Đình Ba Thôn xã Liên Bạt (làng Bạt xưa) - nơi lưu giữ nhiều dấu ấn các nhà khoa bảng. (Ảnh: Báo Giáo dục & Thời đại)
Khi phong trào Thái Bình thiên quốc thất bại ở Trung Quốc, tàn quân tràn sang biên giới Đại Nam cướp bóc của dân chúng, làm chủ một phương. Trong tình cảnh đó, Tổng đốc Bùi Tuấn đã có công đánh bại và tiêu diệt được thủ lĩnh thổ phỉ, giúp giữ yên vùng biên giới.
Theo gia phả họ Bùi ở làng Bặt (tức làng Liên Bạt, Ứng Hòa, Hà Nội) thì dòng họ này ban đầu là họ Nguyễn, đến thời nhà Trần thì đổi sang họ Bùi. Đến đời thứ 7, dòng họ có Bùi Châm đỗ sinh đồ khoa thi năm 1705, là người đỗ khai khoa cho dòng họ.
Đến thời nhà Nguyễn, họ Bùi làng Bặt có Bùi Tuấn là người ham học, thường mang sách ra chùa làng học cho yên tĩnh. Nhờ đó mà ông đỗ Sinh đồ khi mới 18 tuổi, sau đó lại đỗ Tú tài tại 3 khoa thi.
Khoa thi năm 1840, Bùi Tuấn đỗ đầu tức Giải nguyên kỳ thi Hương ở trường thi Hà Nội, sau đó vượt qua kỳ thi Hội, vào thi Đình thì đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.
Thi đỗ, Bùi Tuấn được giữ các chức vụ khác nhau, đến năm 1847 thì làm Án sát tỉnh Sơn Tây. Tại đây ông cho đắp đê dưới chân núi Tản Viên giúp dân chống lụt.
Năm 1854, ông giữ chức Thị độc học sĩ, Lục bộ lang trung, tham gia biên soạn sách sử tại Quốc sử quán triều Nguyễn với 2 bộ “Vân Hải” và “Vịnh sử phú”, hiện vẫn còn lưu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Năm 1865, ông được Triều đình ban cho kim khánh khắc 4 chữ “Liêm, Bình, Cần, Cán”. Đến năm 1866, ông được thăng Binh bộ Tả tham tri.
Năm 1868, quân thổ phỉ Đình Lăng quốc ở nhà Thanh không thể chống nổi quân Triều đình nên tràn sang Đại Nam cướp bóc làm loạn vùng biên giới, hình thành quân Cờ Vàng. Triều đình cử Bùi Tuấn giữ chức Tổng đốc các tỉnh biên giới Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn.
Quân Triều đình nhà Nguyễn lúc này trang bị vũ khí kém hơn quân thổ phỉ nên phải huy động đông, lại thêm dân chúng phải vận chuyển lương thực rất vất vả. Bùi Tuấn đã ra các kế sách để dân chúng có thể tham gia luân phiên, giúp giảm thiểu gánh nặng cho dân chúng.
Trong khi nhà Thanh cử quân sang đánh thổ phỉ, nhà Nguyễn cũng dùng quân Cờ Đen chống quân Cờ Vàng. Hai cánh quân tấn công sào huyệt quân Cờ Vàng ở Hà Giang. Thủ lĩnh quân Cờ Vàng là Ngô Côn (tên thật là Ngô Á Chung) đưa quân rời khỏi Hà Giang tiến đánh Bắc Ninh.
Tháng 7/1869, Ngô Côn đưa quân vây hãm thành Bắc Ninh. Bùi Tuấn chỉ có 300 quân phòng thủ trong thành, nhưng ông không nao núng mà đốc quân quyết giữ thành, cho 2 con trai chạy thoát ra ngoài tìm báo viện binh.
Bùi Tuấn thám báo biết được chỗ của Ngô Côn, bèn cho súng thần công trên mặt thành nhắm vào hướng đó mà bắn khiến thủ lĩnh Ngô Côn trúng đạn tử trận, quân Cờ Vàng phải rút đi.
Cuốn “Đại Nam thực lục” ghi chép lại rằng:
“Bọn các ông Nguyễn Văn Phong và Bùi Tuấn dựa vào thành cố giữ. Trong thành cùng bắn ra. Ngô Côn trúng đạn. Bọn giặc rút về Đại Bàng. Ta thừa thắng đuổi giặc ở Đại Bàng, tiến quân thông với quân thứ Thái Nguyễn”.
Năm 1870, đám thổ phỉ nhà Thanh do Tô Tú làm thủ lĩnh tràn qua biên giới đánh úp thành Lạng Sơn. Bùi Tuấn đề xuất với Triều đình đưa thêm quân tới. Triều đình chuẩn theo, cử thêm quân đến giao cho Tổng đốc Bùi Tuấn đánh phỉ.
Bùi Tuấn chỉ huy quân đánh bại thổ phỉ, bắt được 2 tướng giặc thì đem xử trảm để uy hiếp quân giặc, từ đó chấm dứt nạn thổ phỉ phương bắc quấy nhiễu vùng biên giới.
Năm 1872, Bùi Tuấn mất tại nhiệm sở, thọ 65 tuổi. Triều đình truy tặng ông chức Thượng thư bộ Binh, hàm Thái tử Thiếu bảo.
Vua Tự Đức có biểu dụ viếng Bùi Tuấn, đánh giá cao công lao của ông trong việc đánh thổ phí giữ yên biên giới phía bắc:
“Từ ngày nhậm công việc khó khăn đã được hơn 3 năm, có kế sách phòng thủ, luôn lo lắng việc quân, nên khi giặc vây hãm đã có đủ sức bảo vệ thành. Phàm mọi việc khẩn cấp trong quân sự, Bùi Tuấn đều tỏ rõ tài năng làm giảm nỗi lo của triều đình đối với phương Bắc”.
Văn bia do danh sĩ Dương Lâm soạn như sau:
“Tướng công đã đỗ đầu khoa thi Hương và đỗ Tiến sĩ cập đệ. Tướng công làm quan trong triều hơn 30 năm. Dụ chỉ của nhà vua cũng nêu lòng thương tiếc và ghi công hai lần tướng công đi dẹp giặc. Tướng công thật đã không hổ thẹn là bậc hình thần đã có công lao vất vả ở ngoài cõi cho đến tận lúc mất đi. Nay viết văn này để công bố cho mọi người đều biết. Công lao ở trong triều, sự nghiệp ngoài biên ải, niềm mến yêu trong lòng dân, nỗi thương tiếc trong nhân sĩ đâu phải là ý riêng của một nhà”.
Trần Hưng
Xem thêm:
Mời xem video:
Đại sứ quán Mỹ cũng kêu gọi công dân Mỹ tại nước này tích trữ…
Mạng lưới lừa đảo hôn nhân và hối lộ xuyên bang này, tập trung vào…
Metopidine là một loại thuốc có tác dụng giảm đau, hạ nhịp tim và an…
Ngựa Mông Cổ dũng mãnh, linh hoạt, bền bỉ và dẻo dai, là cộng sự…
Ngành công nghiệp quân sự của ĐCSTQ tiếp tục là một 'điểm nóng' tham nhũng,…
"Một ngày vợ chồng trăm ngày ân", cổ nhân trân quý mối nhân duyên vợ…