Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các nhà băng hạ lãi suất tiền gửi từ 6 tháng trở lên ít nhất 0,5 điểm phần trăm mỗi năm, đồng thời kiểm soát chặt tín dụng và bảo đảm an toàn hoạt động. 

• Nhiều ngân hàng giảm lãi suất sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước

• Lãi suất vay 13%-15%/năm, áp lực gia tăng với người mua nhà

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các nhà băng hạ lãi suất tiền gửi từ 6 tháng trở lên ít nhất 0,5 điểm phần trăm mỗi năm, đồng thời kiểm soát chặt tín dụng và bảo đảm an toàn hoạt động. (Ảnh: AI)

Ngày 18/10/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành văn bản về điều hành hoạt động của các tổ chức tín dụng, yêu cầu các ngân hàng thực hiện các giải pháp giảm mặt bằng lãi suất, bảo đảm tăng trưởng tín dụng an toàn và hướng nguồn vốn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Yêu cầu giảm lãi suất huy động ít nhất 0,5 điểm phần trăm

Theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng cần tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi nhuận và thực hiện các giải pháp để hạ mặt bằng lãi suất. Trước mắt, lãi suất tiền gửi tiết kiệm niêm yết đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên phải giảm ít nhất 0,5 điểm phần trăm mỗi năm.

Cơ quan quản lý đồng thời yêu cầu các ngân hàng không chạy đua tăng lãi suất huy động hoặc cạnh tranh thiếu lành mạnh gây bất ổn thị trường tiền tệ.

Ở chiều cho vay, các tổ chức tín dụng được yêu cầu giảm lãi suất 1,5-2 điểm phần trăm mỗi năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Việc giảm lãi suất cần gắn với tiết giảm chi phí hoạt động, bảo đảm nguồn vốn phục vụ nền kinh tế với mức chi phí phù hợp hơn.

Yêu cầu điều chỉnh được đưa ra trong bối cảnh lãi suất tiền gửi tại nhiều ngân hàng duy trì ở mức cao. Từ cuối tháng 4/2026, mức lãi suất niêm yết cao nhất trên thị trường, không tính các khoản tiền gửi lớn hoặc khách hàng VIP, đã tăng lên khoảng 7,6-7,8% mỗi năm.

Mức lãi suất ưu đãi thực tế tại một số ngân hàng dao động từ 8,5% đến 9,5% mỗi năm. Một số chương trình không yêu cầu số tiền gửi tối thiểu, trong khi những chương trình khác áp dụng mức tiền gửi khoảng 100-200 triệu đồng.

Theo Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng không tuân thủ yêu cầu giảm lãi suất có thể bị xem xét lại hạn mức tăng trưởng tín dụng còn lại trong năm 2026. Cơ quan quản lý cũng có thể giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thấp hơn trong năm 2027 hoặc yêu cầu áp dụng tỷ lệ an toàn cao hơn.

Ưu tiên vốn cho sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng

Bên cạnh việc giảm lãi suất, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng hướng nguồn vốn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng kinh tế.

Nguồn vốn cần được ưu tiên cho các công trình, dự án trọng điểm có tính khả thi, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Những lĩnh vực được khuyến khích gồm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, giáo dục và đào tạo, công nghiệp văn hóa.

Các ngân hàng cũng được khuyến khích tăng cường hợp vốn để cấp tín dụng cho những dự án lớn. Tuy nhiên, việc mở rộng cho vay không được đi kèm với hạ chuẩn điều kiện tín dụng hoặc giảm chất lượng thẩm định nhằm tăng quy mô dư nợ.

Cơ quan quản lý yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt tín dụng đối với những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, khách hàng có dư nợ lớn và các nhóm khách hàng có liên quan. Diễn biến thị trường bất động sản, tình hình thanh khoản, lượng dự án tồn kho và hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp cũng cần được theo dõi để nhận diện nguy cơ.

Siết kiểm soát dòng tiền và nguy cơ nợ xấu

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng bảo đảm cân đối giữa huy động và sử dụng vốn, thường xuyên rà soát cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền và kỳ hạn. Các ngân hàng cần đa dạng hóa kênh huy động, kiểm soát rủi ro thanh khoản và hạn chế tình trạng mất cân đối kỳ hạn.

Việc sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn phải được kiểm soát chặt chẽ. Các ngân hàng cũng cần tăng tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn để bảo đảm an toàn trong hoạt động.

Đối với những khách hàng có mối liên hệ với nhau, ngân hàng phải chú ý các trường hợp có chung người quản lý, sở hữu trên 5% vốn điều lệ, sử dụng chung tài sản bảo đảm, tập trung vốn vào cùng một dự án hoặc có chung nguồn trả nợ. Những mối liên hệ này cần được nhận diện để đánh giá mức độ tập trung tín dụng và nguy cơ phát sinh rủi ro.

Ngân hàng Nhà nước nghiêm cấm việc lập hồ sơ tín dụng nhằm rút vốn sử dụng sai mục đích, lách giới hạn cấp tín dụng hoặc né tránh việc kiểm soát dòng tiền. Hoạt động cho vay để góp vốn, mua cổ phần chưa niêm yết, đầu tư vào dự án chưa đủ điều kiện kinh doanh hoặc bù đắp tài chính phải đáp ứng các điều kiện áp dụng.

Yêu cầu phản ánh đúng chất lượng tín dụng

Các tổ chức tín dụng phải tăng cường thẩm định khoản vay, định giá tài sản bảo đảm sát giá trị thị trường và kiểm soát tình trạng nâng khống giá trị tài sản. Đồng thời, ngân hàng cần theo dõi các khoản nợ nhóm 2, nợ xấu và những khoản vay có nguy cơ chuyển thành nợ xấu.

Cơ quan quản lý yêu cầu các ngân hàng thực hiện đầy đủ việc phân loại nợ và trích lập dự phòng, không che giấu nợ xấu hoặc chậm ghi nhận rủi ro. Việc thu hồi nợ, nâng tỷ lệ bao phủ nợ xấu và kiểm soát lãi dự thu cũng cần được chú trọng.

Ngoài ra, các ngân hàng phải tăng cường kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro, đặc biệt trong hoạt động cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng và giao dịch với cổ đông cùng những người có liên quan. Việc chia cổ tức và phân phối lợi nhuận phải phản ánh đúng thực chất hoạt động của tổ chức tín dụng.

Người đứng đầu các ngân hàng chịu trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước, rà soát những tồn tại và bảo đảm hoạt động an toàn, hiệu quả. Đối với các đơn vị không tuân thủ yêu cầu về lãi suất hoặc có hành vi cạnh tranh thiếu lành mạnh gây bất ổn thị trường, cơ quan quản lý có thể xem xét điều chỉnh hạn mức tín dụng trong thời gian còn lại của năm 2026 và giao chỉ tiêu thấp hơn trong năm 2027.

Minh Long