Chính quyền cộng sản ở Bắc Kinh từ lâu vẫn tìm cách chinh phục Đài Loan, hòn đảo dân chủ nơi chính phủ Quốc dân Đảng rút về sau khi những người cách mạng của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) chiếm Đại Lục năm 1949. Chiến dịch nhắm vào Đài Loan của ĐCSTQ tuy đạt được một số mục đích, nhưng về lâu dài lại khiến người dân Trung Quốc phải trả giá đắt về kinh tế và chính trị.

Để kỷ niệm Quốc khánh Đài Loan ngày 10/10, Chính quyền thành phố Đài Trung đã tổ chức lễ thượng cờ lúc 8h sáng, thu hút hơn 20.000 người tham dự. (Ảnh: Chính quyền thành phố Đài Trung)

Bắc Kinh đang phung phí tiền của và vốn liếng chính trị vào một cuộc chiến chống dân chủ chắc chắn sẽ thất bại.

Tiến sĩ Dư Mậu Xuân (Miles Yu), chuyên gia về Trung Quốc, từng là cố vấn chính sách Trung Quốc của Bộ Ngoại giao Mỹ trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Donald Trump, đã nói trúng vấn đề: yêu sách của ĐCSTQ đối với Đài Loan là một “nỗi ám ảnh”. Theo ông, nỗi ám ảnh này bắt nguồn từ 4 điều. Thứ nhất là “hệ tư tưởng giải phóng” sai lầm, tức chống chủ nghĩa tư bản. Thứ hai là “ảo tưởng rằng Trung Quốc mạnh hơn Mỹ và các đồng minh”. Thứ ba là nỗi lo thành công của Đài Loan sẽ làm lung lay sự cai trị của ĐCSTQ. Thứ tư là nhu cầu dùng Đài Loan làm công cụ khích lệ quân đội ĐCSTQ và cho các nhà ngoại giao Trung Quốc một cách để lái câu chuyện khỏi những vấn đề như Triều Tiên hay Ukraine.

Có thể thêm một điểm nữa. Bắc Kinh biết rõ sức mạnh kinh tế của mình không đủ để giải quyết các vấn đề quốc tế của những nước này, nhưng lại muốn phá các giải pháp của Mỹ, rồi lợi dụng những vấn đề đó để đạt mục đích riêng ở Đài Loan và nơi khác. ĐCSTQ có thể hợp tác vì các mục tiêu hòa bình và an ninh của cộng đồng quốc tế, nhưng với điều kiện phải đổi lại được những lợi ích phục vụ mục tiêu chính của mình. Nếu không, đảng này sẽ đổ thêm dầu vào xung đột bằng cách giao dịch với cả hai bên.

Trong lịch sử, ĐCSTQ chưa bao giờ thực sự kiểm soát Đài Loan, vậy mà vẫn tuyên bố có quyền “tái thống nhất” hòn đảo. Thực tế, hai bờ eo biển chưa từng thực sự thống nhất, vậy làm sao ĐCSTQ “tái thống nhất” Đài Loan được?

Chấp nhận cách làm phi lý đến thế của ĐCSTQ trong vấn đề Đài Loan là một phép thử khắc nghiệt đối với những người ủng hộ đảng này. Những người khắp thế giới mong kiếm lời từ thương mại và đầu tư với Trung Quốc thường không phản bác những lời dối trá làm nền cho “phong trào thống nhất” này. Muốn nhận ân huệ từ “hoàng đế”, xưa nay người ta đều phải khen “bộ quần áo mới” của ngài vừa tinh xảo vừa che kín thân.

Thuộc hạ của các nhà độc tài ĐCSTQ, từ Mao Trạch Đông (1893-1976), lãnh đạo ĐCSTQ thế hệ đầu, đến lãnh đạo hiện nay là Tập Cận Bình, cũng chưa bao giờ đặt câu hỏi về những khoản chuẩn bị quân sự khổng lồ để xâm lược Đài Loan. Đám người chỉ biết vâng dạ quanh các nhà độc tài này xưa nay luôn đồng tình rằng chinh phục “thứ không thể chinh phục” là cần thiết và hợp lý, nếu không sẽ bị đuổi ra khỏi cửa. Điều này thể hiện rõ trong chính sách tập thể hóa nông nghiệp dẫn đến nạn đói lớn toàn quốc năm 1959, và cũng đúng với lối quân sự hóa trong cách đối xử với Đài Loan hiện nay.

Không nghi ngờ gì, người dân Trung Quốc bình thường đang phải trả giá cho điều này. Chi tiêu quân sự và trả lãi nợ chiếm 61% ngân sách chính quyền trung ương (không tính khoản chuyển giao cho các tỉnh), riêng chi quân sự chiếm 42%. Phần lớn khoản chi này lẽ ra đã có thể tránh được nếu Bắc Kinh thôi đe dọa lãnh thổ và vùng biển của Đài Loan cũng như các nước láng giềng khác của Trung Quốc, gồm Nhật Bản, Ấn Độ, Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Indonesia. Trung Quốc cùng lúc gây đối đầu trên nhiều mặt trận. Điều đó vừa là sai lầm về chiến lược quân sự, vừa kìm hãm tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Nhiều năm qua, các yêu sách lãnh thổ của ĐCSTQ đã gây ra một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực. Cuộc chạy đua này gây tốn kém cho người nộp thuế Trung Quốc, chưa kể nhiều nước đang phát triển ở châu Á vốn e sợ một cường quốc khu vực lớn hơn mình nhiều lần. Chi tiêu quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương đang ăn dần nguồn vốn cho phát triển kinh tế khu vực, và cũng đập tan hoàn toàn luận điệu rằng ĐCSTQ ủng hộ phát triển khu vực.

Thực tế, chủ nghĩa quân phiệt của ĐCSTQ đã cản trở tăng trưởng kinh tế, nhất là ở những vùng xa xôi mà đảng này nói là quan tâm nhất. ĐCSTQ tự nhận lên tiếng thay cho các nước đang phát triển trên thế giới, cũng như tự nhận lên tiếng thay cho người dân Trung Quốc. Rõ ràng chưa từng có quốc gia nào qua bầu cử dân chủ mà chọn ĐCSTQ làm người phát ngôn cho mình, huống hồ là để đảng này đại diện cho người nghèo ở châu Á. ĐCSTQ áp đặt ý chí của mình lên gần như tất cả những người mà đảng này tự nhận là đại diện, và trục lợi từ đó.

Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, cần kích thích tài khóa và thêm vốn nước ngoài. Tuy nhiên, chi tiêu quân sự của chính quyền ĐCSTQ và khoản trả nợ ngày càng tăng (hiện đã chiếm 19% ngân sách trung ương) đã thu hẹp dư địa tài khóa của Bắc Kinh, khiến giới đầu tư rất thất vọng. Chính quyền ĐCSTQ cũng vì thế mà chịu thiệt hại lớn về ngoại giao và thương mại.

Bắc Kinh từ chối thiết lập quan hệ ngoại giao và giao thương bình thường với những nước công nhận chính phủ dân chủ có chủ quyền của Đài Loan. Đài Bắc không chỉ cho thấy cách xây dựng một nền dân chủ thị trường của người Hoa, mà còn cho thấy cách chuyển từ chế độ chuyên chế sang dân chủ. Vì vậy, Đài Loan là một trong những hy vọng lớn nhất để Trung Quốc Đại Lục đi tới dân chủ thị trường.

Đài Loan đã làm được điều đó trong thập niên 1980 và 1990. Singapore, nơi có đông người Hoa, cũng cho Trung Quốc thấy một hình mẫu thành công của thị trường tự do, và có thể làm đối tác thân thiện, đối tác chiến lược của Mỹ, kể cả cho phép sử dụng cơ sở hải quân và huấn luyện chung. Mức độ dân chủ của Singapore không cao, nhưng chắc chắn cao hơn chính quyền ĐCSTQ.

Như tiến sĩ Dư Mậu Xuân đã chỉ ra, ĐCSTQ nhiều khả năng sợ thành công của Đài Loan và Singapore trong xây dựng dân chủ và hợp tác với Mỹ, vì những thành công đó làm nổi bật thất bại của ĐCSTQ khi áp đặt chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc. Ngay cả khi tính theo sức mua tương đương (cách tính này giúp con số của Trung Quốc khá hơn, vì chi phí sinh hoạt ở đây thấp hơn), GDP bình quân đầu người của Trung Quốc cũng chỉ là 31.790 USD. Con số này của Đài Loan là 103.740 USD, của Singapore là 176.930 USD (đứng cùng nhóm với Liechtenstein, Luxembourg và Ireland trên bảng xếp hạng toàn cầu). Nếu Đài Loan và Singapore đưa được cách làm của họ tới Bắc Kinh, chứ không phải ngược lại, thì người dân Trung Quốc, và cả thế giới, đều sẽ sống tốt hơn và ít bị đe dọa hơn.

Thử hình dung, nếu Bắc Kinh thôn tính Đài Loan, nhiều khả năng họ cũng sẽ muốn thôn tính Singapore. Người Hoa chiếm đa số ở Singapore, mà những nhà độc tài như Tập Cận Bình thường muốn “đoàn kết” những dân tộc “giống” mình, bất kể ngôn ngữ. Ở Singapore, ngôn ngữ dùng trong gia đình phổ biến nhất là tiếng Anh. Với ĐCSTQ, điều đó không quan trọng, vì đảng này vẫn luôn đàn áp những ngôn ngữ “chia rẽ” Trung Quốc như tiếng Tạng và tiếng Duy Ngô Nhĩ.

Đài Loan và Singapore, cùng bạn bè và đối tác của họ khắp thế giới, nên nỗ lực gấp bội để thúc đẩy Trung Quốc dân chủ hóa và thị trường hóa, trước khi ĐCSTQ thôn tính những hình mẫu dân chủ và kinh tế thị trường tự do của người Hoa này.

Các nhà ngoại giao và đại diện thương mại của Bắc Kinh cũng nhập cuộc “chinh phạt Đài Loan” này. Họ gây sức ép với hơn chục nước trên thế giới vẫn còn công nhận Đài Loan, phung phí vô ích rất nhiều vốn liếng chính trị của Trung Quốc. Gần đây, ĐCSTQ đã trừng phạt hai bộ trưởng ủng hộ nền dân chủ Đài Loan, một của Paraguay ở Nam Mỹ và một của Belize ở Trung Mỹ. ĐCSTQ cũng miễn thuế quan cho 53 trong số 54 nước châu Phi, tức những nước đã từ chối công nhận Đài Bắc để lập quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh.

Vốn liếng chính trị mà ĐCSTQ dồn vào vấn đề Đài Loan lẽ ra có thể dùng để mang lại lợi ích tốt hơn cho người dân Trung Quốc, nhưng họ dường như không bận tâm. Họ quan tâm đến đường biên trên bản đồ hơn là phúc lợi của người dân nước mình và người dân Đài Loan.

Mỹ phản ứng một cách dè dặt, chỉ trích Bắc Kinh can thiệp vào quyết định có chủ quyền của các nước khác trong việc công nhận Đài Loan. Cách làm này dường như không hiệu quả, khi số nước công nhận Đài Loan ngày càng ít. Bắc Kinh thậm chí còn trừng phạt hàng chục quan chức Mỹ, chẳng hạn cựu Ngoại trưởng Mike Pompeo năm 2021 và Chủ tịch Hạ viện khi đó là bà Nancy Pelosi năm 2022.

Tốt nhất, Washington nên theo chính sách đối với Trung Quốc kiểu Reagan, dùng ánh sáng dân chủ soi rọi chủ nghĩa cộng sản cùng con đường đầy tai họa của chủ nghĩa này. Nếu các nền dân chủ hành động riêng lẻ với Trung Quốc, Bắc Kinh có thể trừng phạt từng nước một. Đến nay, ĐCSTQ đã dùng cách này để thu hẹp thành công số nước công nhận Đài Loan xuống chỉ còn vài nước nhỏ. Bắc Kinh sẽ khó hơn nhiều nếu phải trừng phạt tất cả các nước cùng lúc, nhất là khi Mỹ đi đầu.

Vì vậy, mọi nền dân chủ nên có biện pháp cứng rắn hơn để đối phó ĐCSTQ, kể cả hành động đơn lẻ, từng bước khi không thể hành động chung. Mỗi khi chính quyền ĐCSTQ trừng phạt quan chức của một nền dân chủ vì ủng hộ Đài Loan dân chủ, chính phủ các nền dân chủ nên đáp lại bằng biện pháp tích cực, chẳng hạn trao tặng danh hiệu quốc gia hay gửi lời mời chính thức. Mọi quốc gia, nhất là những nước lập quốc trên giá trị dân chủ, nên theo dõi sát những tín hiệu như vậy mà các nước phát đi cho nhau, và cuối cùng đồng loạt công nhận vị thế ngoại giao của Đài Loan. Nước nào không làm được điều đó thì nên chịu mức thuế quan cao hơn do các nước khác áp.

Dù ĐCSTQ dụ các nước vì lợi ích riêng mà công nhận Bắc Kinh, không công nhận Đài Bắc, việc cùng nhau công nhận Đài Loan vẫn phù hợp với lợi ích tổng thể của các nước này. Lý thuyết trò chơi gọi đây là “thế lưỡng nan của người tù” (prisoner’s dilemma) dạng lặp lại, và lời giải là tăng cường hợp tác từng bước. Thế lưỡng nan của người tù mô tả xung đột giữa hợp tác và phản bội mà các cá nhân có thể gặp trong một tình huống trò chơi: lựa chọn tốt nhất cho cá nhân không phải là lựa chọn tốt nhất cho tập thể. Nói cách khác, khi phải chọn trong thế khó, các bên thường nghiêng về cách tương đối có lợi cho mình nhưng không mang lại lợi ích lớn nhất cho tập thể.

An ninh quốc gia của các nền dân chủ rốt cuộc phụ thuộc vào lập trường thống nhất và cứng rắn của họ đối với ĐCSTQ.

Bảo vệ Đài Loan trước sự xâm lược của ĐCSTQ không chỉ vì một lý tưởng trừu tượng nào đó về dân chủ và nhân quyền (dù điều này tất nhiên quan trọng), mà còn liên quan đến lợi ích an ninh quốc gia lâu dài của Mỹ và các đồng minh. Nếu để ĐCSTQ chiếm Đài Loan, chẳng hạn bằng cách không tốn một viên đạn như ở Hồng Kông, đảng này sẽ kiểm soát thêm dân số, tiền bạc, công nghệ và nhiều thứ khác. Chính quyền ĐCSTQ có thể dùng quyền lực ngày càng lớn đó để đe dọa mục tiêu tiếp theo.

ĐCSTQ có thể bành trướng một mạch tới Nhật Bản, đảo Guam, đảo Diego Garcia ở Ấn Độ Dương, quần đảo Azores ở Bắc Đại Tây Dương… Khi đó, thế giới sẽ kém an toàn hơn, kém tự do hơn, và sức mạnh quân sự của Trung Quốc sẽ từng bước áp sát bờ biển Mỹ. Muốn ngăn mối đe dọa này, cần một nước Mỹ mạnh hơn và một khối đồng minh phương Tây đoàn kết hơn.

Ông Anders Corr nhận bằng cử nhân và thạc sĩ khoa học chính trị tại Đại học Yale năm 2001, bằng tiến sĩ ngành quản lý nhà nước tại Đại học Harvard năm 2008. Ông là chủ tịch công ty Corr Analytics Inc., đơn vị phát hành tạp chí Journal of Political Risk. Lĩnh vực nghiên cứu của ông trải rộng ở Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á. Các sách mới nhất của ông gồm “Sự tập trung quyền lực: Thể chế hóa, đẳng cấp và chủ nghĩa bá quyền” (2021) và “Các cường quốc, đại chiến lược: Ván cờ mới ở Biển Đông” (2018).

Theo Anders Corr / Epoch Times

(Bài viết thể hiện quan điểm riêng của cá nhân tác giả.)