Theo Bộ GD&ĐT, năm 2021, dịch COVID-19 đã khiến gần 20 triệu trẻ em, học sinh, sinh viên phải tạm dừng đến trường, chuyển sang học trực tuyến. (Ảnh: thanhuytphcm.vn)
Trong phần lớn thế kỷ 20, điểm số trí thông minh tăng khoảng 3 điểm mỗi thập kỷ, tương đương 6 điểm mỗi thế hệ. Tuy nhiên, trong khoảng 20 năm qua, xu hướng này đã chững lại. Các đánh giá tại Hoa Kỳ cho thấy thế hệ gen Z là nhóm đầu tiên có điểm IQ thấp hơn so với cha mẹ. Điều này xảy ra cùng với thời điểm công nghệ phát triển mạnh mẽ, thiếu sự kết nối giữa thầy cô giáo và các em học sinh trong lớp học.
Trong tiết tiếng anh lớp 7 của cô Emily Cherkin, trước đây khi giờ học kết thúc thường có những âm thanh xôn xao như tiếng ghế kéo, tiếng sổ tay lật mở và một hàng nhỏ học sinh đứng trước bàn cô. Các em học sinh cầm chặt bài làm của mình, hỏi cô vì sao lại bị thấp và có thể cải thiện như thế nào.
Rồi mọi thứ biến mất. Bài tập về nhà, hạn nộp bài và điểm số đều được chuyển lên mạng.
“Lúc đầu, tôi nghĩ, ừ thì, tại sao không tra cứu trên mạng?” cô Cherkin nói với The Epoch Times. Nhưng cô biết rằng giá trị thực sự nằm ở việc viết ra.
Một vấn đề lớn hơn đã nhanh chóng xuất hiện. Công nghệ đang thay thế vị trí trung tâm lớp học của cô.
Cô nói: “Công nghệ đã kéo học sinh rời xa tôi. Tôi được yêu cầu để học sinh tự xem điểm của mình trên hệ thống thay vì đến nói chuyện [trực tiếp] về việc các em có thể cải thiện như thế nào”.
Lớp học của cô Cherkin là một dấu hiệu cảnh báo sớm.
Cô bắt đầu giảng dạy vào đầu những năm 2000, thời kỳ mà học sinh dùng những chiếc xe đẩy máy tính thay vì mỗi em có một thiết bị riêng. Ngày nay, những đứa trẻ 6 tuổi liên tục chuyển đổi giữa các ứng dụng, phản hồi nhanh chóng với những câu hỏi được đưa ra liên tục. Trong khi đó, điểm số các kỳ thi quốc gia vẫn tiếp tục giảm ở các kỹ năng đọc, toán và giải quyết vấn đề.
“Trẻ em đang suy giảm về năng lực nhận thức; lần đầu tiên, thế hệ này kém hơn thế hệ trước ở chính những kỹ năng mà trường học được kỳ vọng phải phát triển”, nhà khoa học thần kinh Jared Cooney Horvath, một cựu thầy cô chuyển sang nghiên cứu về học tập của con người, nói với The Epoch Times.
Ông cho rằng sự chuyển đổi nhanh chóng sang các lớp học “bão hòa màn hình” là một nguyên nhân chính.
Trong phần lớn thế kỷ 20, điểm số trí thông minh tăng khoảng 3 điểm mỗi thập kỷ hay 6 điểm mỗi thế hệ. Các nhà nghiên cứu gọi sự gia tăng này là Hiệu ứng Flynn. Tuy nhiên, trong khoảng 20 năm qua, xu hướng này đã bị phá vỡ.
Các đánh giá tại Hoa Kỳ cho thấy thế hệ gen Z là nhóm đầu tiên có điểm IQ thấp hơn so với cha mẹ.
Theo Daniel Willingham, một nhà khoa học nhận thức tại Đại học Virginia, việc giữ thông tin trong đầu, suy luận để giải quyết vấn đề và giải quyết đồng thời nhiều ý tưởng là những kỹ năng tư duy trừu tượng mà học sinh rèn luyện ở trường. Đây cũng chính là mục tiêu lượng giá trong các bài kiểm tra IQ.
“Các bài kiểm tra IQ được thiết kế để dự đoán thành công trong học tập”, ông Willingham, người nghiên cứu tập trung vào cách trẻ em học tập nói với The Epoch Times.
Sự sụt giảm điểm IQ cho thấy sự suy giảm về năng lực nhận thức. Các nhà nghiên cứu nhìn chung đồng ý rằng sự giảm điểm này phản ánh những thay đổi trong môi trường sống của trẻ em.
Thời điểm xảy ra sự suy giảm này là yếu tố khó có thể bỏ qua. Nó trùng với sự mở rộng mạnh mẽ của công nghệ trong lớp học. Bắt đầu vào cuối những năm 1990, các chương trình thử nghiệm “1-1” cung cấp cho mỗi em học sinh một thiết bị để cá nhân hóa việc học và thu hẹp khoảng cách thành tích. Hiện nay, mô hình này đã trở nên phổ biến.
Chỉ riêng trong năm 2013 và 2014, các trường học ở Hoa Kỳ đã mua hơn 23 triệu máy tính xách tay, máy tính bảng và Chromebook để sử dụng trong lớp học. Đại dịch COVID-19 đã làm tăng tốc sự chuyển đổi này một cách mạnh mẽ: hàng tỷ đô la cứu trợ từ liên bang đã giúp đưa màn hình đến tay gần như mọi học sinh và đẩy chi tiêu hằng năm cho công nghệ giáo dục lên đến hàng chục tỷ đô la.
Mặc dù ông Horvath nhận thấy có nhiều hơn là sự trùng hợp giữa việc gia tăng dùng công nghệ giáo dục và sự suy giảm thành tích học tập, các học giả khác lại cho rằng đại dịch COVID-19, tình trạng nghèo đói gia tăng ở trẻ em và sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên ngày càng xấu đi mới là nguyên nhân.
Điều không có gì phải tranh cãi là mức độ của sự suy giảm này.
Trong kỳ Đánh giá Tiến bộ Giáo dục Quốc gia tại Mỹ (thường được gọi là “bảng điểm của quốc gia), điểm số đã tăng cho đến khoảng năm 2010, sau đó bắt đầu giảm. Ở nhóm học sinh 13 tuổi, điểm đọc hiện thấp hơn khoảng 7 điểm và điểm toán thấp hơn khoảng 14 điểm so với một thập kỷ trước, quay trở lại mức của những năm 1990. Ở một số thước đo, học sinh thậm chí còn thể hiện kém hơn so với ba thập kỷ trước.
Trên phạm vi toàn cầu, xu hướng này cũng lặp lại. Cứ mỗi ba năm, chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) kiểm tra hàng trăm nghìn học sinh 15 tuổi trên toàn thế giới về toán, đọc và khoa học.
Trong các kỳ đánh giá gần đây, học sinh cũng được hỏi họ dành bao nhiêu thời gian sử dụng thiết bị kỹ thuật số trong một ngày học.
Ông Horvath nhận thấy rằng những học sinh báo cáo dùng máy tính hơn sáu giờ mỗi ngày ở trường có điểm thấp hơn khoảng 65 điểm so với những học sinh không dùng. Ở các quốc gia giàu có, khoảng cách này thậm chí còn lớn hơn, vào khoảng 67 điểm.
Nhiều người tự hỏi các trường học thực sự đang đầu tư vào điều gì.
Thời gian sử dụng màn hình cho mục đích giáo dục thường được xem là có lợi hơn so với việc dùng để giải trí, vì nó được thiết kế để dạy học chứ không phải để giải trí.
Tuy nhiên, ông Horvath không thấy có sự khác biệt đáng kể nào. Ông cho rằng công nghệ giáo dục thực chất chỉ là nhiều thời gian nhìn màn hình hơn. Ông định nghĩa nó là “bất kỳ thiết bị kết nối internet nào mà học sinh trực tiếp sử dụng”: bao gồm laptop, máy tính bảng, nền tảng học tập, gia sư trí tuệ nhân tạo và cả hình thức học hoàn toàn trực tuyến.
Dù là giải trí hay học tập, học sinh vẫn đang nhìn vào màn hình và tiếp nhận gần như cùng một dạng kích thích: hình ảnh sáng, phản hồi nhanh, sự tương tác liên tục và ánh sáng xanh.
Vì phần lớn công nghệ giáo dục dựa vào các thiết bị kết nối internet, nên chính những công cụ dùng để học cũng có thể dẫn đến sự xao nhãng.
Ngay cả khi có bộ lọc của nhà trường và phần mềm giám sát, học sinh vẫn thường tìm cách chuyển sang chơi game, nhắn tin hoặc các hình thức giải trí trực tuyến khác trong giờ học. Những thiết bị này cũng mang theo các rủi ro kỹ thuật số quen thuộc: bắt nạt qua mạng, tiếp xúc với nội dung không phù hợp và các vấn đề sức khỏe tâm thần liên quan đến việc xem màn hình quá nhiều.
Ông Horvath nói: “Mọi người thường nghĩ rằng vì nhà trường đã mua hoặc vì có chữ giáo dục phía trước, thì nó chắc chắn phải khác. Nhưng tất cả những vấn đề bạn thấy ngoài đời thực liên quan đến việc dùng màn hình cũng sẽ xảy ra với màn hình trong lớp học”.
Ông so sánh sự khác biệt giữa hai điều này giống như việc chuyển từ hút thuốc lá sang hút thuốc điện tử.
Bà Erin Mote, giám đốc điều hành của InnovateEdu, một tổ chức phi lợi nhuận kết nối các nhà giáo dục và chuyên gia công nghệ để thiết kế công cụ cho giáo dục từ mẫu giáo đến lớp 12, cho rằng mục đích và cách thiết kế là yếu tố quan trọng.
Bà nói với The Epoch Times rằng các ứng dụng tiêu dùng hoặc giải trí được thiết kế để tối đa hóa sự chú ý bằng cách “giữ mắt trẻ dán vào màn hình càng lâu càng tốt”.
Ngược lại, công nghệ lớp học được thiết kế tốt hướng tới “sự cố gắng mang tính xây dựng”, tức là thử thách học sinh vừa đủ để các em phải tự giải quyết vấn đề thay vì chỉ nhận đáp án sẵn.
Những nền tảng hiệu quả cho phép học sinh thử nhiều cách tiếp cận khác nhau với một vấn đề, hiểu vì sao cách này đúng còn cách kia sai và điều chỉnh cách suy nghĩ của mình thay vì chỉ bấm chọn đáp án trắc nghiệm. Công nghệ giáo dục cũng có thể cung cấp dữ liệu theo thời gian thực, giúp thầy cô can thiệp kịp thời khi học sinh gặp khó khăn.
Ở trạng thái tốt nhất, theo bà Mote, công nghệ giáo dục đóng vai trò như một “yếu tố khuếch đại hiệu quả”. Phần mềm có thể giải quyết các công việc lặp đi lặp lại như chấm điểm bài kiểm tra và giao bài luyện tập để rèn kỹ năng cơ bản, từ đó giúp thầy cô có nhiều thời gian hơn để tập trung vào thảo luận, phản hồi và hướng dẫn. Bà cũng nhấn mạnh rằng, đặc biệt trong các lớp học tiểu học, việc học về cơ bản nên là sự tương tác giữa con người với con người.
Tuy nhiên, ông Horvath cho rằng vẫn tồn tại những giới hạn.
Ngay cả những công cụ được thiết kế cẩn thận cũng có thể làm gián đoạn quá trình hình thành kỹ năng. Ông cho rằng phần lớn công nghệ giáo dục không được thiết kế riêng cho việc học của trẻ em mà là các phiên bản điều chỉnh từ phần mềm vốn ban đầu được tạo ra để phục vụ năng suất làm việc của người lớn.
“Những công cụ mà chuyên gia sử dụng để làm cuộc sống của họ dễ dàng hơn không phải là những công cụ mà người mới bắt đầu nên dùng để học cách trở thành chuyên gia”, ông Horvath chia sẻ.
Học sinh cần xây dựng các kỹ năng nền tảng trước. Nếu không, công nghệ có thể đang suy nghĩ thay cho họ.
Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã so sánh phương pháp học truyền thống với phương pháp học với màn hình.
Qua nhiều nghiên cứu, việc ghi chép bằng tay và đọc trên giấy giúp học sinh ghi nhớ và hiểu tốt hơn so với việc gõ máy hoặc đọc trên màn hình. Những cách này thường khiến việc đọc trở nên nhanh hơn nhưng cũng rời rạc hơn.
Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là màn hình hay giấy. Còn có những lý do sâu xa hơn giải thích vì sao các em lại học tốt hơn nếu có thầy cô giáo dạy trực tiếp.
Học sinh học bằng cách suy nghĩ.
Trong cuốn sách “Tại sao học sinh không thích trường học?”, ông Willingham cho rằng để ghi nhớ điều gì đó, trước hết ta phải suy nghĩ về nó. Nếu một ý tưởng không đòi hỏi sự chú ý và cố gắng, nó sẽ không được ghi nhớ lâu.
“Khi việc học quá dễ, học sinh sẽ chán và mất tập trung”, ông nói.
Nhiều nền tảng công nghệ giáo dục được thiết kế để giảm bớt khó khăn trong quá trình học. Gợi ý tức thì, tự động điền, phần thưởng dạng trò chơi và việc tìm kiếm dễ dàng tạo cảm giác trôi chảy. Học sinh có thể tiến nhanh và cảm thấy mình đang làm tốt nhưng tốc độ và sự trôi chảy không đồng nghĩa với việc làm chủ kiến thức.
Thực tế, phần lớn thời gian đó cũng bị lãng phí khi học sinh sử dụng thiết bị cá nhân dễ bị xao nhãng, có thể mất tập trung vào việc khác tới 38 phút trong mỗi giờ.
Ông Horvath đặt ra câu hỏi: “Học tập là gì, nếu không phải là sự ma sát? Nếu bạn không gặp khó khăn trong lớp học, nghĩa là bạn chưa thực sự đang rèn luyện”.
Tuy nhiên, khi việc học trở nên quá khó, học sinh sẽ mất hứng thú và không còn tham gia.
Theo ông Willingham, việc tạo ra mức độ khó “vừa phải” này chính là một trong những lời hứa của học tập kỹ thuật số.
Nhưng trên thực tế, mức độ khó phù hợp đó chỉ có thể được điều chỉnh trong mối quan hệ với thầy cô giáo – người có thể cảm nhận khi nào nên thúc đẩy, khi nào nên dừng lại hoặc khi nào cần giải thích thêm.
Tuy nhiên, theo ông Willingham, việc cá nhân hóa học tập thực sự rất khó đạt được chỉ bằng công nghệ. Ông dẫn lại một bức thư ngỏ năm 2018 của một lãnh đạo trong ngành, người đã thừa nhận những giới hạn này: Ông Larry Berger, giám đốc điều hành của Amplify và là người từng ủng hộ mạnh mẽ công nghệ giáo dục, đã viết rằng để cá nhân hóa thực sự, cần có một “bản đồ” chi tiết về kiến thức của từng học sinh, khả năng đo lường chính xác mức độ hiểu biết và một thư viện nội dung khổng lồ, chất lượng cao để các thuật toán sử dụng.
“Bản đồ đó không tồn tại, việc đo lường là không thể, và chúng ta, nói chung, mới chỉ xây dựng được khoảng 5% của thư viện đó”, ông Berger viết.
Những giới hạn của phần mềm khiến sự chú ý quay trở lại với lý do vì sao thầy cô giáo là không thể thay thế.
Con người nên học từ con người.
“Màn hình đang đi ngược lại cách thức tự nhiên mà chúng ta được thiết kế để học”, ông Horvath nói, bởi vì ngoài yếu tố ma sát, việc học còn cần đến sự đồng cảm. Điều này chỉ có thể được xây dựng thông qua kết nối giữa con người với con người.
Khi đối mặt với những thử thách thực sự, điều khiến học sinh tiếp tục cố gắng không phải là hình ảnh động hay các tính năng hào nhoáng mà là một người mà họ tin tưởng.
Các nghiên cứu liên tục chỉ ra rằng mối quan hệ bền chặt giữa thầy cô và các em học sinh giúp việc học trở nên sâu sắc hơn. Khi học sinh quan tâm đến thầy cô, các em trở nên đồng cảm hơn và bắt đầu chú ý đến cách người đó suy nghĩ, giải thích và giải quyết vấn đề.
Sự đồng cảm không thể hình thành qua màn hình. “Hầu hết mọi người nghĩ rằng đồng cảm là một cảm xúc”, ông Horvath nói. Nhưng thực ra, đó không phải là một cảm xúc mà là điều chỉ xuất hiện khi con người tương tác và dần trở nên đồng điệu với nhau.
Ông Horvath nói: “Một khi bạn đã đồng cảm với ai đó, bạn không còn chỉ học từ họ nữa. Bạn đang suy nghĩ giống như họ”. Học sinh không chỉ tiếp nhận thông tin; các em bắt đầu phản chiếu cách suy luận của thầy cô và cùng nhau kiên trì vượt qua khó khăn.
Trong cuốn sách “Ảo tưởng kỹ thuật số”, ông Horvath viết rằng sự đồng cảm “biến việc giảng dạy thành sự kết nối và đó là điều mà không cỗ máy nào có thể sao chép”. Thầy cô quan trọng bởi vì việc học không chỉ là nhận thức mà còn mang đậm tính nhân văn.
Bản thân cô Cherkin cũng đã trải nghiệm sự thay đổi trong việc giảng dạy của mình khi con cô bắt đầu đi học.
Tờ hướng dẫn ngày đầu tiên vào mẫu giáo của con trai cô bắt đầu bằng câu: “Những nhà công nghệ nhí của chúng ta cần học cách nhấn nút Control-Alt-Delete trên máy tính”, để đăng nhập vào các bài kiểm tra của bang.
Cô Cherkin kể lại: “Thằng bé thậm chí còn chưa biết viết tên mình bằng bút chì. Vậy mà điều đầu tiên chúng ta dạy nó lại là control-alt-delete”. Nhà trường thậm chí còn gửi về nhà một bàn phím giấy kích thước thật để luyện tập.
Nhiều năm sau, khi khu học của con áp dụng hoàn toàn chương trình khoa học lớp 6 dưới dạng kỹ thuật số, cô đã phản đối. “Ở độ tuổi đó, môn khoa học nên là học qua thực hành, chứ không phải ngồi trước một chiếc máy tính”, cô nói.
Với đứa con nhỏ hơn của cô ấy, hậu quả còn thể hiện rõ về mặt thể chất. Chỉ vài tuần sau khi bắt đầu lớp 6 – nơi mỗi học sinh đều được cấp một chiếc máy tính xách tay để dùng cả ngày, con gái cô bắt đầu bị đau đầu hằng ngày. Sau khi khám nhi khoa, con cô phải đeo kính đọc sách và nhận một tờ hướng dẫn tiêu chuẩn về việc nghỉ ngơi khi dùng màn hình.
Cô Cherkin nói: “Người lớn thì có không gian làm việc được thiết kế phù hợp. Còn chúng ta thì đưa cho trẻ một thiết bị và không hướng dẫn gì cả”.
Lần này, cô Cherkin yêu cầu con gái mình không dùng laptop nữa. Sau nhiều tháng trao đổi qua lại, nhà trường đã đồng ý, và “cơn đau đầu biến mất”, cô Cherkin cho biết. Hai bạn cùng lớp cũng làm theo con gái cô trong giờ toán, làm bài kiểm tra trên giấy. “Đó là kiểu ảnh hưởng của bạn bè ở cấp hai mà tôi ủng hộ”, cô nói.
Đối với con trai lớn, cô Cherkin yêu cầu cậu làm bài tập trên giấy. Giáo viên đã đồng ý, nhưng sau đó phải nhập lại câu trả lời của cậu vào hệ thống trực tuyến.
Từ trải nghiệm của mình, cô Cherkin nhận ra rằng các gia đình đặt câu hỏi về sự chuyển đổi sang học tập kỹ thuật số thường có rất ít cơ hội thực sự để phản đối. Hiện nay, cô làm việc như một chuyên gia tư vấn về thời gian dùng màn hình cho gia đình, hướng dẫn cha mẹ cách thiết lập giới hạn và thói quen hợp lý.
Công nghệ đang định hình lại cách “trẻ em của chúng ta suy nghĩ, hành xử và tương tác”, ông Horvath nói.
Vào tháng 1, cả ông Horvath và cô Cherkin đều đã trình bày những lập luận này trước một ủy ban Thượng viện Hoa Kỳ đang xem xét việc dùng công nghệ của trẻ em. Những quan điểm này kể từ đó đã góp phần đẩy mạnh các nỗ lực ở cấp bang nhằm hạn chế việc dùng thiết bị trong lớp học và mạng xã hội.
Ông Horvath nói với các nhà lập pháp rằng các trường học đang bắt đầu định hình lại việc học để phù hợp với thói quen kỹ thuật số của học sinh, thay vì làm điều ngược lại. Ông lấy ví dụ về những thay đổi trong kỳ thi kiểm tra đánh giá học thuật (SAT).
Phần đọc và viết mới đã được thiết kế lại để ngắn hơn và cho học sinh nhiều thời gian hơn cho mỗi câu hỏi, giảm độ dài đoạn văn từ 500–750 từ xuống chỉ còn 25–150 từ, tương đương độ dài của một bài đăng trên mạng xã hội, với mỗi đoạn chỉ có một câu hỏi.
Theo ông, các nhà giáo dục và nhà hoạch định chính sách đang đứng trước lựa chọn: giảm sự phụ thuộc vào công nghệ trong lớp học và quay trở lại các phương pháp đã được chứng minh hiệu quả, không dựa vào công nghệ hoặc tiếp tục điều chỉnh giáo dục để phù hợp với màn hình.
Cô Cherkin cũng đưa ra một quan điểm tương tự nhưng từ một góc nhìn khác. “Bản thân công nghệ không phải vốn dĩ có hại; chính việc sử dụng mặc định, liên tục mới là điều gây rủi ro”, cô nói với các nhà lập pháp.
Khi thiết bị được đưa cho học sinh mà không cân nhắc đến mức độ phát triển phù hợp, chúng có thể lấn át những hoạt động giúp phát triển ngôn ngữ, khả năng tự kiểm soát và kỹ năng xã hội. Cô kêu gọi các nhà lập pháp không nên bị thuyết phục bởi những tuyên bố rằng các ứng dụng giáo dục khác với các nền tảng công nghệ khác. Cô cho rằng mô hình kinh doanh của chúng thực chất là giống nhau.
Các nhà lập pháp đang bắt đầu phản ứng. Những gì ban đầu chỉ là các lệnh cấm điện thoại rải rác nay đã mở rộng. Hàng chục bang hiện yêu cầu để điện thoại ngoài tầm nhìn trong suốt giờ học. Các đề xuất mới còn đi xa hơn, nhắm đến thiết bị cá nhân cho từng học sinh và chương trình học kỹ thuật số. Ở West Virginia và Indiana, các dự luật sẽ hạn chế việc sử dụng laptop và máy tính bảng ở các lớp nhỏ và siết chặt quy định về việc dùng thiết bị trong giờ học.
Tại Vermont, hướng dẫn trên toàn bang khuyến khích các khu học cung cấp lựa chọn học bằng giấy, cho phép cha mẹ yêu cầu tài liệu không kỹ thuật số cho bài tập trên lớp và bài tập về nhà.
Đạo luật khôi phục việc học qua trải nghiệm trực tiếp của bang Missouri đưa ra một cách tiếp cận còn mạnh mẽ hơn. Do nghị sĩ bang Tricia Byrnes đề xuất, đạo luật này giới hạn thời gian dùng màn hình mỗi ngày cho học sinh từ mẫu giáo đến lớp 5 ở mức 45 phút, và yêu cầu 70% bài học của học sinh phải được thực hiện trên giấy, đồng thời khôi phục sách giáo khoa in và các công cụ học tập vật lý trong các lớp tiểu học.
Sau buổi điều trần tại Thượng viện vào tháng 1, cô Cherkin cho biết Byrnes đã liên hệ với cô khi một câu nói trong lời điều trần của cô thu hút sự chú ý của vị nghị sĩ: “Công nghệ giáo dục thực chất chỉ là các tập đoàn công nghệ lớn ngụy trang dưới lớp vỏ giáo dục … Chúng ta không trao cho trẻ mẫu giáo ‘công cụ học tập’ – chúng ta đang cho chúng quyền truy cập vào internet”.
Dự luật của Byrnes vẫn giữ các ngoại lệ cho những học sinh cần công nghệ hỗ trợ, nhưng mục tiêu của nó rất rõ ràng: điều chỉnh lại quá trình phát triển theo hướng đặt đôi tay, cơ thể và sự tập trung của trẻ em trở lại vị trí trung tâm và yêu cầu công nghệ phải thích nghi xoay quanh điều đó.
“Bộ não của trẻ phát triển bằng việc dùng tay, chứ không phải qua bút cảm ứng”, nghị sĩ Byrnes nói trong tuyên bố về đạo luật khôi phục việc học qua trải nghiệm trực tiếp.
“Con người không thực sự thích học qua màn hình”, ông Willingham nói. Ngay cả khi có một con người ở phía bên kia, học sinh vẫn có xu hướng cảm thấy mệt mỏi hơn so với khi học trực tiếp. Đây là một thực tế trở nên không thể bỏ qua trong đại dịch COVID-19.
Đối với cha mẹ và thầy cô, câu hỏi lúc này không còn là liệu màn hình có nên tồn tại trong trường học hay không, mà là chúng đang tạo nên một tuổi thơ như thế nào. Liệu sự ma sát đang bị loại bỏ khỏi lớp học có chính là thứ mà trẻ em cần nhất hay không.
Câu trả lời sẽ không chỉ được viết nên bằng mã code hay chương trình học mà còn nằm trong những quyết định của các nhà giáo dục về việc họ sẵn sàng giữ lại bao nhiêu thử thách và bao nhiêu tương tác trực tiếp trong cuộc sống học tập hằng ngày của trẻ.
Một vụ tấn công bằng dao ngẫu nhiên đã xảy ra trên đường phố Vũ…
Bộ trưởng Chiến tranh Pete Hegseth đã yêu cầu Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ,…
Khi tiếp đón đoàn truyền thông của “Trung tâm Nghiên cứu Đài Loan Toàn cầu”,…
Từ sức khỏe tim mạch và xương khớp đến cân bằng hệ vi sinh đường…
Phần mã bị lộ chủ yếu liên quan đến lớp ứng dụng của Claude Code.
Mô hình này không phải là một giao dịch đơn giản tại một điểm duy…