Kinh Tế

Lỗi và sai sót: Hé lộ thế giới ngầm của vàng, tiền mã hóa và buôn lậu

Dòng ngoại tệ vào Việt Nam trong hơn một thập kỷ qua tưởng như đã được “neo chặt” bởi thặng dư cán cân vãng lai và dòng vốn FDI, nhưng phía sau bức tranh ổn định đó lại tồn tại một “hố đen” khổng lồ đang âm thầm nuốt chửng hàng chục tỷ USD mỗi năm. Khoản mục “Lỗi và sai sót” trên cán cân thanh toán – vốn chỉ nên là sai số kỹ thuật – đang phình to bất thường, hé lộ một thế giới tài chính ngầm gồm tiền mã hóa, vàng buôn lậu và các giao dịch xuyên biên giới không kiểm soát, đặt ra rủi ro ngày càng lớn đối với tỷ giá và ổn định vĩ mô.

Khoản mục Lỗi và Sai sót đang triệt tiêu lợi thế cán cân thương mại thặng dư. Ảnh minh họa ChatGPT

Dữ liệu thống kê từ năm 2013 đến 2025 cho thấy Cán cân vãng lai của Việt Nam duy trì một quỹ đạo thặng dư vô cùng ấn tượng, đóng vai trò là trụ cột neo giữ dự trữ ngoại hối trong nhiều năm. Tuy nhiên, nguồn cung ngoại tệ dồi dào từ Cán cân vãng lai và dòng vốn FDI giải ngân ròng (đạt 75,65 tỷ USD trong cùng giai đoạn 2022-2025) đã bị triệt tiêu hoàn toàn bởi một hố đen khổng lồ nằm ở phía dưới của Cán cân thanh toán: đó là khoản mục Lỗi và sai sót cùng với khoản mục Đầu tư khác ròng.

Nếu như khoản mục Đầu tư khác giải thích được sự dịch chuyển vốn hợp pháp của hệ thống ngân hàng và các doanh nghiệp lớn, thì khoản mục Lỗi và sai sót (Errors and Omissions – E&O) lại vén bức màn về một thế giới tài chính ngầm, nơi các dòng vốn khổng lồ thoát khỏi biên giới quốc gia mà không để lại bất kỳ dấu vết thống kê chính thức nào.

Tính toán từ dữ liệu cung cấp cho thấy, chỉ trong năm 2024, E&O của Việt Nam đạt mức âm 31,76 tỷ USD, và tiếp tục âm 25,27 tỷ USD trong năm 2025, trở thành khoản mục gây thất thoát ngoại tệ lớn nhất trên BOP. Báo cáo của IMF chỉ ra rằng mức E&O trung bình hàng năm của Việt Nam đã tăng vọt từ dưới 10 tỷ USD trong giai đoạn trước 2022 lên tới mức trung bình 28 tỷ USD trong giai đoạn 2022-2024. Có ba cơ chế cốt lõi đang thúc đẩy sự phình to của hố đen này.

Cơ chế tháo chạy vốn thông qua tiền mã hóa

Nguyên nhân mang tính cấu trúc mới nhất là sự bùng nổ của giao dịch tài sản tiền mã hóa (crypto assets) và các loại tiền kỹ thuật số ổn định giá (stablecoins). Việt Nam hiện đang nằm trong tâm bão của làn sóng ứng dụng tiền mã hóa toàn cầu. Dữ liệu từ Chainalysis và các báo cáo giám sát tài chính quốc tế năm 2025 khẳng định Việt Nam liên tục duy trì vị trí trong top 5 đến top 7 quốc gia có mức độ chấp nhận tiền mã hóa cao nhất thế giới. [3] Chỉ riêng trong chu kỳ 12 tháng từ tháng 7/2024 đến tháng 6/2025, tổng giá trị các giao dịch tiền mã hóa tại Việt Nam được ước tính đạt con số gây sốc: 220 đến 230 tỷ USD, tương đương với trung bình hơn 600 triệu USD được giao dịch mỗi ngày. Mức giao dịch này đưa Việt Nam trở thành thị trường tiền mã hóa lớn thứ ba tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chỉ xếp sau Ấn Độ và Hàn Quốc, đồng thời chiếm tới gần 10% tổng giá trị giao dịch của toàn khu vực. [5] Báo cáo của IMF phân tích sâu hơn dựa trên dữ liệu chuỗi khối (on-chain), chỉ ra rằng tổng dòng chảy ròng (gross flows) của các giao dịch on-chain tại Việt Nam đạt 173 tỷ USD trong năm 2024, tương đương khoảng 38% GDP quốc gia. [1]

Cơ chế tháo chạy vốn thông qua tiền mã hóa diễn ra cực kỳ tinh vi và nằm ngoài phạm vi giám sát của hệ thống SWIFT hay các cổng thanh toán ngân hàng truyền thống. Các nhà đầu tư cá nhân, giới siêu giàu, và thậm chí một bộ phận doanh nghiệp đã sử dụng tiền nội tệ (VND) để thu gom các loại stablecoin như Tether (USDT) hay USD Coin (USDC) thông qua mạng lưới giao dịch ngang hàng (P2P). Chỉ tính riêng năm 2024, tổng dòng tiền vào (inflows) và dòng tiền ra (outflows) liên quan đến stablecoin tại Việt Nam đã đạt mức lần lượt là 54 tỷ USD và 52 tỷ USD, một sự bùng nổ không tưởng nếu so với con số vỏn vẹn 5 tỷ USD vào năm 2020. [1] Stablecoin, do được neo giá tỷ lệ 1:1 với đồng USD, đóng vai trò như một loại “ngoại tệ kỹ thuật số” lý tưởng. Dòng chảy USDT chiếm tới 34% tổng khối lượng giao dịch, trong khi USDC chiếm khoảng 18-20%. [1]

Sự thất thoát ngoại tệ xảy ra khi có hiện tượng lợi dụng chênh lệch giá (arbitrage) thông qua “phần bù tỷ giá tiền mã hóa” (crypto FX premium). Tại các thời điểm áp lực mất giá VND tăng cao, giá của 1 USDT tính bằng VND trên các sàn P2P thường xuyên giao dịch ở mức cao hơn đáng kể so với tỷ giá hối đoái USD/VND chính thức trên thị trường ngân hàng, hoặc thậm chí cao hơn cả tỷ giá trên thị trường chợ đen. Các nhà đầu cơ có thể sử dụng các kênh lách luật để đổi VND lấy USD theo tỷ giá chính thức, sau đó dùng lượng USD này mua USDT trên các sàn quốc tế, và bán lại USDT lấy VND trên thị trường P2P nội địa để ăn chênh lệch. Quá trình này về bản chất là việc sử dụng nguồn lực ngoại tệ thực của quốc gia để tài trợ cho các giao dịch tài sản ảo, đồng thời tạo ra các khoản chi trả nhập khẩu hoặc chuyển vốn ra nước ngoài (outflows) mà không có bất kỳ tài sản hay hàng hóa hữu hình nào được khai báo hải quan nhập khẩu trở lại, từ đó bị dồn nén toàn bộ vào khoản mục Lỗi và sai sót.[1]

Mặc dù Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Công nghiệp Công nghệ số (Digital Technology Industry Law), chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, thừa nhận tài sản số là một loại tài sản thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự và triển khai khung pháp lý thử nghiệm (sandbox) cấp phép cho các nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa (CASPs), thì trong suốt giai đoạn 2022-2025, khu vực này vẫn hoạt động như một cõi tự do tài chính. [5] Sự thiếu vắng khung pháp lý định danh và đánh thuế tài sản ảo đã tước đi công cụ giám sát dòng tiền của Ngân hàng Nhà nước, để mặc hàng chục tỷ USD trượt khỏi Cán cân thanh toán.

Hoạt động nhập khẩu vàng lậu tiếp tục là một kênh rò rỉ ngoại tệ kinh điển và dai dẳng.

Mức chênh lệch giá (premium) khổng lồ giữa giá vàng nội địa (như vàng SJC) và giá vàng giao ngay trên thị trường quốc tế, đôi khi lên tới hàng chục triệu đồng mỗi lượng là cơ hội vàng của thương mại ngầm trên thị trường này.

Mức lợi nhuận siêu ngạch từ chênh lệch giá đã thúc đẩy các đường dây buôn lậu đưa hàng chục tấn vàng qua biên giới phi chính thức. Để tài trợ cho các chuyến hàng nhập lậu này, giới buôn lậu buộc phải gom vét một lượng USD vật chất khổng lồ trên thị trường chợ đen (thị trường phi chính thức). Hệ quả là ngoại tệ thực tế đã bị tước đoạt khỏi nền kinh tế để thanh toán cho lượng vàng nhập lậu, nhưng trên hệ thống sổ sách của hải quan, không có bất kỳ kim ngạch nhập khẩu vàng nào được ghi nhận. Dòng tiền ra không có hàng hóa đối ứng này đã trực tiếp làm sưng to khoản mục Lỗi và sai sót trên BOP. Hơn thế nữa, việc giới buôn lậu vét cạn USD trên thị trường tự do đã đẩy tỷ giá chợ đen lên những mức cao kỷ lục, tạo ra hiệu ứng tâm lý lây lan, buộc các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải mua USD trên thị trường chính thức với giá cao hơn, làm vòng xoáy mất giá VND càng thêm trầm trọng.

Chuyển giá, gian lận hóa đơn thương mại của các doanh nghiệp

Các nghiệp vụ chuyển giá và gian lận hóa đơn thương mại (Trade Misinvoicing) của giới doanh nghiệp đóng góp phần còn lại vào E&O. Trong môi trường mà rủi ro tỷ giá gia tăng và lãi suất quốc tế hấp dẫn, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu (đặc biệt là khối FDI có mạng lưới công ty mẹ – con toàn cầu) có động cơ rất lớn để thực hiện các hành vi định giá thấp hàng xuất khẩu (under-invoicing exports) hoặc định giá cao hàng nhập khẩu (over-invoicing imports). Bằng cách khai báo giá trị xuất khẩu thấp hơn thực tế trên tờ khai hải quan, doanh nghiệp có thể giữ lại phần doanh thu ngoại tệ chênh lệch ở các tài khoản ngân hàng tại nước ngoài. Ngược lại, bằng cách khai báo giá trị nhập khẩu cao hơn thực tế, doanh nghiệp có cớ hợp pháp để mua một lượng USD lớn từ hệ thống ngân hàng nội địa và chuyển ra nước ngoài cho các công ty liên kết. Cả hai thủ thuật này đều dẫn đến việc ngoại tệ bị bòn rút khỏi biên giới quốc gia một cách hợp thức hóa về mặt chứng từ, nhưng lại để lại những hố sâu sai lệch trong việc đối chiếu số liệu hải quan và dòng tiền thanh toán thực tế của hệ thống ngân hàng, phản ánh trực tiếp vào sự gia tăng của Lỗi và sai sót.

Trong lý thuyết kế toán Cán cân thanh toán, Lỗi và sai sót là một khoản mục cân đối kỹ thuật, phản ánh sự khác biệt giữa tổng các dòng tiền ra và vào được ghi nhận. Một mức E&O nhỏ (thường dưới 1-2% tổng kim ngạch thương mại) là điều hoàn toàn bình thường do chênh lệch thời gian ghi nhận dữ liệu hải quan và dữ liệu ngân hàng. Tuy nhiên, khi E&O duy trì ở mức âm hàng chục tỷ USD một cách có hệ thống qua nhiều năm, nó không còn là “sai sót” thống kê, mà là chỉ báo tuyệt đối về hiện tượng chảy máu vốn (capital flight).

(Còn tiếp)

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà

NGUỒN TIN THAM KHẢO

Nguyễn Thị Ngọc Hà

Published by
Nguyễn Thị Ngọc Hà

Recent Posts

Nhật Bản nới lỏng xuất khẩu vũ khí, doanh nghiệp quốc phòng tăng tốc mở rộng toàn cầu

Khi Chính phủ Nhật Bản chính thức nới lỏng các quy định hạn chế xuất…

3 giờ ago

Bộ trưởng DHS cảnh báo: Sắp cạn kinh phí trả lương cho nhân viên an ninh sân bay

Bộ trưởng An ninh Nội địa Mỹ (DHS) Markwayne Mullin hôm thứ Ba (21/4) cho…

4 giờ ago

[VIDEO] “Tửu sắc tài khí bốn bức tường, người người giam hãm ở bên trong”

Hễ một người vướng mắc vào rượu, sắc đẹp, tài vật hay các loại tâm…

6 giờ ago

Sinh viên Trung Quốc bị bắt vì quay phim máy bay quân sự tại các căn cứ Mỹ

Căn cứ Không quân Offutt (OAFB), trụ sở của Bộ Tư lệnh Chiến lược Hoa…

6 giờ ago

3 tàu bị tấn công ở eo biển Hormuz, các thành viên thủy thủ đoàn đều an toàn

Ông Trump còn tiết lộ thêm rằng do khó khăn tài chính, binh lính và…

6 giờ ago

Lốc xoáy cuốn qua xã vùng biên tỉnh Quảng Trị

Sau cơn lốc xoáy bất ngờ, căn nhà của ba hộ dân tại thôn A…

6 giờ ago