưu lại.

Khách sạn Adlon Berlin, theo yêu cầu của phía Trung Quốc, buộc phải yêu cầu tất cả khách gốc Á trả phòng; ai từ chối thì bị cưỡng chế lôi đi. Một nhóm đặc vụ Đức (BKA) yêu cầu bà Hồng, công dân Mỹ trọ tại khách sạn năm sao này, cùng bạn cùng phòng lập tức dọn khỏi khách sạn; bà Hồng cự tuyệt, nhân viên đặc vụ liền còng tay bà, giao cho cảnh sát và yêu cầu bắt giữ. Cảnh sát sau khi nghe bà Hồng trình bày nguyên do đã thả bà đi.[33]

Một cảnh sát rất áy náy nói với một học viên Pháp Luân Công: Các vị không biết đấy thôi, Giang Trạch Dân sợ nhìn thấy người mặc áo vàng, áo xanh lam. Ông ta ra tối hậu thư cho tổng thống chúng tôi: “Nếu ông ta còn nhìn thấy người mặc áo vàng, áo xanh lam, ông ta sẽ ngừng chuyến thăm Đức.” Tổng thống chúng tôi vì thế hạ lệnh cho chúng tôi: “Giang Trạch Dân không muốn thấy biểu ngữ vàng và người mặc áo vàng, không được để Giang Trạch Dân nhìn thấy màu vàng.”[34]

Nhằm vào hành vi quá đáng của lực lượng an ninh Đức làm nhiệm vụ, các học viên Pháp Luân Công tại Đức tháng 4 năm 2003 đệ đơn kiện lên Tòa án Hành chính bang Brandenburg, yêu cầu xác nhận hành vi của cảnh sát đã vi phạm pháp luật Đức, xâm phạm quyền cơ bản của họ, nhằm ngăn ngừa loại sự kiện này tái diễn về sau. Ngày 26 tháng 4 năm 2004, Cục Cảnh sát Hình sự Liên bang Đức chính thức thừa nhận hành vi xử lý mang tính hạn chế đối với học viên Pháp Luân Công khi Giang Trạch Dân thăm Đức tháng 4 năm 2002 là vi phạm pháp luật. Ngày 29 tháng 4, Tổng cục Cảnh sát bang Brandenburg cũng hội đàm với đại diện học viên Pháp Luân Công Đức dưới sự chủ trì của thẩm phán Tòa án Hành chính bang, và thừa nhận hành vi hạn chế mà họ áp dụng với học viên Pháp Luân Công bấy giờ là không có căn cứ pháp luật và không nên làm.[35]

Chính phủ Iceland: Nghịch ý dân, cấm Pháp Luân Công nhập cảnh trong thời gian Giang Trạch Dân đến thăm

Tháng 6 năm 2002, trước thềm chuyến thăm Iceland, Giang Trạch Dân, bấy giờ là Chủ tịch nước của Trung Cộng, gây áp lực lên chính phủ Iceland, kéo dài cuộc bức hại Pháp Luân Công ra hải ngoại. Tập đoàn họ Giang còn cung cấp cho chính phủ Iceland “danh sách đen” các học viên Pháp Luân Công. Ngày 11 tháng 6, hãng hàng không Icelandair, theo yêu cầu của chính phủ Iceland, căn cứ một bản danh sách đen do nhà đương cục Trung Cộng cung cấp, từ chối cho các học viên Pháp Luân Công lên máy bay sang Iceland kháng nghị Giang Trạch Dân. Một số học viên đã đến nơi thì bị giữ tại sân bay Reykjavik không được nhập cảnh. Các học viên Pháp Luân Công này đến từ hơn mười quốc gia và vùng lãnh thổ; tại các sân bay quốc tế của Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển và Iceland, họ chịu đối xử bất công; số học viên bị hạn chế nhập cảnh lên tới hơn 200 người, sự kiện chấn động cộng đồng quốc tế.[36]

Quan chức Iceland trước tiên nói “danh sách đen” đến từ Interpol. Các học viên Pháp Luân Công hỏi Interpol; Interpol phủ nhận đã cung cấp “danh sách đen” học viên Pháp Luân Công cho chính phủ Iceland. Chính phủ Iceland về sau cũng phủ nhận danh sách đến từ Interpol.[37]

Một quan chức Bộ Ngoại giao Iceland khi trả lời phỏng vấn nói: “Chính phủ Iceland không phản đối Pháp Luân Công”, nhưng thừa nhận chính phủ Iceland chịu áp lực từ nhà đương cục Trung Cộng. Quan chức Bộ Tư pháp Iceland thừa nhận chính phủ Iceland nhận được lượng lớn tư liệu từ phía Trung Quốc. Khi được hỏi “danh sách đen” có phải do chính phủ Trung Quốc cung cấp, vị quan chức này không phủ nhận: “Danh sách đã bị tiêu hủy, chỉ còn một bản lưu hồ sơ.” Luật sư Tòa án Tối cao Iceland Ragnar Aðalsteinsson, người cung cấp dịch vụ cố vấn cho các học viên Pháp Luân Công nói: “Lưu một bản danh sách đen, với lưu vài nghìn bản, không có gì khác nhau.”

Hành vi sai trái của chính phủ Iceland bị dân ý trong nước lên án mạnh mẽ. Dân chúng nhiều lần tự phát biểu tình kháng nghị trước Phủ Thủ tướng, dùng vải đen bịt miệng, kháng nghị chính phủ.

Ngày 13 tháng 6 năm 2002, khi Giang Trạch Dân đến Iceland, 450 nhân sĩ danh tiếng xã hội bao gồm nghị sĩ Quốc hội Iceland, luật sư, nghị viên… đã liên danh đăng thông báo xin lỗi trên tờ báo lớn nhất thủ đô Reykjavik, “Morgunblaðið”, chiếm trọn một trang, bằng tiếng Trung, tiếng Anh và tiếng Iceland; tiêu đề là ba chữ Trung Quốc nổi bật “對不起” (Xin lỗi), nội dung tiêu đề tiếng Anh là “WE APOLOGIZE!” (Chúng tôi xin lỗi [những người tập Pháp Luân Công]!).

“Chúng tôi xin lỗi!

Chúng tôi, những công dân Iceland bình thường ký tên dưới đây, xin lỗi các học viên Pháp Luân Công và các du khách gốc Á nước ngoài khác, về những hành động không thể lý giải mà chính phủ Iceland áp dụng vì chuyến thăm của Chủ tịch nước Trung Cộng.

Chúng tôi bảo đảm với các bạn: những hành động này không đại diện cho ý nguyện của nhân dân Iceland.

Ngoài ra, chúng tôi lên án mạnh mẽ hành vi chà đạp nhân quyền nghiêm trọng của những kẻ độc tài Bắc Kinh tại Trung Quốc Đại lục và trên lãnh thổ Trung Quốc.”

Ngày 14 tháng 6, Reykjavik, nơi dân số có hạn, cử hành cuộc biểu tình quy mô lớn gần 3 nghìn người (dự định ban đầu 1 nghìn người), là cuộc diễu hành kháng nghị quy mô lớn nhất trong lịch sử Iceland bấy giờ, kháng nghị về cuộc bức hại nhân quyền đối với học viên Pháp Luân Công, trong khi Giang Trạch Dân vẫn đang thăm Iceland. Đoàn biểu tình tay giơ biểu ngữ Pháp Luân Công, dùng dải vải đen bịt miệng, để tỏ bất mãn với việc chính phủ Iceland trái ý dân, đối xử sai với Pháp Luân Công.

Trong mấy ngày liên tiếp sau đó, truyền thông Iceland, đài phát thanh, truyền hình, báo chí đều giới thiệu Pháp Luân Công, kể về thảm kịch trấn áp đang xảy ra tại Trung Quốc. Iceland gần như không ai không biết Pháp Luân Công, đương nhiên cũng gần như không ai không biết cuộc trấn áp tàn bạo của Giang Trạch Dân đối với Pháp Luân Công. Dân chúng xông đến ngôi trường giam giữ các học viên Pháp Luân Công nhập cảnh, từ tay cảnh sát thả các học viên ra.

Do lệnh cấm của chính phủ Iceland, ngược lại khiến Giang Trạch Dân trong thời gian lưu lại Iceland chẳng những không tránh nổi sự kháng nghị hòa bình của học viên Pháp Luân Công, còn phải luôn luôn đối mặt các cuộc biểu tình của dân chúng Iceland. Thậm chí có dân chúng Iceland, khi nguyên thủ nước mình hội đàm với Giang, đã lợi dụng sự thông thuộc địa hình mà vòng vèo lọt vào trong vòng cảnh giới, cảnh sát không hề xua đuổi. Giang Trạch Dân ở Iceland thành con chuột chạy qua đường; còn các học viên Pháp Luân Công thì được dân chúng Iceland ủng hộ và hậu đãi, quần chúng Iceland cũng tìm tới học Pháp Luân Công từ các học viên.

Giang Trạch Dân tại Iceland lần đầu nếm mùi vị kẻ độc tài bị nhân dân thế giới đứng lên phản đối. Do các cuộc biểu tình kháng nghị quy mô lớn của dân chúng Iceland, Giang e sợ rời Iceland sớm một ngày.

Về sau, Ngoại trưởng Iceland Össur Skarphéðinsson, khi trả lời chất vấn tại Quốc hội về việc chính phủ Iceland đối xử không thỏa đáng với các học viên Pháp Luân Công trong thời gian Giang Trạch Dân đến thăm, đã thay mặt chính phủ nước này xin lỗi các học viên Pháp Luân Công. Ông bảo đảm sẽ không giẫm lại vết xe đổ; quyền tự do ngôn luận của mỗi người đều không thể bị phủ quyết.[38]

Eutelsat lấy lòng Trung Cộng, ngừng phát chương trình New Tang Dynasty Television

Eutelsat là công ty vệ tinh lớn thứ hai châu Âu. Trong điều lệ công ty tuyên bố: bất kỳ khách hàng nào cũng được hưởng đãi ngộ bình đẳng về quyền lợi, không kỳ thị; và công ty này ủng hộ đa nguyên hóa truyền thông.

Tuy nhiên, vài tuần trước khi Olympic 2008 khai mạc, lúc dân chúng Trung Quốc cần nghe những thông tin chưa bị Trung Cộng kiểm duyệt nhất, Tổng giám đốc công ty Eutelsat Giuliano Berretta cố ý chọn đóng tín hiệu Đài Truyền hình Tân Đường Nhân (New Tang Dynasty Television – NTDTV), trở thành đồng lõa với tập đoàn độc tài Trung Cộng vốn luôn đàn áp tự do báo chí. Việc Eutelsat đóng tín hiệu phát sang Đại lục của NTDTV là quyết định do tổng giám đốc Eutelsat đưa ra; vị tổng giám đốc này không hề thông qua hội đồng quản trị, đại bộ phận cổ đông không hay biết. Sự việc này không phải lần đầu, và nó có nội tình rất sâu xa, bắt đầu từ năm 2004.

NTDTV là một đài truyền hình đa ngôn ngữ, được thành lập bởi các học viên Pháp Luân Công, có trụ sở tại Thành phố New York. Đài được thành lập vào năm 2001 với mục đích chính là phát các thông tin không bị kiểm duyệt vào Trung Quốc.

Trong khi đó, là công ty vệ tinh lớn, Eutelsat luôn nỗ lực để chen chân vào thị trường Trung Quốc. Cũng như nhiều đồng nghiệp trong ngành công nghiệp vệ tinh, công ty Eutelsat từng nghĩ đủ cách để phát các chương trình truyền hình chủ lưu và cung cấp dịch vụ thông tin sang Trung Quốc. Tin tức từ giới phê bình cùng các nhân sĩ quản trị hành chính tiền nhiệm và đương nhiệm của công ty này đều cho thấy: công ty này vào khoảng năm 2004 đã nghĩ ra một chủ ý, khiến công ty có đột phá về thị trường Trung Quốc.

Kế hoạch như sau: Công ty Eutelsat thông qua một bên trung gian ký với Đài Truyền hình NTDTV hợp đồng 1 năm phát các chương trình của NTDTV. Hợp đồng này khiến chính quyền Trung Cộng nổi trận lôi đình. Eutelsat ngay từ đầu đã coi đài NTDTV là con bài sẵn sàng hy sinh bất cứ lúc nào. Ngay khi Eutelsat vừa bắt đầu tiếp phát NTDTV được đúng một tuần, một công ty vệ tinh ở Bắc Kinh gửi cho Eutelsat một cảnh cáo cứng rắn, yêu cầu lập tức chấm dứt tiếp phát NTDTV. Eutelsat liền tỏ ý sẵn lòng đoạn tuyệt quan hệ với NTDTV. Công ty này nhờ mối liên hệ đó mà cứ thế mở ra cánh cửa hợp tác có lợi với Trung Cộng.[39]

Vậy là tiếp sau đó, ngày 16 tháng 6 năm 2005, Đài Truyền hình NTDTV phát hiện tín hiệu truyền hình phát sang Trung Quốc Đại lục đột nhiên gián đoạn, bèn qua nhà trung gian hỏi Eutelsat nguyên nhân. Eutelsat nói họ đã đăng một thông báo trên trang mạng của mình: nguồn điện vệ tinh gặp “sự cố”, do đó cần đóng một số bộ phát đáp (transponder), bao gồm bộ phát đáp nơi NTDTV sử dụng.

Eutelsat lần này đóng tổng cộng 4 bộ phát đáp, đều là bộ phát đáp phát chương trình sang Đại lục. Eutelsat đều sắp xếp cho các khách hàng khác bị đóng, riêng với NTDTV chẳng những không sắp xếp gì, còn không có bất kỳ giải thích chính thức và lý do thực sự nào, trước sau đều né tránh. Đồng thời Eutelsat đã có kế hoạch không tiếp tục hợp đồng phát NTDTV sang Trung Quốc.

Công ty Eutelsat nói việc công ty tìm khách hàng khác mà chấm dứt phát NTDTV hoàn toàn xuất phát từ cân nhắc kinh tế. Họ tuyên bố: “Công ty chúng tôi không chịu áp lực về chính trị hay hệ tư tưởng. Chúng tôi hoàn toàn vận hành theo nguyên tắc thương mại.” Công ty Eutelsat còn nói “dù trong tình trạng lợi nhuận mỏng và thua lỗ kinh tế, thậm chí buộc phải từ chối khách hàng khác”, vẫn thực hiện chức trách hợp đồng quy định.

Nhưng quyết định này gây phản ứng quốc tế rất lớn. Tờ Wall Street Journal đăng bài chỉ ra: “Bầu không khí căng thẳng trong đó làm nổi bật đúng tính hai mặt mà các công ty phương Tây đối mặt khi nỗ lực tiến vào thị trường lớn Trung Quốc: cơ hội và hiểm họa chính trị tiềm tàng.” Hơn chín mươi nghị sĩ Quốc hội Mỹ viết thư cho Tổng thống Bush bày tỏ rằng “tiền của người nộp thuế Mỹ bị đầu tư cho một công ty vệ tinh thiên vị chính quyền áp bức mà chống lại truyền thông tự do”. 49 nghị sĩ Nghị viện châu Âu và các chính trị gia châu Âu đã viết thư cho lãnh đạo Eutelsat yêu cầu duy trì việc phát sóng, viện dẫn các nguyên tắc về đa nguyên và tự do thông tin.

Vì chịu sức ép quốc tế, sau nhiều tháng thương lượng, đến tháng 9 năm 2005, NTDTV cuối cùng đạt được một thỏa thuận dài hạn cho phép tiếp tục phát qua Eutelsat trong 6 năm.

3 năm sau, vài tuần trước khi Olympic 2008 khai mạc, tín hiệu NTDTV qua vệ tinh W5 của Eutelsat lại bị ngừng vào ngày 16 tháng 6 năm 2008. Eutelsat nói nguyên nhân là sự cố nguồn điện trên W5.

Tuy nhiên Tổ chức Phóng viên Không Biên giới đã đưa ra một báo cáo vào ngày 10 tháng 7 năm 2008, chỉ rõ: Việc công ty Eutelsat đóng tín hiệu Đại lục của NTDTV không phải vấn đề kỹ thuật như tuyên bố, mà là hành động có mưu tính từ trước. Tổng giám đốc Eutelsat Giuliano Berretta, để lấy lòng Trung Cộng và đổi lấy lợi ích thương mại, không tiếc đồng lõa, cố ý chọn đóng phát sóng NTDTV vài tuần trước khi Olympic khai mạc.

Tổ chức Phóng viên Không Biên giới cũng tiết lộ một đoạn ghi âm cuộc nói chuyện ngày 23 tháng 6 năm 2008 với một đại diện Eutelsat ở Bắc Kinh. Ông ta đã nói:

“Đây là quyết định của tổng giám đốc điều hành chúng tôi… Chúng tôi có thể đóng bất kỳ bộ phát đáp nào; nguyên nhân chính là chúng tôi không ngừng nhận được phàn nàn và nhắc nhở của chính phủ Trung Quốc… Hai năm trước, Bộ Quảng điện (Tổng cục Phát thanh Truyền hình) cứ lặp đi lặp lại cùng một câu… ‘Đóng [NTDTV] trước đã, rồi chúng ta hẵng đàm.’”[40]

Sau vụ việc, Eutelsat đã thông báo chấm dứt hợp đồng liên quan tới NTDTV vào ngày 31/10/2008.

Có thể thấy rằng, cái lợi Eutelsat mong nhận được từ phía Trung Cộng trong việc này: một là quyền phát sóng tại Trung Quốc Đại lục; hai là tham gia làm ăn giúp Trung Cộng tại châu Âu.

Một bằng chứng điển hình nhất là đúng ngày tín hiệu NTDTV bị cắt lần đầu (16 tháng 6 năm 2005), Alcatel-Lucent có quan hệ mật thiết với Eutelsat, tuyên bố ký với China Mobile hợp đồng 1 tỷ đô la Mỹ.

Tương tự, sau sự kiện ngày 16 tháng 6 năm 2008, theo báo cáo của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ngày 23 tháng 6 năm 2008, trong một cuộc điện thoại được ghi âm, một đại diện của Eutelsat tại Bắc Kinh cho biết công ty đã được hội đồng quản trị chấp thuận kế hoạch sử dụng tên lửa Trường Chinh III (Long March III) của Trung Quốc để phóng vệ tinh. Theo lời người này, để vệ tinh có thể được phóng bằng tên lửa Trung Quốc mà không vướng các hạn chế xuất khẩu của Mỹ đối với công nghệ và linh kiện vệ tinh, Eutelsat đã chi thêm khoảng 20 triệu euro để đặt chế tạo một vệ tinh không sử dụng linh kiện Mỹ mà chỉ dùng linh kiện châu Âu. Người đại diện Eutelsat còn nói việc mua dịch vụ phóng của Trung Quốc được xem như một “cử chỉ thiện chí” với chính quyền Bắc Kinh và là một cách giúp ngành hàng không vũ trụ Trung Quốc tiếp cận thị trường quốc tế. Đến tháng 3/2009, Eutelsat công khai xác nhận lựa chọn tên lửa Long March để dự kiến phóng vệ tinh W3B. Cuối cùng, vào ngày 7/10/2011, vệ tinh W3C của Eutelsat được phóng thành công bằng Long March 3B từ Trung tâm phóng vệ tinh Tây Xương, Trung Quốc.

Người chịu thiệt thực sự trong việc Eutelsat lợi dụng NTDTV là khán giả tại Trung Quốc. Một khán giả Tứ Xuyên của NTDTV nói:

“Công ty phương Tây là cơ cấu thương mại, hám lợi là gốc. Nhưng trong xã hội hiện đại, thương mại từ lâu không còn tự do vô hạn nữa; thương mại không được vi phạm một số chuẩn tắc nhân quyền cơ bản. Nếu không, có thể thi triển lực lượng chính trị để hạn chế. Eutelsat là công ty thương mại, nguyên tắc kinh doanh của họ chúng tôi không can dự nổi; nhưng chỗ họ vi phạm chuẩn tắc nhân quyền, chúng tôi phải can thiệp!”

Một khán giả NTDTV ở Đại lục công khai thư gửi tới công ty Eutelsat, trong đó viết:

“Ai giao dịch với Trung Cộng, sẽ bị Trung Cộng đòi lấy linh hồn chính nghĩa làm điều kiện trao đổi; bởi Trung Cộng chính là muốn dùng lợi ích trước mắt xóa đi lương tri chính nghĩa, làm vấy bẩn linh hồn. Chỉ có tránh xa Trung Cộng, cá nhân mới được bình an, công ty mới làm ăn hưng thịnh.”

Một khán giả Quảng Châu gửi thư cho NTDTV:

“Tôi ăn dè tiêu sẻn, lén lén lút lút mua ăng-ten chính là để xem Đài Truyền hình Tân Đường Nhân, các người sao nói đóng là đóng vậy?! Là quốc gia tự do sao có thể làm thế?! Các người đã giành được tự do, còn chúng tôi vẫn đang phấn đấu vì tự do; hãy nghĩ đến những hy sinh mà các bậc tiền bối đã làm vì tự do, chúng ta không được làm vấy bẩn họ.”

4. Truyền thông phương Tây dưới áp lực của kẻ khổng lồ

“Nhóm tù nhân lương tâm lớn nhất thế giới là nhóm nào, nhóm dân chúng lớn nhất bị giam cầm vì tín ngưỡng và quan điểm của họ là nhóm nào?” Có lẽ chẳng mấy phóng viên truyền thông phương Tây biết câu trả lời đúng cho câu hỏi này.

Các tổ chức nhân quyền khác nhau đã làm một số nghiên cứu. Ethan Gutmann và Leeshai Lemish, qua điều tra và chỉnh lý, đưa ra kết luận của họ: các học viên Pháp Luân Công bị giam cầm ở Trung Quốc là nhóm bị giam giữ và kết án vì tín ngưỡng và lương tri lớn nhất thế giới ngày nay. Họ cho rằng ít nhất hai trăm nghìn học viên Pháp Luân Công bị giam trong các nhà tù Trung Quốc, con số này có thể còn xa mới bao quát được số người Pháp Luân Công bị giam cầm thực sự. Người Tây Tạng có lẽ khoảng năm nghìn bị giam giữ; số tín đồ Cơ Đốc bị giam có tăng, nhưng đều kém xa số người Pháp Luân Công bị giam.[41]

Một độc giả bình thường của các tờ báo chủ lưu như New York Times hay Washington Post sẽ có tình trạng như thế này: hoặc chưa từng nghe nói đến Pháp Luân Công; hoặc cho rằng trấn áp là chuyện của hơn mười năm trước; hoặc thấy Pháp Luân Công đã bị trấn áp xong từ lâu; hoặc cho rằng Pháp Luân Công cách hiện thực đời mình quá xa, không cần chú ý. Tất cả những hiện tượng này đều liên quan trực tiếp đến phương thức “đưa tin – dẫn dắt” của truyền thông phương Tây.

Đưa tin cân bằng?

Truyền thông rốt cuộc đóng vai trò gì trong việc hình thành nhận thức của người ta về Pháp Luân Công?

Một mặt, sự thực Pháp Luân Công bị bức hại được đưa tin quá ít; mặt khác, các nhân sĩ truyền thông mà Lemish phỏng vấn cho rằng: “Họ là khách quan, cho phép hai bên trong xung đột mâu thuẫn này đều có cơ hội bình đẳng để tự trình bày sự thực và quan điểm; việc đưa tin về Pháp Luân Công là chính xác và cân bằng.”[41]

Xét đến việc phương Tây đưa tin thế nào về một đoàn thể tín ngưỡng, xét đến việc trấn áp Pháp Luân Công dính líu số phận bao nhiêu người, Lemish coi việc đưa tin về Pháp Luân Công là một trường hợp đặc biệt để nghiên cứu sâu. Anh đã làm phép đối chiếu: “Tân Hoa Xã – hãng thông tấn chính thức của quốc gia, năm 2003 nói: ‘Cả nước đã hình thành một cục diện: tổ chức tà giáo ‘Pháp Luân Công’ như chuột chạy qua đường… Chúng ta phải tiêu diệt tà giáo này; thứ tà ác phải bị nhổ tận gốc.’”

Những người Pháp Luân Công bị bức hại mà anh phỏng vấn kể lại cảnh ngộ của họ thế này:

“Gutmann và tôi phỏng vấn những người tị nạn vừa rời Trung Quốc; họ kể về một bầu không khí bi thảm. Lý Hòa Bình tại London nói với chúng tôi: khi ông cự tuyệt bị ‘chuyển hóa’, ông bị cưỡng chế tiêm loại thuốc không rõ, khiến ông tám ngày trong ảo giác. Trong thời gian ấy, ông hết lần này đến lần khác cảm giác như chết đi sống lại, sống lại rồi chết đi: ảo giác như bị bầy rắn nuốt trong ao rắn độc, bị dã thú khổng lồ đè chết, bị thiêu sống… Tại Bangkok, Lan Lệ Hoa nói với chúng tôi: bà bị nhét vào bao tải, trong đêm bị lén lôi đến phòng tra tấn trong hang núi hoang bằng dùi cui điện, không chừa một bộ phận nào trên thân thể mà không bị dùi cui điện chích. Gần như mỗi người bị nạn còn sống sót đều kể với chúng tôi nhà đương cục Trung Cộng đã chia lìa gia đình họ ra sao: bị ép ly hôn, không được gặp cha mẹ đã khuất, chia cách với con cái.”

“Trong thời gian giam giữ, nếu học viên Pháp Luân Công tuyệt thực kháng nghị, họ liền bị cưỡng chế bơm dung dịch muối, nước tiểu, có khi qua ống cao su cắm vào đường mũi, rồi hùng hục bơm cháo ngô xuống. Kẻ cưỡng chế thi hành thường là tù hình sự và cai ngục trong trại lao cải; nếu chất bơm vào lọt vào phổi, thì sẽ gây tử vong.”

Một bên là chính quyền Trung Cộng hùng mạnh vận dụng toàn bộ vũ lực nhà nước triển khai cuộc bức hại dã man nhất; một bên là dân chúng bơ vơ tay không tấc sắt, ngoài tín ngưỡng chẳng có gì, tình cảnh tàn khốc như thế, truyền thông làm sao “đưa tin cân bằng”? Làm sao để hai bên có cơ hội bình đẳng trình bày sự thực của mỗi bên? Sự thực là: trong khi tình hình bức hại ngày càng nghiêm trọng, tin bài của truyền thông phương Tây ngày càng ít đi, thậm chí không còn nữa. Như trước thềm Olympic Bắc Kinh 2008, Ủy ban Chính pháp Trung ương Trung Cộng công khai và bí mật ban bố mệnh lệnh phải quét sạch Pháp Luân Công, truyền thông gần như không thấy đưa tin. Những năm sau đó, Trung Cộng ban lệnh không được để bất kỳ hoạt động nào của học viên Pháp Luân Công ra khỏi thôn, khỏi trấn, trách nhiệm này đã giao xuống tận quan chức cơ sở thấp nhất. Trên Internet tiện tay tra một cái là có được lượng lớn thông tin. Vậy mà truyền thông phương Tây rất ít đưa tin.

Cố ý làm nhạt vấn đề nhân quyền Trung Quốc

Ngày 28 tháng 9 năm 1999, khi Pháp Luân Công ở Trung Quốc đang bị trấn áp, Sumner Redstone của Viacom tham dự tại Thượng Hải hội nghị do Time Warner chủ trì, hội nghị do Chủ tịch nước của Trung Cộng Giang Trạch Dân phát biểu chủ đề.

Ông Danny Schechter ghi lại thế này: “Để lấy lòng chính quyền Bắc Kinh, Redstone kêu gọi nước Mỹ tự kiềm chế khi đưa tin về Trung Quốc. Ông ta nói: truyền thông nên đưa tin sự thật, nhưng phải tránh ‘thế công không cần thiết’ đối với chính phủ nước ngoài. Các công ty truyền thông phải ý thức được chính trị và thái độ của chính phủ quốc gia nơi chúng ta kinh doanh… Sự hoàn chỉnh của tin tức không có nghĩa là hoàn thành theo một phương thức tấn công không cần thiết tại quốc gia nơi chúng ta làm ăn.” Mà đúng lúc hội nghị này diễn ra, Trung Cộng ngang nhiên kiểm duyệt tạp chí “Time”. Đây chỉ là màn Redstone đơn phương lấy lòng làm dịu Trung Cộng mà thôi.[42]

Nhân quyền không chiếm vị trí quan trọng trong quy hoạch phát triển của các doanh nghiệp truyền thông. Người ta không thể không khâm phục sự tinh tường của ông Danny Schechter: “Bất hạnh thay, khi truyền thông tin tức phương Tây đặt cơ hội làm ăn của họ lên trên trách nhiệm nghề nghiệp báo chí, tình hình trở nên phức tạp hơn.” Về việc đưa tin Pháp Luân Công: “đã thành bi kịch của truyền thông: Trung Quốc không được nghe lời khiếu nại của công dân nước mình, còn truyền thông thế giới thì không nghe, hoặc không đưa ra cam kết nghiêm túc để tường thuật tiếng kêu liên tục phát ra của lực lượng tinh thần này. Đọc kỹ những bài viết về Pháp Luân Công, rất dễ thấy: truyền thông Mỹ và truyền thông Trung Quốc chẳng khác gì nhau.”

Con trăn khổng lồ cuộn nằm trên tim người

Thuật ngữ “con trăn khổng lồ” ở đây mượn khái niệm trong bài “Trung Quốc, con trăn khổng lồ trong chùm đèn treo” của ông Perry Link, bởi cách nói này mô tả vô cùng sống động hình tượng chính xác của Trung Cộng trong lòng người và trạng thái khiếp sợ nó gây ra, và còn bởi điều này nay đã thành nỗi khiếp sợ trong lòng người nước ngoài. Ông Perry Link mô tả thế này:

“Những năm gần đây, cơ cấu kiểm duyệt của chính quyền Trung Quốc không giống con hổ ăn thịt người hay con rồng phun lửa, mà giống hơn một con trăn khổng lồ nằm phục trong chùm đèn treo lớn giữa gian phòng. Thông thường, con trăn này lặng im bất động. Nó không cần động. Nó thấy không cần thiết phải nói rõ những điều cấm của mình. Ý nó lặng lẽ truyền đi là: ‘Anh tự quyết định lấy.’ Trong tình cảnh ấy, nói chung, mỗi người sống dưới bóng con trăn khổng lồ đều ít nhiều, khá ‘tự nhiên’, điều chỉnh hành vi của chính mình. Liên Xô cũ đẩy mạnh ý tưởng ‘công trình linh hồn’ của Stalin, nhưng trong thực tiễn, cách làm của Liên Xô cũ còn kém xa thành tựu của Đảng Cộng sản Trung Quốc về công trình tâm lý. Trong nhiều năm, sự uy hiếp này chỉ nhắm vào công dân Trung Quốc. Nhưng nay đã lan ra hải ngoại.”

“Các nhà Hán học nước ngoài cũng chịu ảnh hưởng. Ví dụ, năm 1999, sau khi sự kiện Pháp Luân Công xảy ra, một cơ quan tin tức quan trọng của Mỹ mời một học giả nổi tiếng trong lĩnh vực này làm một cuộc phỏng vấn truyền hình. Vị học giả này là người Mỹ da trắng. Ông ta từ chối lời mời. Ông ta không muốn công khai thảo luận một đề tài chính trị nhạy cảm, sợ mất cơ hội vào Trung Quốc điều tra thực địa. Ông ta biết những người nước ngoài không được quan phương Trung Quốc ưa thích có thể chịu hình phạt bị từ chối cấp thị thực. Cho dù được phép vào Trung Quốc, cũng sẽ bị cự tuyệt khi tiến hành phỏng vấn và tra cứu tư liệu. Ông ta không hề chịu sự đe dọa cụ thể nào, nhưng hoàn toàn tự nguyện chọn khuất phục trước những nguyên tắc phổ biến mà mơ hồ vốn ảnh hưởng người Hoa hải ngoại.”[43]

Trung Cộng bất chấp bản thân hội đủ mọi đặc trưng tà giáo, ngược lại đem hàng loạt danh xưng tà giáo chụp lên đầu Pháp Luân Công. Truyền thông phương Tây khi đưa tin cũng phần nhiều tự giác hay không tự giác dùng thuật ngữ “tà giáo” mà Trung Cộng bôi nhọ Pháp Luân Công, bởi họ không hiểu Pháp Luân Công, mà lại khiếp sợ Trung Cộng.

Thống kê của ông Lemish cho thấy: trong cách truyền thông phương Tây xử lý việc Pháp Luân Công và Trung Cộng hồi đáp phê bình của đối phương, cơ hội biện luận tương ứng Pháp Luân Công nhận được là 17,9%; Trung Cộng nhận được là 50,2%, cao hơn hai lần. Về nội dung, truyền thông phương Tây nhắc lại luận điệu chính mà Trung Cộng bôi đen Pháp Luân Công – đó là những người cự tuyệt thuốc men hoặc tự sát; còn điều Trung Cộng bị cáo buộc là tra tấn đến chết những người này. Có thể thấy: truyền thông phương Tây cấp cho Trung Cộng khả năng biện hộ cho cuộc trấn áp tàn khốc này.

Một điểm khác đáng chú ý: cách nói của Trung Cộng rằng Pháp Luân Công cấu thành nguy hiểm đối với Trung Quốc không được bất kỳ nguồn thông tin nào chứng thực. Ngược lại, việc Trung Cộng tra tấn và giết hại Pháp Luân Công đã được nhiều tổ chức nhân quyền, cùng báo cáo hàng năm của Bộ Ngoại giao Mỹ và Liên Hợp Quốc chứng thực. Thế nhưng, các phóng viên gần như luôn trích dẫn trực tiếp những cách nói chưa được chứng thực của Trung Cộng; còn khi dẫn tình hình học viên Pháp Luân Công bị tra tấn, lại thường thêm những từ mơ hồ như “được nghe nói”, khiến sự thực trở nên mơ hồ.

Cũng như giới chính trị, người ta thường thấy tình cảnh thế này: Trung Cộng sợ mình sụp đổ, nhưng một số chính khách phương Tây lại nói: Trung Cộng nếu sụp đổ sẽ có thể gây nguy hiểm cho kinh tế thế giới, do đó không ít nước phương Tây kỳ thực lại giúp Trung Cộng chống đỡ chính quyền hoặc làm ngơ trước những vấn đề do Trung Cộng gây ra.

Trong vấn đề quan hệ Đại lục – Đài Loan, Trung Cộng đặc biệt nhấn mạnh “một Trung Quốc”, tức Trung Quốc của Trung Cộng. Trung Cộng khiếp sợ tiến trình dân chủ hóa của Đài Loan tạo tác dụng làm gương cho dân chúng Đại lục, nên thường dùng “Đài Loan độc lập” để định nghĩa những người có nhận thức khác Trung Cộng, nhân tạo tạo ra một tâm lý thù địch mà hai bờ vốn không nên có. Giới chính trị, giới học thuật phương Tây đều chủ động dùng cách nói của Trung Cộng để quy phạm chính mình. Ông Perry Link nói:

“Bao năm qua, tôi ở chính mình cũng phát hiện hiện tượng như thế. Với một nhà Hán học, nếu muốn trực tiếp đối lập với những ‘nguyên tắc cơ bản’ mà chính quyền Trung Quốc tuyên bố, chẳng hiểu sao luôn nảy sinh một chướng ngại tâm lý rất cứng. Nguyên tắc ‘một Trung Quốc’ của Bắc Kinh chính là ví dụ rất hay. Trong các nhà Hán học nghiên cứu vấn đề đương đại, bản thân từ ‘Đài Loan độc lập’ đã gợi lên rất nhiều hàm nghĩa tiêu cực. Cũng vậy, thảo luận nhân quyền cũng phải nâng như nâng trứng, không được chạm vào nguyên tắc ‘không can thiệp nội chính nước khác’ của chính quyền Trung Quốc. Cũng như người Hoa hải ngoại, những nhà Hán học nghiên cứu vấn đề Trung Quốc lâu nay ghi nhớ chặt những điều cấm kỵ này, cuối cùng tự nhiên chấp nhận chúng. Vi phạm những giới cấm này không chỉ khiến người ta có vẻ ‘không đúng đắn’ về chính trị. Nhưng những giới cấm ấy ban đầu vốn không phải văn hóa, mà là chính trị, hơn nữa về chính trị mang tính ‘đảng’ rất mạnh.”[43]

Cộng đồng quốc tế thiếu nhận thức sâu sắc về văn hóa và lịch sử Trung Quốc là điều có thể lý giải. Việc Trung Cộng phong tỏa thông tin nhất là tình hình và thông tin về trấn áp khiến cộng đồng quốc tế không hiểu toàn diện những gì đang xảy ra; điều này cũng tồn tại thực sự. Như phóng viên BBC Rupert Wingfield-Hayes vì theo dõi sự kiện Pháp Luân Công mà bị bám đuôi, giam giữ, thậm chí bị tấn công thân thể.

Một phóng viên có lương tâm có thể sẽ càng băn khoăn về việc gặp gỡ học viên Pháp Luân Công tại Trung Quốc, vì sinh mạng người được phỏng vấn sẽ vì thế mà chịu đe dọa cực lớn; những ví dụ như thế quá nhiều. Nạn nhân gặp phóng viên nước ngoài, vì thế bị giam giữ, tra tấn và giết hại.

Truyền thông không cách nào vào trại lao động cải tạo, trại tập trung để điều tra tình hình bức hại. Cơ hội duy nhất là những buổi tham quan nhà tù do Trung Cộng có thể sắp xếp lúc ấy, những gì nhân viên truyền thông nhìn thấy đều là những nụ cười và tư thế giả tạo. Đó là những gì bị cưỡng ép làm ra sau khi bị tra tấn giày vò tùy ý.

Con trăn khổng lồ cuộn nằm trên tâm lý người ta cũng có lúc ra khỏi ổ.

“Ví như, tháng 11 năm 2007, lời phàn nàn của nhà ngoại giao Trung Cộng với Canadian Broadcasting Corporation (CBC) khiến công ty này hủy bộ phim tài liệu về cuộc bức hại Pháp Luân Công đã sắp lịch phát sóng. Các cơ quan truyền thông khác đều thuận theo sự dẫn dắt của Trung Cộng, dùng phương thức tinh vi hơn, giả vờ như cuộc bức hại tôn giáo, giam giữ và tra tấn này có ‘câu chuyện từ cả hai phía’ vậy.”[44]

Ông Peter Manseau kể trải nghiệm của mình:

“Từ 2009 đến 2010, khi tôi viết bài chuyên đề về Pháp Luân Công cho Washington Post, tôi quen biết [các học viên Pháp Luân Công] Caylan, Jared và Bàng Cấn. Rất nhanh Đại sứ quán Trung Quốc biết được tình hình này. Bài viết ấy liền bị xóa sổ.”[44]

Washington Post thường xuyên đăng quảng cáo nhiều kỳ, khổ lớn của Trung Cộng, mỗi lần vài trang. Các quảng cáo này được đóng gói thành trang tựa hệt như bài báo của Washington Post, lấy giả loạn thật. Trang mạng của Washington Post còn có đường dẫn trực tiếp đến truyền thông Trung Cộng. Làm ăn bình thường vốn không có gì đáng trách, nhưng Trung Cộng lợi dụng vị trí địa lý của tờ báo nằm ngay trung tâm chính trị nước Mỹ, dùng quảng cáo tạo nên hình tượng chính trị nó mong muốn, dùng tiền bạc mua tính chính danh chính trị của nó. Cách làm của Washington Post liệu có khiến các ông chủ tờ báo, trước cơ hội thương mại – tiền bạc, đánh mất đạo đức nghề nghiệp vốn có của truyền thông không? Câu trả lời từ các ví dụ trên đã rất rõ ràng.

Chủ động phối hợp, tự kiểm duyệt sàng lọc

Giới chuyên môn truyền thông đều biết rõ: Pháp Luân Công là một trong những đề tài kiêng kỵ và nhạy cảm nhất của Trung Quốc ngày nay. Các phóng viên nói với ông Lemish: họ có chính sách không chạm đến các tin tức Pháp Luân Công. Phóng viên và biên tập viên cũng có thể tự chọn tránh xa sự thực bức hại Pháp Luân Công, xuất phát từ nhiều toan tính cá nhân: như mất cơ hội đưa tin hoạt động của chính phủ, bị quấy nhiễu, hoặc bị thu hồi thị thực. Ở tầng doanh nghiệp, các tập đoàn truyền thông đang tìm cách vào thị trường Trung Quốc, mong thấy trang mạng của họ thông suốt tại Đại lục và phát triển các dự án hợp tác. Họ biết: một câu chuyện về Pháp Luân Công có thể khiến tạp chí của họ biến mất khỏi sạp báo Trung Quốc như tình huống xảy ra với tạp chí “Time”; hoặc họ có thể bị ngừng phát sóng như tình huống xảy ra với BBC.

Vì thế, một số cơ quan truyền thông hoặc phóng viên chủ động dùng nguyên tắc của Trung Cộng để sàng lọc tin bài, từ bỏ đạo đức nghề báo, trở thành kẻ phối hợp của Trung Cộng.

5. Sự sa ngã của đạo đức thương mại

Ngân hàng đầu tư quốc tế giúp niêm yết

Từ năm 1997, các ngân hàng đầu tư chủ yếu của phương Tây, trái với nguyên tắc vận hành thông dụng, đã giúp các doanh nghiệp quốc doanh mang tính lũng đoạn của Trung Cộng đóng gói và vận hành để niêm yết ở hải ngoại, có thể nói là vắt cạn tâm cơ.

Trước đó, theo tiêu chuẩn quốc tế, chẳng mấy ngân hàng thèm để mắt đến những công ty Trung Quốc bên bờ phá sản lại nhỏ đến đáng thương. Năm 1992, khi Công ty TNHH Cổ phần Khống chế Ô tô Hoa Thần Trung Quốc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, huy động được tám mươi triệu đô la Mỹ, bấy giờ đã thấy là thành tích phi thường rồi. Hoa Thần tuy không nổi bật, nhưng công ty miễn cưỡng đủ điều kiện niêm yết hải ngoại như Hoa Thần bấy giờ ở Trung Quốc cũng chẳng tìm ra được mấy nhà.

Thế nhưng, một số ngân hàng đầu tư quốc tế danh tiếng của phương Tây nhìn trúng: thị trường chưa phát triển đầy đủ như Trung Quốc là tốt nhất cho họ. Họ nhắm vào cơn khát vốn quốc tế của chính quyền Trung Cộng; đồng thời, năng lực Trung Cộng một tay che trời, tùy tâm sở dục, không chút kiêng dè mà tùy ý tổ hợp cắt ghép doanh nghiệp quốc doanh, đã bày ra trước mắt họ từng bức tranh cơ hội tiền bạc cuồn cuộn. Thế là, các ông chủ ngân hàng này vận dụng cả bộ tri thức và kỹ xảo về pháp luật và tài chính họ nắm giữ, cùng quan chức chính quyền các cấp của Trung Cộng, nhân danh cải cách doanh nghiệp quốc doanh Trung Quốc, đem những doanh nghiệp gần như không đáng một xu ấy sáp nhập lắp ráp lại, trên cơ sở đó lại tiến hành một phen đóng gói tinh xảo về tài chính, chỉ sau một đêm, những doanh nghiệp quốc doanh Trung Quốc này lại biến thành con thiên nga xinh đẹp lộng lẫy đầy sức cạnh tranh, tiền cảnh phát triển vô hạn, đủ khiến người ta thèm nhỏ dãi. Cách làm cụ thể của họ nói ra có thể đơn giản đến khó tin: đem những công ty nhỏ rải rác của các tỉnh thành địa phương gộp lại là thành một công ty lớn trông có vẻ tầm cỡ quốc tế; còn như có thành tích quá khứ để soi không, có quy hoạch phát triển tương lai không, giá trị thực tế công ty bao nhiêu, ở các nước phương Tây có thể là cửa ải căn bản không vượt nổi, ở chỗ Trung Cộng thì chẳng thành vấn đề; phần còn lại chỉ là bản lĩnh đóng gói của các ông chủ ngân hàng. Cứ thế, từng công ty Trung Quốc mới toanh mang “trình độ quốc tế” được bưng ra thị trường hải ngoại.

Tháng 10 năm 1997, dù châu Á đang trong cơn bão tài chính hoành hành, China Mobile (HK) Co. Ltd. niêm yết đồng thời tại New York và Hồng Kông, một cú huy động được 4,5 tỷ đô la Mỹ tiền mặt khổng lồ, bấy giờ chẳng những gây chấn động mạnh trên thị trường trong ngoài nước, mà ngay Giang Trạch Dân cùng đám quan chức cao cấp Trung Cộng thuộc hạ cũng trong lúc trợn mắt há mồm mà mừng ngoài dự liệu: rốt cuộc có một con đường sinh tài không tốn sức thổi bụi mà lại phất nhanh rồi. Đương nhiên, trong quá trình này, các ông chủ ngân hàng như Goldman Sachs cùng người nhà, thậm chí thân bằng hảo hữu của các quan chức cao cấp Trung Cộng cũng đều kiếm đầy bát đầy chậu, ai nấy tươi cười hớn hở. Riêng khoản phí bảo lãnh phát hành, các ngân hàng đầu tư như Goldman Sachs đã kiếm hơn 200 triệu đô la Mỹ. Nếu ban đầu Trung Cộng còn chút e dè với những ông chủ ngân hàng quốc tế “tự tiến cử” tìm đến, thì nay từ lâu đã thành khách quý trên ghế của Trung Cộng. Đến cả việc viết tiểu sử cho Giang Trạch Dân về sau cũng đi mời Kuhn, ông chủ ngân hàng của Citibank.

Có thành công và kinh nghiệm lần đầu huy động vốn hải ngoại của China Mobile, Trung Cộng càng mở toang miệng, dốc hết sức dính chặt với các ông chủ ngân hàng quốc tế, ồ ạt tiến quân vào thị trường vốn quốc tế huy động tài chính. Hai năm sau, China Mobile lại một lần phát hành cổ phiếu phân bổ và tăng phát cổ phiếu mới, huy động được lượng vốn thiên văn 32,8 tỷ đô la Mỹ.

Trong mấy năm sau đó, Trung Cộng lại theo cách cũ mà làm: đem mấy đại ngân hàng quốc hữu nợ xấu chồng chất tiến hành cải chế niêm yết, bóc tách nợ xấu nợ đọng; dưới sự trợ giúp của các ông chủ ngân hàng quốc tế, hết lần này đến lần khác thu về lượng tiền mặt khổng lồ từ thị trường vốn quốc tế.

Lật đổ thực chất đạo đức của kinh tế tự do

Trung Cộng thông qua “nhượng bán” một phần nhỏ cổ phần của các doanh nghiệp quốc doanh do nó khống chế mà thu được lượng vốn khổng lồ từ hải ngoại; các doanh nghiệp lũng đoạn như ương xí và ngân hàng, nơi quan chức cấp bộ trưởng, ủy viên dự khuyết trung ương, ủy viên trung ương làm người đứng đầu, đem vốn huy động từ niêm yết nộp lên Bộ Tài chính dưới dạng cổ tức. Vào thời cực thịnh của nó, điều này đối nội có tác dụng chèn ép doanh nghiệp tư nhân, đè nén cạnh tranh; đối ngoại thì uy hiếp kinh tế, tài chính và an ninh quốc gia của phương Tây. Mà do hiệu suất thấp kém, cứ ba năm năm năm lại cần huy động vốn từ thị trường một lần nữa, cứ thế tiếp diễn, nhà đầu tư và cơ cấu đầu tư hải ngoại như bị cuốn vào một trò chơi “đánh trống chuyền hoa”: lúc nào chuỗi vốn đứt gãy, lúc ấy khoản đầu tư cũng hóa thành hư không.

Đây là cách làm điển hình của thể chế biến vị, biến chất. Bản chất của kinh tế tự do theo nghĩa truyền thống là kiến lập trên nền tảng chế độ tư hữu; nhưng bản chất ấy là cá nhân phải chịu trách nhiệm với chính mình, phải gánh hậu quả do hành vi mình gây ra. Còn cách làm hiện nay, vừa tổn hại lợi ích nhân dân Trung Quốc vừa tổn hại lợi ích nhà đầu tư hải ngoại, đã lật đổ ý nghĩa của “tự do”, bởi thứ “tự do” này đi cướp đoạt người khác, xâm phạm nhóm yếu thế, không giữ giá trị đạo đức.

Nhưng hại người quay lại sẽ hại mình. Ví như, chế độ nô dịch thi hành bên Trung Quốc sử dụng “nô công” (những tù nhân lương tâm bị cưỡng ép lao động) rất rẻ, tình trạng nhân quyền thấp kém, các thương gia bình thường khác không cạnh tranh nổi, nhưng những nước như Mỹ cũng vì thế mất đi công việc và cơ hội việc làm. Chỗ vô đạo đức nhất là: hành vi không giữ bổn phận của các nhà tư bản, ở đây làm tổn thương lợi ích dân chúng Mỹ, làm tổn thương quốc bản của nước Mỹ.

Cá nhân trong giai đoạn này đem tài phú mà thể chế kinh tế tự do mấy trăm năm kiến lập nên biến vào túi riêng của số cực ít người, nhiễm phẩm chất vô đạo đức, kẻ phục vụ khách hàng lại làm hại khách hàng. Trong hoạt động kinh tế, cái “tư” biến thành cái “tham”, thì sẽ bị lợi ích thúc đẩy, bất chấp người khác. Trong toàn cầu hóa kinh tế, dòng vốn quốc tế lấy ngân hàng đầu tư quốc tế làm đại biểu, dòng hàng hóa quốc tế lấy công ty xuyên quốc gia làm đại biểu. Nếu những người tham gia các hoạt động kinh tế – tài chính này vì lợi ích ngắn hạn mà hy sinh lợi ích lâu dài, sa vào vũng lầy tham lam, bị Trung Cộng kéo vào cạm bẫy cùng hủy diệt, thì họ sẽ viết nên mặt tối tăm nhất của toàn cầu hóa kinh tế, sẽ hữu hiệu hơn bất kỳ ai khác trong việc chôn vùi thương mại tự do, kinh tế tự do, cùng quan niệm giá trị tự do mà nhân dân phương Tây đến nay vẫn tôn sùng.

Không có sự trợ giúp của các ông chủ ngân hàng đầu tư như Goldman Sachs, Trung Cộng tuyệt không thể có cái gan kinh tế như hôm nay để “diễu võ dương oai” trên thị trường quốc tế.

Còn nữa

Nhóm tác giả “Sự thật về Giang Trạch Dân”
Đăng lại từ 9binh.com (https://9binh.com/su-that-ve-giang-trach-dan)

Tài liệu tham khảo:

[26] Thạch Sơn, “Phỏng vấn chuyên đề nhà ngoại giao Trung Quốc đào thoát Trần Dụng Lâm”, Đài Á Châu Tự Do, ngày 24 tháng 6 năm 2005
http://www.rfa.org/mandarin/yataibaodao/chenyonglin-20050624.html

[27] Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), “Úc giành được hợp đồng khí đốt khổng lồ của Trung Quốc”, ngày 8 tháng 8 năm 2002
http://www.voachinese.com/content/a-21-a-2002-08-08-23-1-63371582/991634.html

[28] Minh Huệ Net, “Học viên Pháp Luân Công Úc khởi kiện Ngoại trưởng Downer lên Tòa án Tối cao”, ngày 10 tháng 6 năm 2005
http://shanyuan.vic.mh4u.org/gsjzm/qtqsal/103797.htm

[29] Minh Huệ Net, “Phiên điều trần đầu tiên vụ học viên Pháp Luân Công khởi kiện Ngoại trưởng Úc Downer”, ngày 20 tháng 7 năm 2005
http://www.minghui.org/mh/articles/2005/7/20/106538.html

[30] Mạng Tân Sinh, “Pháp Luân Công Úc kiện ngoại trưởng – tòa phán Downer bồi thường 20 nghìn”, ngày 17 tháng 12 năm 2006
http://xinsheng.net/xs/articles/gb/2006/12/17/39115.htm

[31] ”Giang Trạch Dân thứ Hai bắt đầu thăm Đức”
http://www.dw.de/dw/article/0,,492391,00.html

[32] Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), “Giang Trạch Dân thăm Đức chạm trán Pháp Luân Công”, ngày 12 tháng 4 năm 2002
http://www.voachinese.com/content/a-21-a-2002-04-12-15-1-63424037/1000209.html

[33] Đại Kỷ Nguyên, “Giang Trạch Dân thăm Đức – kéo dài biên giới của cuộc bức hại Pháp Luân Công”, ngày 13 tháng 4 năm 2002
http://www.epochtimes.com/gb/2/4/13/n183147.htm

[34] Đại Kỷ Nguyên, “Không được để Giang Trạch Dân nhìn thấy màu vàng”
http://www.epochtw.com/055/1725.htm

[35] Minh Huệ Net, “Tổng cục Cảnh sát bang Brandenburg của Đức thừa nhận việc hạn chế học viên Pháp Luân Công không có căn cứ pháp luật”, ngày 30 tháng 4 năm 2004
http://www.minghui.org/mh/articles/2004/4/30/73503.html

[36] Mạng Quang Minh, “Dân chúng Iceland biểu tình lên tiếng ủng hộ – hơn 70 học viên Pháp Luân Công bị giữ được nhập cảnh Iceland”
http://www.guangming.org/showarticle.php?ID=232

[37] Minh Huệ Net, “Quan chức chính phủ Iceland tiết lộ: ‘Chúng tôi nhận được đủ loại yêu cầu kỳ quái từ chính phủ Trung Quốc’”, ngày 24 tháng 9 năm 2002
http://m.minghui.org/mmh/articles/2002/9/24/37016.html

[38] Tân Đường Nhân, “Ngoại trưởng Iceland thay mặt chính phủ một lần nữa xin lỗi các học viên Pháp Luân Công”, ngày 30 tháng 5 năm 2011
http://www.ntdtv.com/xtr/gb/2011/05/30/a538514.html

[39] Tân Đường Nhân, “Nội tình Eutelsat cắt đứt tín hiệu Tân Đường Nhân”, năm 2008
http://www.ntdtv.com/xtr/b5/prog623.html

[40] Wall Street Journal, “Giấc mộng Trung Quốc của công ty Eutelsat mắc cạn”, ngày 13 tháng 4 năm 2005

[41] Leeshai Lemish, “Truyền thông và các phong trào tôn giáo mới: Trường hợp Pháp Luân Công” (Media and New Religious Movements: The Case of Falun Gong), ngày 13 tháng 6 năm 2009
http://www.cesnur.org/2009/slc_lemish.htm

[42] Danny Schechter, “Truyền thông làm nhạt vấn đề nhân quyền” (Media Downplays Human Rights)
http://www.alternet.org/story/9721/media_downplays_human_rights_in_china/?page=3

[43] Perry Link (Lâm Bồi Thụy), “Trung Quốc – con trăn khổng lồ trong chùm đèn treo”
http://hk.epochtimes.com/archive/Issue25/sslh-5.html

[44] Peter Manseau, “Bền bỉ chịu đựng” (Endurance), Guernica, ngày 15 tháng 6 năm 2012
http://www.guernicamag.com/features/falun-gong-v-china/

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/12/6/18/n3615197.htm

9binh

Published by
9binh

Recent Posts

Ông Tập Cận Bình thăm Mỹ: Biểu tình quy mô lớn, tiếng hô “ĐCSTQ xuống đài” dâng cao

Trong thời gian lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) Tập Cận Bình thăm…

19 phút ago

Cảnh hiếm thấy tại quốc yến Nhà Trắng: Vợ chồng ông Tập mang bình giữ nhiệt riêng

Hôm thứ Năm (24/9), tại quốc yến ở Nhà Trắng, lãnh đạo Trung Quốc Tập…

21 phút ago

Iran đề xuất kế hoạch 7 ngày để khởi động lại các cuộc đàm phán hạt nhân, mở eo biển Hormuz

Theo Ngoại trưởng Iran, Tehran đã đề xuất với các bên trung gian của Mỹ…

29 phút ago

Tin đồn Bessent sắp làm “ông trùm AI” Nhà Trắng, ông Trump lên tiếng bác bỏ

Tuần trước (19/9), ông Trump tuyên bố sẽ thành lập một “lực lượng trí tuệ…

37 phút ago

Ông Trump mời ông Tập tham quan Cục Lưu trữ Quốc gia Mỹ, mang ý nghĩa biểu tượng gì?

Cục Lưu trữ Quốc gia Mỹ lưu giữ nhiều tài liệu lịch sử quan trọng…

50 phút ago

Washington dựng kịch đường phố “bắt sống quốc tặc”, hình nộm ông Tập bị đánh dữ dội

Tại Washington đã diễn ra một vở kịch đường phố “bắt sống quốc tặc Tập…

58 phút ago