Văn Hóa

Liên Hà: Vùng đất cổ sinh ra những vị đại khoa

Xã Liên Hà thuộc Đông Anh (nay là xã Thư Lâm, Hà Nội) là vùng đất cổ, thời Văn Lang thuộc bộ Vũ Ninh. Các thôn làng Hà Vĩ, Đại Vĩ, Hà Lỗ, Hà Phong được nhập chung vào một xã gọi là Liên Hà. Xã có nhiều bậc hiền tài giúp nước, riêng khoa bảng có hơn 10 người đỗ đại khoa.

Lịch sử hình thành

Theo truyền thuyết nơi đây, thời An Dương Vương, Vua cho dân ở Chạ Chủ (thuộc vùng Cổ Loa) rời đi để xây thành Cổ Loa. Dân chúng không muốn nhưng phải theo ý Vua rời đi nên xin xuống vùng đất trũng gần đó.

Vua bằng lòng cho dân xuống vùng trũng này, lập thành một Trang gọi là trang Hà Hào. Vì dân hậm hực không muốn rời đi nên Vua nói rằng “đó là dân cà quẫy”. Dân chúng theo lời Vua gọi trang Hà Hào là “Cà Quẫy”, lâu dần theo thời gian đọc chệnh đi thành “Quậy”.

Khi người dân đến vùng trũng đã sống tập trung vào cụm dân cư đầu tiên gọi là Quậy Cả (“Quậy” đọc chệch từ “Quẫy”, “Cả” ý là đầu tiên như anh cả), tên chữ là Đại Vĩ.

Họ Vũ là dòng họ đến nơi đây đầu tiên, trước đây đền thờ dòng họ còn có đôi câu đối:

Thiên vị tài bồi dương ngã Vũ
Thế truyền tác nghiệp tự Nguyên Hương

Nghĩa là:

Trời làm giàu cho họ Vũ ta
Đời đời truyền lưu ở xóm gốc

Từ Quậy Cả (Đại Vĩ), dân chúng đông lên hình thành thêm 2 làng nữa là làng Quậy Sau (tên chữ là Châu Phong) và Quậy Rào (tên chữ là Giao Tác). Cả 3 làng này đều thuộc trang Hà Hào.

Theo thời gian, Đại Vĩ cùng các làng “Hà” bên cạnh là Hà Vĩ, Hà Lỗ, Hà Phong gộp chung thành một xã gọi là xã Liên Hà.

Hội làng Quậy – tức ba làng thuộc xã Liên Hà: Quậy Cả (Đại Vĩ), Quậy Rào (Giao Tác), Quậy Sau (Châu Phong). (Ảnh: Báo Giáo dục & Thời đại)

Những vị đại khoa tiêu biểu

Trong lịch sử, Liên Hà có hơn 10 vị đỗ đại khoa.

Người đỗ khai khoa cho xã Liên Hà là Dương Văn Đán, đỗ khoa thi năm 1463. Đây là khoa thi nổi tiếng thời vua Lê Thánh Tông, những người đỗ đầu đều là danh sĩ truyền đời, trong đó nổi bật là Trạng Lường Lương Thế Vinh. Thi đỗ, Dương Văn Đán được cử làm Thừa chính sứ, năm 1486 được cử đi sứ sang nhà Minh.

Khoa thi tiếp sau, năm 1466, xã Liên Hà đã có người đỗ thứ hai là Lương Hối. Ông được cử làm thầy dạy cho các hoàng tử.

Người đỗ thứ ba là Dương Bính, đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1478, làm quan đến Thừa chính sứ.

Đến thời nhà Mạc, Liên Hà có thêm nhiều người đỗ đạt là Nguyễn Trác, Viêm Nghĩa Lộ, Ngô Chấp Trung, Dương Cảo.

Người đỗ tiếp theo là Ngô Tông Củ, đỗ Hoàng giáp khoa thi năm 1514, làm quan Lễ bộ Tả Thị lang.

Sau Ngô Tông Củ là Nghiêm Văn Hậu đỗ Hoàng giáp khoa thi năm 1518, làm quan Tham chính sứ.

Vào thời nhà Mạc, tại Liên Hà có Nguyễn Trác đỗ khoa Mậu Tuất khoa thi năm 1538, làm quan đến chức Hiến sát sứ.

Cùng thời này, Viêm Nghĩa Lộ đỗ Tiến sĩ khoa thi năm 1541, làm quan Hàn lâm viện Hiệu thảo.

Khoa thi năm 1553, Ngô Chấp Trung đỗ Tiến sĩ, làm quan Hiến sát sứ. Ông chính là con trai của Hoàng giáp Ngô Tòng Củ.

Đến đời Lê Trung Hưng năm 1628, Dương Cảo đỗ Hoàng giáp, làm quan Tế tửu Quốc Tử Giám. Đây là cháu tằng tôn của tiến sĩ Dương Bính.

Họ Đỗ

Ngoài những người nói trên, Liên Hà còn có họ Đỗ là dòng họ có nhiều người đỗ đạt nhất. Người đầu tiên thi đỗ của dòng họ này là Đỗ Túc Khang, đỗ kỳ thi Hương khi 23 tuổi, khoa thi năm 1496 đỗ tiến sĩ.

Ông được bổ nhiệm làm Tri huyện huyện Thủy Đường phủ Kinh Môn, ba năm sau được thăng làm Giám sát Ngự sử đạo Hải Dương.

Thời điểm này, giặc giã, loạn quân nổi lên khắp nơi, Đỗ Túc Khang chuyển hẳn sang làm võ tướng. Đến năm 1511, ông được thăng làm Lưu tướng quân Đoán sự vệ Kim Ngô.

Ông cầm quân đánh dẹp khắp nơi, được phong làm Đặc tiến Kim tử Vinh Lộc Đại phu, kiêm chức Tán trị Thừa chính sứ ti các xứ Thái Nguyên.

Năm 1527, Đỗ Túc Khang đã mệt mỏi nên thường ở quê nhà. Ông để con gái út của mình là Đỗ Thị Mỹ Mai thay mình cầm quân dẹp loạn.

Mỹ Mai từ nhỏ đã ham thích cả văn lẫn võ, lớn lên thì văn cũng hay mà võ cũng giỏi. Năm 1527, Mỹ Mai mới 20 tuổi đã thay cha cầm quân đến trấn áp vùng Phổ Yên, Phú Bình (thuộc Thái Nguyên). Nhưng loạn quân ngày càng đông hơn, Mỹ Mai không thể chống nổi, sang năm phải đem quân rút đến sông Mỹ Giang, khi cùng đường đã gieo mình xuống sông khi mới 21 tuổi. Thương tiếc, nhiều nơi ở Thái Nguyên đã lập đền thờ Mỹ Mai.

Đền Đồng Thụ tại Thái Nguyên thờ bà Đỗ Thị Mỹ Mai. (Ảnh: Báo Giáo dục & Thời đại)

Đỗ Túc Khang có 4 người em cũng đỗ đạt và được xem là nhân tài lúc đó: Đỗ Đại Uyên đỗ Hoàng giáp; Đỗ Túc Khiêm đỗ Thám hoa; Đỗ Danh đỗ tiến sĩ, làm quan đến Thượng thư; Đỗ Viên Nghị được triều đình nhà Lê phong Phục tướng quân, Bắc quản đô đốc, Chánh quản thần vũ vệ, Xuyên đinh quang hầu.

Ngày nay đền thờ bà Đỗ Thị Mỹ Mai ở Phổ Yên, Thái Nguyên, và nhà thờ Tiến sĩ Đỗ Túc Khang ở xã Lâm Thư mới (tức xã Kiên Hà cũ) đều đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa.

Trần Hưng

Xem thêm:

Mời xem video:

Trần Hưng

Published by
Trần Hưng
Tags: khoa bảng

Recent Posts

Ông Trump: “Bình minh mới cho Cuba”; Havana tìm cách gửi thư bí mật đến Tổng thống Mỹ

Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 17/4 đã phát biểu rằng ông sẽ mang đến…

24 phút ago

Học viên Pháp Luân Công Hồng Kông bị kết tội vì phát ngôn, phải lãnh án oan

Hôm 14/4, học viên Pháp Luân Công Tráng Vĩ Văn ở Hồng Kông bị Tòa…

30 phút ago

Mỹ hoàn tất việc rút quân khỏi Syria, củng cố hơn nữa quan hệ Mỹ-Syria

Quân đội Syria hiện đã hoàn toàn kiểm soát phần lớn các cơ sở quân…

1 giờ ago

Chứng khoán Mỹ lập đỉnh, giá dầu lao dốc sau thông tin mở lại eo biển Hormuz

Thứ Sáu (17/4), nhờ kỳ vọng tình hình Trung Đông hạ nhiệt và eo biển…

1 giờ ago

Cựu cảnh sát Tân Cương đào tẩu sang Đức, tiết lộ sự thật về các trại tập trung

Một cựu cảnh sát Tân Cương (Trung Quốc) trong chuyến du lịch tại Đức vào…

1 giờ ago

Iran tuyên bố mở lại eo biển Hormuz, “ông lớn” vận tải biển Maersk lên tiếng phản hồi

Maersk khẳng định: "Sự an toàn của thủy thủ đoàn, tàu thuyền và hàng hóa…

1 giờ ago