Dù duy trì thặng dư Cán cân vãng lai hàng chục tỷ USD mỗi năm, nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với một nghịch lý đáng lo ngại: dòng ngoại tệ “vào nhiều nhưng giữ lại ít”. Hơn 178 tỷ USD đã “bốc hơi” khỏi hệ thống thống kê chính thức của BOP trong vòng 4 năm (2022-2025) làm suy yếu dự trữ ngoại hối và thu hẹp dư địa can thiệp của cơ quan điều hành. Trong bối cảnh đó, áp lực tỷ giá USD/VND năm 2026 không còn chỉ đến từ yếu tố bên ngoài, mà bắt nguồn từ những mất cân đối cấu trúc ngay bên trong nền kinh tế.

Duy trì thặng dư thương mại nhiều năm nhưng Việt Nam vẫn đối diện với nguy cơ sụt giảm dự trữ ngoại hối. Ảnh minh họa ChatGPT AI.

Trong hơn một thập kỷ qua, nền kinh tế Việt Nam đã chứng kiến sự chuyển đổi sâu sắc trong mô hình tăng trưởng và hội nhập quốc tế, điều này được phản ánh một cách rõ nét nhất thông qua Cán cân thanh toán quốc tế (Balance of Payments – BOP). Từ một nền kinh tế thường xuyên đối mặt với thâm hụt thương mại trong những năm trước 2010, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những trung tâm sản xuất và xuất khẩu hàng đầu khu vực, ghi nhận những con số thặng dư Cán cân vãng lai (Current Account) khổng lồ. Tuy nhiên, đằng sau bề nổi của dòng tiền thương mại đang ngày càng gia tăng, một cấu trúc rạn nứt nghiêm trọng đang hình thành tại Cán cân tài chính (Financial Account) và khoản mục Lỗi và sai sót (Errors and Omissions). Sự phân kỳ ngày càng sâu sắc giữa dòng vốn thực (thương mại, đầu tư trực tiếp) và dòng vốn tài chính (đầu tư gián tiếp, đầu tư khác, và các dòng vốn không được ghi nhận) đã và đang tạo ra những rủi ro mang tính hệ thống đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô và sức mạnh của đồng nội tệ.

Cán cân vãng lai của Việt Nam duy trì một quỹ đạo thặng dư trong nhiều năm

Dữ liệu thống kê từ năm 2013 đến 2025 cho thấy Cán cân vãng lai của Việt Nam duy trì một quỹ đạo thặng dư vô cùng ấn tượng, đóng vai trò là trụ cột neo giữ dự trữ ngoại hối trong nhiều năm. Ngoại trừ một vài quý thâm hụt ngắn hạn mang tính chu kỳ hoặc do cú sốc chuỗi cung ứng toàn cầu thời kỳ đại dịch Covid-19 (như quý 3 năm 2021 thâm hụt 4,4 tỷ USD hay quý 2 năm 2022 thâm hụt 5,25 tỷ USD), Cán cân vãng lai nhìn chung liên tục mở rộng. Đến năm 2023, thặng dư Cán cân vãng lai đạt mức 28,17 tỷ USD, sau đó tiếp tục tăng lên 30,5 tỷ USD trong năm 2024 và thiết lập kỷ lục mới ở mức 33,13 tỷ USD vào năm 2025. Lũy kế trong giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2025, tổng thặng dư Cán cân vãng lai của Việt Nam đạt mức 91,12 tỷ USD.

Động lực cốt lõi cho sự thặng dư này là cán cân thương mại hàng hóa (Net Trade in Goods), khi xuất khẩu f.o.b liên tục vượt xa nhập khẩu f.o.b nhờ sự bùng nổ của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Chỉ riêng trong năm 2025, xuất khẩu hàng hóa f.o.b đã đạt 475,05 tỷ USD, tạo ra mức thặng dư thương mại hàng hóa lên tới 41,89 tỷ USD, bù đắp hoàn toàn cho mức thâm hụt cố hữu của cán cân dịch vụ (âm 10,23 tỷ USD) và cán cân thu nhập sơ cấp (âm 14,39 tỷ USD).

Nhưng Hố đen khổng lồ nằm ngay phía dưới Cán cân thanh toán

Tuy nhiên, nguồn cung ngoại tệ dồi dào từ Cán cân vãng lai và dòng vốn FDI giải ngân ròng (đạt 75,65 tỷ USD trong cùng giai đoạn 2022-2025) đã bị triệt tiêu hoàn toàn bởi một hố đen khổng lồ nằm ở phía dưới của Cán cân thanh toán: đó là khoản mục Lỗi và sai sót cùng với khoản mục Đầu tư khác ròng. Sự xuất hiện của dòng ngoại tệ âm với quy mô lớn, liên tục và có hệ thống từ hai khoản mục này đã biến bức tranh BOP của Việt Nam từ trạng thái thặng dư bề mặt trở thành trạng thái thâm hụt bản chất. Sự rút vốn ồ ạt và các dòng chảy ngoại tệ không được ghi nhận đã khiến Cán cân tổng thể (Overall Balance) nhiều lần rơi vào trạng thái báo động đỏ. Điển hình là năm 2022, Cán cân tổng thể thâm hụt tới 22,74 tỷ USD, và tiếp tục thâm hụt 9,16 tỷ USD trong năm 2024, buộc cơ quan quản lý tiền tệ phải liên tục bán ngoại tệ để can thiệp, làm suy yếu nghiêm trọng tấm đệm dự trữ ngoại hối quốc gia.

Tồn tại hiện tượng “thâm hụt kép” tại Cán cân tài chính và khoản mục Lỗi và sai sót. Nguồn: Tác giả tổng hợp.

Một số mất cân đối lớn được chỉ báo sớm

Việc phân tích số liệu BOP không chỉ dừng lại ở việc đọc các con số kế toán, mà phải nhìn nhận chúng như những chỉ báo sớm (leading indicators) về “sức khỏe” cấu trúc của nền kinh tế. Sự chênh lệch giữa dòng tiền từ hoạt động thương mại và sự bốc hơi của dòng vốn tài chính đang phát đi những cảnh báo đỏ về một loạt các mất cân đối vĩ mô nghiêm trọng.

Mất cân đối đầu tiên và dễ nhận thấy nhất là sự phụ thuộc quá mức vào khu vực FDI để tạo ra thặng dư ngoại tệ, trong khi khu vực kinh tế trong nước lại là tác nhân chính gây ra rò rỉ vốn. Thặng dư thương mại hơn 40 tỷ USD mỗi năm thực chất được đóng góp chủ yếu bởi các tập đoàn công nghệ đa quốc gia lắp ráp và xuất khẩu từ Việt Nam. Lượng ngoại tệ này, về mặt kế toán, được ghi nhận là dòng tiền chảy vào nền kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế, một phần rất lớn lợi nhuận của khối FDI được chuyển ngược về nước sở tại dưới dạng chi trả cổ tức (ghi nhận vào thâm hụt thu nhập sơ cấp, lên tới hơn 15,6 tỷ USD năm 2024 và 14,39 tỷ USD năm 2025), hoặc được giữ lại trên các tài khoản ngoại biên mà không chuyển đổi hoàn toàn sang đồng Việt Nam (VND).

Mất cân đối thứ hai, nguy hiểm hơn, nằm ở hiện tượng “thâm hụt kép” tại Cán cân tài chính và khoản mục Lỗi và sai sót. Trong suốt giai đoạn 2022-2025, tổng mức thâm hụt của Đầu tư khác ròng lên tới hơn 70,6 tỷ USD, trong khi Lỗi và sai sót đạt mức âm không tưởng là 107,37 tỷ USD. Tổng cộng, hơn 178 tỷ USD đã “bốc hơi” khỏi hệ thống thống kê chính thức của BOP trong vòng 4 năm. Đây là một sự thất thoát nguồn lực tài chính ở mức độ hệ thống. Khối lượng tài sản này nếu được giữ lại và lưu thông trong hệ thống ngân hàng nội địa sẽ cung cấp một nguồn vốn khổng lồ để hạ nhiệt mặt bằng lãi suất, cung cấp thanh khoản dồi dào cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển hạ tầng, và gia tăng mạnh mẽ quy mô dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Thay vào đó, sự chảy máu vốn này tạo ra một vòng lặp phản hồi tiêu cực (negative feedback loop): nền kinh tế làm ra nhiều ngoại tệ, nhưng thanh khoản ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng và thị trường dân cư luôn trong trạng thái căng thẳng cục bộ, từ đó tạo áp lực thường trực đẩy tỷ giá USD/VND đi lên.

Sự suy giảm của các lớp đệm phòng thủ vĩ mô là hệ quả tất yếu của những mất cân đối này. Theo báo cáo đánh giá khu vực ngoại biên (External Sector Assessment) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) năm 2025, dự trữ ngoại hối quốc gia của Việt Nam (Gross International Reserves – GIR) đã trải qua một quá trình sụt giảm đáng lo ngại.

Từ mức đỉnh cao 109,4 tỷ USD vào cuối năm 2021, dự trữ ngoại hối đã bốc hơi 22,7 tỷ USD trong năm 2022 xuống còn 86,7 tỷ USD, phục hồi nhẹ lên 92,3 tỷ USD năm 2023, nhưng lại tiếp tục sụt giảm 9,2 tỷ USD trong năm 2024 xuống mức 83,1 tỷ USD.[1] Các dự báo tiếp tục chỉ ra mức giảm xuống còn 79,3 tỷ USD vào năm 2025 và 79,2 tỷ USD vào năm 2026. [2]

Nghiêm trọng hơn, tỷ lệ bao phủ nhập khẩu (Import coverage ratio) – một thước đo tiêu chuẩn về an ninh tài chính quốc tế – đã trượt dốc không phanh. Từ mức bao phủ 3,6 tháng nhập khẩu trong năm 2021, tỷ lệ này đã rơi xuống mức 3,1 tháng vào năm 2022, 2,8 tháng vào năm 2023, 2,4 tháng vào năm 2024 và dự kiến chỉ còn 2,2 tháng vào năm 2025 và 2,1 tháng vào năm 2026. [3] Việc tỷ lệ này rớt xuống sâu dưới ngưỡng an toàn tối thiểu 3 tháng theo khuyến nghị của IMF là một tín hiệu cảnh báo khẩn cấp, cho thấy dư địa can thiệp thị trường ngoại hối bằng công cụ bán USD giao ngay của NHNN đã bị thu hẹp. Việc thiếu vắng hỏa lực từ dự trữ ngoại hối sẽ khiến tỷ giá VND trở nên cực kỳ nhạy cảm và dễ tổn thương trước các đợt tấn công đầu cơ hoặc những cú sốc dịch chuyển vốn đột ngột từ thị trường quốc tế.

(Còn tiếp)

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà

NGUỒN THAM KHẢO