(Tranh minh họa: Họa sĩ Sỹ Hòa, Báo Bình Phước Online)
Họ Phạm là dòng họ thuộc văn hóa Đông Á, theo tiếng Phạn cổ nghĩa là thủ lĩnh, dịch sang tiếng Hán là “范” nghĩa là khuôn mẫu. Họ Phạm rất phổ biến ở Việt Nam.
Thời nhà Lý, họ Phạm có bà Phạm Thị Ngà là người sinh ra Lý Công Uẩn, sau này trở thành vị Vua khai quốc nhà Lý, hiệu là Lý Thái Tổ.
Triều đại nhà Lý bắt đầu xuất hiện các kỳ thi khoa bảng. Người đỗ khai khoa của tỉnh Vĩnh Phúc là Phạm Công Bình người An Lạc, huyện An Lạc, tỉnh Vĩnh An, thị trấn Sơn Tây (nay là thôn An Lạc, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc). Tuy nhiên những tài liệu ghi chép ở tỉnh Vĩnh Phúc không ghi rõ Phạm Công Bình thi đỗ năm nào. Đền thờ ở thôn An Lạc, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc (Vĩnh Phúc) có bài thơ ghi ông đỗ đầu (khôi nguyên) năm giáp thìn:
Giáp Thìn khoa bảng chiếm khôi nguyên
Long cổn xuất thân đăng tiến sĩ
Ngao đầu trúng tuyển vân ngũ sắc đan trì
Nhạn tháp đề danh lôi nhất thanh ư địa bạch
Đền thờ Quan Trạng có đôi câu đối như sau:
Sơn trấn Vĩnh An, An Lạc địa
Lý triều chinh khánh, Trạng nguyên từ
Bản dịch của Thiều Quang:
Người An Lạc, tỉnh Vĩnh An, trấn Sơn Tây
Trạng Nguyên triều Lý có công lớn được dựng đền thờ
Năm 1917, vua Khải Định có sắc phong cho Trạng Nguyên Phạm Công Bình như sau: “Vĩnh An tỉnh, An Lạc huyện, An Lạc xã trong tiền phụng sự Lý triều Trạng nguyên Phạm Công Bình, quý công tôn thần, hộ quốc tí dân, nẫm trứ linh ứng…”
Cuối thời nhà Lý, họ Phạm có Phạm Kính Ân người làng Đặng Xá (xã Phú Sơn, huyện Hưng Hà, Thái Bình), cháu 3 đời của danh tướng Phạm Cự Lượng, được nhà họ Trần nuôi lớn từ nhỏ, theo Trần Lý dẹp loạn Quách Bốc. Ông là vị tướng thân cận của các thủ lĩnh họ Trần là Trần Lý, Trần Tự Khánh, Trần Thừa. Sau này ông được vua Trần Thái Tông phong làm Thái úy năm 1236.
Ngoài ra, còn có Phạm Ứng Thần và Phạm Ứng Mộng làm quan cho nhà Trần. Phạm Ứng Mộng được vua Trần Thái Tông phong cho làm Hành khiển (tương đương Tể tướng) vào năm 1254.
Nổi tiếng bậc nhất là tướng tài Phạm Ngũ Lão làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, lộ Khoái Châu (nay là huyện Ân Thi, Hưng Yên), được Hưng Đạo Vương gả con gái cho, lập nhiều chiến công trong cuộc chiến đánh bại quân Nguyên. Sau này ông nhiều lần đánh bại Ai Lao giữ yên vùng biên giới phía tây.
Con trai Phạm Ngũ Lão là Phạm Nhữ Dực nhiều lần đánh bại quân Chiêm Thành ở phía Nam, được phong Bình Chiêm Thượng tướng quân tước Dực Nghĩa hầu. Ông cũng là thủy tổ của họ Phạm ở Quảng Nam, Quảng Ngãi. (Xem bài: Hậu duệ Phạm Ngũ Lão nhiều đời chăm lo cho vùng đất Quảng Nam)
Phạm Sư Mạnh là danh sĩ nổi tiếng thời này. Năm 1359, ông giữ chức Hành khiển tả ty lang trung. Năm 1368, ông thăng chức Tri khu mật viện sự. Thời vua Dụ Tông, nhà Nguyên sai sứ là Vương Sĩ Hành đến chất vấn về cột đồng Mã Viện năm xưa, vua phải nhờ Phạm Sư Mạnh đến đối đáp. Nhờ thông kinh sử, lại giỏi đối đáp nên ông biện đáp thành công khiến sứ nhà Nguyên không còn sách nhiễu được nữa.
Bên cạnh đó thời gian này cũng có người họ Chúc đổi sang họ Phạm. Họ Chúc Làng Kính Chủ, huyện Giáp Sơn (nay là thôn Dương Nham, xã Phạm Mệnh, Kinh Môn, Hải Dương) có anh em Chúc Cố và Chúc Kiên hay chữ, thi đỗ Thái học sinh (tức tiến sĩ) làm quan cho nhà Trần. Vua Trần Nhân Tông cho rằng họ Chúc không phải họ lớn nên đổi tên cho 2 anh em sang họ Phạm là Phạm Mại và Phạm Ngộ. Làm quan trụ cột cho nhà Trần, Phạm Mại nổi tiếng vì can gián Vua, còn Phạm Ngộ có tiếng là người hành sự rất cẩn trọng.
Thời nhà Lê, họ Phạm có 2 công thần khai quốc, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn là Phạm Văn Xảo và Phạm Vấn. Sau khi đánh bại quân Minh, Lê Lợi lên ngôi, ban thưởng cho các công thần gồm 9 bậc, bậc cao nhất Huyện Thượng hầu có 3 người là Phạm Vấn, Phạm Văn xảo, Lê Sát. Như vậy 2 ông đều là công thần được đánh giá cao nhất.
Phạm Văn Xảo được phong Thái Bảo rồi Thái Phó, Phạm Vấn được phong là Đại tướng quân Bình chương quân quốc trọng sự.
Thời kỳ này, khoa thi năm 1445, hậu duệ 5 đời của Phạm Ngũ Lão là Phạm Nhữ Tăng đỗ Đệ nhị Điện Hoằng Từ khoa, được phong làm Thái Bảo kiêm Tri quân Dân chính sự vụ. Đến năm 1467, ông được ban sắc Phụ chánh Tham tướng phủ, Quảng Dương hầu Bình Chương quân quốc trọng sự. Phạm Nhữ Tăng là một trong những người đưa vua Lê Thánh Tông lên ngôi, mở ra thời kỳ thịnh trị cho Đại Việt.
Năm 1470, vua Chiêm Trà Toàn đưa 10 vạn quân tiến đánh Đại Việt. Vua Lê Thánh Tông điểm binh tiến đánh Chiêm Thành, Phạm Nhữ Tăng được phong làm Trung quân Đô thống lãnh ấn Tiên phong thượng, đại kỳ thêu bốn chữ “Bình Chiêm hưng quốc”. Sau khi đánh bại Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tông cho sáp nhập vùng đất gồm Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay vào Đại Việt. Phạm Nhữ Tăng được giao cai quản vùng đất mới này, giúp dân Việt di cư đến đây, khai phá vùng đất mới, an cư lạc nghiệp.
Vua Lê Thánh Tông có lập nhóm Tao Đàn nhị thập bát tú gồn 28 người giỏi văn thơ nhất thời bấy giờ, trong đó họ Phạm đóng góp 4 người là Phạm Cổng Trực, Phạm Trí Khiêm, Phạm Đạo Phú và Phạm Nhu Huệ.
Trong số 1758 vị đỗ đại khoa thời nhà Lê thì họ Phạm có 122 người chiếm tỷ lệ 7%, trong đó nổi bật có Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ.
(Còn nữa)
Trần Hưng
Xem thêm:
Mời xem video:
Bà Rebecca Grant, phó chủ tịch Viện Lexington, một tổ chức nghiên cứu của Mỹ,…
Theo một báo cáo trên tờ Washington Post hôm thứ Tư (14/1), các đặc vụ…
So sánh “hành động quân sự nhằm vào Khamenei” với “bắt sống Maduro” cho thấy…
Nhóm làm việc cấp cao đã được thành lập với Hoa Kỳ để tiếp tục…
Theo báo Bangkok Post, vụ tai nạn cho đến nay đã khiến ít nhất 32…