Họ Phạm trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc (P3)
- Trần Hưng
- •
Họ Phạm là dòng họ thuộc văn hóa Đông Á, theo tiếng Phạn cổ nghĩa là thủ lĩnh, dịch sang tiếng Hán là “范” nghĩa là khuôn mẫu. Họ Phạm rất phổ biến ở Việt Nam.
- Tiếp theo phần 2
Thời nhà Mạc
Thời nhà Mạc, họ Phạm có 2 người đỗ Trạng Nguyên đến từ Hải Dương.
Người đầu tiên là Phạm Trấn, người làng Lam Kiều, huyện Gia Phúc, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay là thôn Lam Cầu, xã Phạm Trấn, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương), đỗ Trạng nguyên khoa thi năm 1556 thời vua Mạc Tuyên Tông. Khi nhà Lê chiếm được Thăng Long, ông trung thành với nhà Mạc nên cự tuyệt làm quan cho nhà Lê và bị hại.
Trạng nguyên thứ hai là Phạm Đăng Quyết người làng Xác Khê, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, Hải Dương. Ông đỗ Trạng nguyên khoa thi năm 1562 thời vua Mạc Mậu Hợp, làm quan đến Tả thị lang kiêm Đông các Đại học sĩ, tước Xác Khê Hầu.
Thời Lê Trung Hưng
Thời Lê Trung Hưng, họ Phạm có nhiều người đỗ đạt làm quan, tiêu biểu là Phạm Công Trứ đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1628, làm quan suốt 50 năm, giữ các chức vụ trọng yếu trong đó có Tể tướng đầu triều.
Phạm Công Trứ đưa ra những cải cách làm thay đổi hẳn bộ mặt Đàng Ngoài. Ông cho ban hành “Lê triều giáo hóa điều luật”, dùng Nho gia chấn chỉnh từ triều đình cho đến địa phương, từ quan lớn cho đến muôn dân trăm họ, giúp Đàng Ngoài thời kỳ này ổn định.
Đánh giá về ông, Việt Nam sử lược ghi nhận rằng: “Về thời Trịnh Tạc, Trịnh Căn, Trịnh Cương làm chúa, thì ông nào cũng hết lòng lo việc trị dân, và lại nhờ có những người tôi giỏi như Phạm Công Trứ, Nguyễn Công Hãng, v.v… đều hết sức giúp đỡ, cho nên sửa sang được nhiều việc, nước được yên trị.”
Sử gia Phan Huy Chú đánh giá Phạm Công Trứ như sau: “Ông là người thâm trầm giản dị, chắc chắn… đặt ra phép tắc, sửa soạn kỷ cương, đè nén những kẻ cậy thế nhũng lạm, yêu chuộng những người có phong cách tiết tháo, được đời khen là bậc tể tướng tốt. Ông lại ham đọc sách, đến già vẫn không mỏi. Có đức tốt, có danh vọng, công lao sự nghiệp là bậc hiền tể thứ nhất sau đời Trung hưng”.
Thời nhà Nguyễn
Khi các chúa Nguyễn đưa dân khai phá vùng đất phương nam, có nhà Nho uy tín là Phạm Đăng Xương ở Phú Xuân, huyện Hương Trà (Thừa Thiên Huế ngày nay) đưa cả gia đình đến vùng đất Gò Công.
Tại đây Phạm Đăng Xương chiêu mộ dân chúng khai khẩn đất đai, mở mang sản xuất khiến nơi đây dần thịnh vượng. Đồng thơi ông mở lớp dạy học giúp tạo ra thế hệ trí thức đầu tiên. Người dân quanh vùng kính trọng gọi ông là “Kiến Hòa tiên sinh”.
Đến thời nhà Nguyễn thì họ Phạm ở Gò Công có Phạm Đăng Hưng làm Lễ bộ Thượng thư. Ông yêu thương dân chúng, đi đến đâu cũng giúp đỡ và khuyến khích mọi người làm nông. Mỗi lần từ quê nhà ra Huế, ông lại mang theo lúa giống rồi chỉ bảo mọi người cách gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch lúa.
Phạm Đăng Hưng cũng trình vua Gia Long cho xây dựng các kho lúa ở các xã, phòng khi mất mùa thì có sẵn lúa trong kho, dân chúng sẽ không phải chịu đói.
Ông đi đến vùng nào thấy dân khó khăn thì đều giúp đỡ, rồi cấp lúa giống cho dân. Thấy nơi nào có cường hào ức hiếp dân chúng thì ông đều thẳng tay trừng trị.
Phạm Đăng Hưng có người con gái là Phạm Thị Hằng. Nhận thấy Phạm Thị Hằng đoan trang đức độ, Thuận Thiên Cao hoàng hậu liền tác thành cho cháu nội của mình là Nguyễn Phúc Miên Tông .
Sau này Nguyễn Phúc Miên Tông lên ngôi vua, hiệu là Thiệu Trị. Nhờ có lễ nghĩa, Phạm Thị Hằng được phong làm Quý phi. Sau khi vua Thiệu Trị mất, con trai của Phạm Thị Hằng lên ngôi Vua hiệu là Tự Đức, bà được phong là Hoàng Thái hậu, lấy hiệu là Từ Dụ.
Trở thành Hoàng Thái hậu nhưng bà sống rất khiêm cung và đức độ, thường chỉ dạy vua Tự Đức. Sách “Kể chuyện các đời vua nhà Nguyễn” chép rằng:
“Sống trong lầu vàng điện ngọc nhưng bà Từ Dụ rất cần kiệm, thấy vua Tự Đức bày biện những đồ vật quý giá trong cung Diên Thọ cho mình, bà không bằng lòng bảo vua: Những thứ này đều do trăm họ dâng nộp, mình không làm đặng sự chi lợi ích cho nước thì thôi, sao dám lạm dụng? Vua Tự Đức phải đem cất hết những đồ đạc quý giá ấy vào kho.”
Thời nhà Nguyễn, họ Phạm có nhiều vị đại thần trụ cột cho Triều đình như: Phạm Thế Hiển, Hoàng Giáp Tam Đăng Phạm Đăng Nghị, Thượng thư Phạm Phú Thứ , Phạm Hữu Nghi, Phạm Quý Thích.
Họ Phạm cũng có các học giả như: Phạm Đình Hổ – tác giả của “Vũ Trung tùy bút” và “Tang thương ngẫu lục”, Phạm Đình Toái – tác giả của “Đại Nam quốc sử diễn ca”.
Khi nhà Nguyễn lâm nguy trước sự bức bách của quân Pháp, một nhân vật khác là Phạm Thận Duật đã phò tá vua Hàm Nghi chạy đến Sơn Phòng (Quảng Trị) ra chiếu Cần Vương chống Pháp.
Phạm Thận Duật người xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, xuất thân trong gia đình có truyền thống Nho học. Năm 1850, ông 25 tuổi thi đỗ cử nhân từ kỳ thi Hương. Do nhà nghèo nên ông khó có điều kiện học tiếp, bèn nhận chức Giáo thụ ở Sơn Tây. Nhờ làm tốt công việc mà ông thăng lên nhiều vị trí khác nhau.
Năm 1878, ông được sung vào Viện Cơ mật kiêm việc dạy học cho hai hoàng tử con nuôi vua Tự Đức. Sau đó ông vào Quốc Sử quán duyệt và in cuốn “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”.
Khi Kinh thành Huế thất thủ, ông hộ tống vua Hàm Nghi còn nhỏ chạy đến Tân Sở, khởi thảo chiếu Cần Vương, phát động các sĩ phu khởi nghĩa chống Pháp.
Khi bị bắt, ông bị ép làm quan cho Triều đình Huế vốn đã hàng Pháp, nhưng ông đã kiên quyết từ chối. Người Pháp giam ông ở nhà tù Côn Đảo, sau đó đày ông đến Tahiti. Ông bị mất trên đường đi.
Trong suốt chiều dài lịch sử khoa bảng, họ Phạm có 218 người đỗ đại khoa chiếm tỷ lệ 7,5%. Cả nước có 144 người đỗ Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) thì họ Phạm có 13 người (4 trạng nguyên, 5 bảng nhãn, 4 thám hoa). Cả nước có 48 Trạng nguyên, trong đó họ Phạm có 4 người chiếm tỷ lệ 8,3%.
(Hết)
Trần Hưng
Xem thêm:
Mời xem video:
Từ khóa dòng họ Việt Nam






























