Cỏ dại và sâu bệnh từ lâu đã là những vấn đề quen thuộc trong sản xuất nông nghiệp, đòi hỏi người nông dân phải thường xuyên tìm cách kiểm soát. Sự xuất hiện của thuốc bảo vệ thực vật đã tạo ra một giải pháp nhanh chóng và hiệu quả, có thể giúp đồng ruộng sạch cỏ, giảm sâu bệnh chỉ sau một lần phun. Nhưng đằng sau sự tiện lợi ấy là một bài toán không dễ giải: những hóa chất đủ mạnh để tác động lên cỏ dại và sâu bệnh cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Và đó chính là thế tiến thoái lưỡng nan. 

(Ảnh: Shutterstock)

Ông Larry Steckel vẫn nhớ những mùa hè oi ả thời niên thiếu, khi phải vật lộn với đám cỏ dại mọc chen trong ruộng đậu tương.

Ông kể với tờ The Epoch Times: “Tôi lớn lên ở một nông trại, nơi ké đầu ngựa hoành hành khủng khiếp trong ruộng đậu tương, và hai anh em tôi phải ra chặt chúng”.

Hai anh em làm quần quật cả ngày dưới nắng, nhưng rốt cuộc vẫn có cảm giác như một cuộc chiến cầm chắc phần thua. Hơn 50 năm sau, ông Steckel vẫn kinh ngạc trước sức sống dai dẳng của cỏ dại và nỗi vất vả của nông dân khi đối phó với chúng. Rồi thuốc bảo vệ thực vật xuất hiện, nhóm hóa chất kỳ diệu có thể quét sạch cỏ dại chỉ bằng một lượt phun.

Vấn đề là những hóa chất diệt được cỏ cũng có thể tác động đến sức khỏe con người. Và đó chính là thế tiến thoái lưỡng nan.

Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) hồi tháng 6 năm nay đã phê duyệt bốn loại thuốc bảo vệ thực vật mới, và các phê duyệt này lập tức làm dấy lên lo ngại về sức khỏe cộng đồng.

Thuốc diệt cỏ hiệu quả cũng là chất độc hiệu quả

Ba trong bốn hoạt chất được duyệt nhắm vào cỏ dại là trifludimoxazin, epyrifenacil và diflufenican.

Cả ba đều mang cấu trúc hoá học khiến chúng được xếp vào nhóm hợp chất per- và polyfluoroalkyl (PFAS), thường được gọi là hóa chất vĩnh cửu.

Ông Varun Subramaniam, chuyên viên phân tích khoa học tại tổ chức Environmental Working Group (Nhóm Công tác Môi trường), nói với tờ The Epoch Times: “Các thuốc này hoặc chứa một nguyên tử carbon được fluor hóa hoàn toàn, hoặc chứa cấu trúc khác đủ để đáp ứng định nghĩa PFAS của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế”. Riêng theo định nghĩa hẹp hơn của EPA, vốn đòi hỏi ít nhất hai liên kết carbon đã fluor hóa, các hóa chất này lại không được coi là PFAS.

Mối lo đầu tiên với PFAS nằm ở độ bền. Chúng có thể tồn tại trong môi trường hàng chục năm, khiến con người phơi nhiễm với liều tăng dần qua nhiều năm. Mỗi hóa chất PFAS lại gây ảnh hưởng sức khỏe khác nhau.

Nhưng chính độ bền đó cũng là thứ khiến PFAS trở nên hấp dẫn với nông nghiệp.

Ông Subramaniam giải thích: “Vì rất bền nên chúng chịu được nhiệt, không bị rửa trôi khỏi nông sản. Chúng có độc tính rõ rệt, nghĩa là diệt côn trùng, loài gặm nhấm, nấm hay bất cứ đối tượng nào chúng nhắm tới đều hiệu quả hơn nhiều”.

Nhưng điều làm nên sức hấp dẫn cũng là thứ tạo ra nguy hiểm.

Nghiên cứu của EPA cho thấy phơi nhiễm trifludimoxazin có thể làm tăng khối u tuyến giáp ở loài gặm nhấm, đồng thời đặt ra rủi ro với gan và khả năng sinh sản. Còn epyrifenacil và diflufenican đều có thể phân hủy thành acid trifluoroacetic, một hoá chất PFAS đã được biết đến. Acid này bị nghi ngờ ảnh hưởng đến chức năng sinh sản và đã được chứng minh có nguy cơ gây độc gan.

EPA khẳng định ở liều đúng quy định, các thuốc này sẽ không gây rủi ro sức khỏe. Nhưng theo ông Subramaniam, điều cơ quan này chưa tính đến là tác động cộng gộp khi nhiều hóa chất trộn lẫn, cùng liều tích lũy qua các năm về sau.

EPA phê duyệt hóa chất trên cơ sở từng loại dùng riêng lẻ, trong khi nông dân hiếm khi chỉ phun một loại. Riêng trifludimoxazin được duyệt để dùng chung với một hóa chất PFAS khác.

Nông dân cũng dùng các loại thuốc diệt cỏ khác nhau ở từng giai đoạn canh tác. Epyrifenacil được duyệt cho khâu phun cháy gốc, tức phun trước khi xuống giống, còn những thuốc khác sẽ được phun khi cỏ xuất hiện về sau.

Lấy ví dụ với dâu tây, các khảo sát ghi nhận trên loại quả này trung bình có từ 10 đến 14 loại thuốc bảo vệ thực vật PFAS.

Thêm vào đó, hóa chất còn tích tụ trong nước và đất, nên mức phơi nhiễm của con người rốt cuộc sẽ tăng lên, có thể vượt cả ngưỡng an toàn hiện hành của EPA và có thể ảnh hưởng tới các thế hệ sau.

Ông Subramaniam đặt vấn đề trong bối cảnh dài hạn hơn:

“Nếu một chất PFAS tồn tại trong môi trường hàng trăm năm, nghĩa là nó có thể gây phơi nhiễm cho chúng ta, cho con, cho cháu, đôi khi cả chắt của chúng ta”.

Trước ba phê duyệt lần này, EPA hồi năm 2025 cũng đã duyệt hai thuốc PFAS khác là cyclobutrifluram và isocycloseram, nâng số thuốc bảo vệ thực vật PFAS được duyệt từ năm 2025 đến nay lên ít nhất năm loại.

“So với chỉ một loại được duyệt trong bốn năm của chính quyền tiền nhiệm, tốc độ phê duyệt PFAS đang tăng lên”, ông Subramaniam nhận định.

Theo Thông tư 75/2025/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam có bổ sung một số hoạt chất mới, trong đó có cyclobutrifluram và isocycloseram. 

Cyclobutrifluram được sử dụng để phòng trừ tuyến trùng trên cà phê, cam, thanh long và sầu riêng; bệnh vàng lá thối rễ trên cam. Hoạt chất isocycloseram được đăng ký phòng trừ sâu đục thân và sâu cuốn lá trên lúa; Incipio 100DC được đăng ký phòng trừ sâu tơ trên cải bắp, nhện đỏ trên cam, bọ nhảy trên cải ngọt và bọ trĩ trên dưa hấu. 

Trong khi đó, trifludimoxazin, epyrifenacil và diflufenican chưa được chấp thuận sử dụng tại Việt Nam.

Vì sao nông dân khó bỏ thuốc diệt cỏ

Nhìn từ góc độ của nông nghiệp thông thường, thuốc diệt cỏ lại là thứ không thể thiếu, bởi cây trồng cần dinh dưỡng để lớn.

Ông Aaron Hager, giáo sư kiêm chuyên gia khuyến nông về khoa học cỏ dại tại Đại học Illinois Urbana-Champaign, nói với tờ The Epoch Times: “Cỏ dại đơn giản là những cây khác cố mọc trên cùng mảnh đất. Nếu chúng thành công, chúng sẽ dùng hết nguồn lực và cây trồng không còn nguồn lực đó nữa”.

Nhổ cỏ bằng tay quá tốn công đối với sản xuất quy mô lớn, nên nông dân chuyển sang dùng thuốc diệt cỏ. Thế nhưng thuốc diệt cỏ tương tự như thuốc kháng sinh, sau một thời gian cỏ dại sẽ kháng thuốc và nhu cầu thuốc mới lại xuất hiện.

Nông dân cần những lựa chọn mới để cây trồng không thua trong cuộc cạnh tranh này, theo ông Steckel. Bản thân ông có hợp tác với EPA và cho biết mình hài lòng với việc cơ quan này phê duyệt các thuốc mới.

Ông Steckel nghiên cứu rau dền Palmer, loài cỏ dại lớn cạnh tranh với cây ngô, vừa dai dẳng vừa thích nghi rất nhanh.

“Ở miền Nam có dền Palmer, còn ở Trung Tây là người anh em waterhemp. Tốc độ sinh trưởng cao, cạnh tranh nitơ rất mạnh. Một cây cái có thể cho gần một triệu hạt nếu đủ không gian. Nên chẳng mất bao lâu chúng sẽ chiếm trọn một cánh đồng. Nếu không có thuốc diệt cỏ, chúng tôi gặp rắc rối lớn”, ông Steckel cho biết.

Ngoài ra, cách canh tác hiện nay vốn không thuận với tự nhiên. Ông Hager nhận xét: “Nông dân đang cố trồng một loài duy nhất trên một mẫu đất. Nhưng tự nhiên không ưa độc canh. Tự nhiên là đa dạng”.

Có nhiều cách kiểm soát cỏ dại, nhưng với các trang trại lớn theo lối canh tác thông thường, hiệu quả nhất vẫn là thuốc diệt cỏ. Trong khi đó, diện tích canh tác của mỗi hộ ngày một lớn.

Ông Hager kể: “Số nông dân ít đi nhưng diện tích canh tác lại nhiều hơn thời gia đình tôi ngày trước. Nhiều nhất chúng tôi cũng chỉ làm 1.500 mẫu Anh. Còn bây giờ trung bình mỗi nông dân có lẽ canh tác vài nghìn mẫu Anh”. Một mẫu Anh tương đương khoảng 0,4 hecta, nên 1.500 mẫu Anh vào khoảng 600 hecta.

So với các phương pháp kiểm soát cỏ khác, thuốc diệt cỏ tổng hợp nhanh hơn, rẻ hơn và dễ đoán hơn, nông dân biết chắc chúng sẽ hiệu quả.

Một loại khác là thuốc diệt cỏ sinh học dùng các sản phẩm tự nhiên như vi khuẩn, nấm, tinh dầu và tàn dư thực vật để diệt một số loài cỏ nhất định, nhưng thường phải phun nhiều lần mới thấy tác dụng.

Các thuốc diệt cỏ cũng đỡ tốn công và hiệu quả. Ông Hager cho hay: “Phần lớn thuốc diệt cỏ kiểm soát được rất nhiều loài cỏ. Chúng khá dễ sử dụng, phun xuống đất hay lên tán lá đều được”.

Với công cụ hiện đại, nông dân có thể phun hàng trăm mẫu Anh đất chỉ trong một ngày.

Các phương pháp thay thế như làm đất, tức dùng máy xới tơi đất để loại bỏ cỏ, chỉ làm được trước khi gieo trồng. Sau khi cây đã xuống giống, nếu cỏ mọc ngay sát cây trồng thì chỉ còn cách nhổ tay hoặc dùng thuốc diệt cỏ.

Dĩ nhiên vẫn có những trang trại hữu cơ trồng trọt và có lãi mà không cần thuốc diệt cỏ tổng hợp. Nhưng theo ông Steckel, vấn đề nằm ở quy mô. Ông nói: “Tôi từng thấy một số người làm thành công, nhưng trên diện tích tương đối nhỏ. Có điều họ phải nhổ cỏ bằng tay rất nhiều”.

Những lựa chọn thay thế và lối thoát

Nhiều chuyên gia nông nghiệp ngày càng ủng hộ việc thay đổi cách canh tác để bớt phụ thuộc vào thuốc diệt cỏ, kết hợp nhiều biện pháp để kiểm soát cỏ và ngăn cỏ dại kháng thuốc ngày một nặng.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Bang North Carolina viết trong một bài tổng quan năm 2018 rằng tình trạng kháng thuốc diệt cỏ cần được nhìn nhận nghiêm túc hơn: “Chúng ta phần lớn vẫn tiếp tục dùng thuốc bảo vệ thực vật như thể kháng thuốc chỉ là vấn đề tạm thời, sẽ được giải quyết bằng việc thương mại hóa các thuốc mới có cơ chế tác động mới. Tuy nhiên, bằng chứng hiện nay gợi ý rằng tốc độ tiến hóa của côn trùng và cỏ dại có thể vượt quá khả năng thay thế các hóa chất lỗi thời và những cơ chế kiểm soát khác của chúng ta”.

Ông Hager cho biết một số nông dân dùng nhiều công cụ kiểm soát cỏ khác nhau chứ không chỉ riêng thuốc diệt cỏ. Nhưng họ có dùng hay không còn tùy vào bài toán chi phí và sản lượng.

Cỏ dại cũng không chỉ thích nghi với thuốc diệt cỏ, mà còn học được cách trì hoãn nảy mầm để né các đợt làm đất.

Ông Subramaniam dẫn ví dụ châu Âu, nơi đã siết chặt quy định về PFAS mà nền nông nghiệp dường như không bị ảnh hưởng đáng kể.

Thay vì xem xét từng hóa chất PFAS riêng lẻ, châu Âu và một số tiểu bang của Mỹ đã bắt đầu coi các hóa chất PFAS mới như một nhóm chất thống nhất, có tính đến cách các hỗn hợp PFAS tương tác với nhau.

Dù nghiên cứu về PFAS hiện mới dừng ở mức tương quan, ông Subramaniam cho rằng điều đó không có nghĩa là PFAS không gây rủi ro sức khỏe. Ông nói: “Trong khoa học, ngưỡng để xác lập quan hệ nhân quả cực kỳ cao. Ví dụ như ung thư phổi và thuốc lá. Giới khoa học biết hút thuốc có liên quan đến ung thư phổi từ rất lâu, nhưng phải mất thêm hàng chục năm nữa mới xác lập được đây là quan hệ nhân quả”.

Ông nói thêm: “Vì vậy rất khó tìm được nhà khoa học nào nói rằng X gây ra Y, trừ khi đó là điều đã được chứng minh không thể chối cãi ở nhiều nơi khác nhau. Và thực tế là nhiều hóa chất PFAS còn quá mới. Đơn giản là chưa có đủ dữ liệu được công bố”.

Nhưng như vậy không có nghĩa EPA không thể hành động với PFAS. Ông Subramaniam khẳng định: “EPA từng hành động khi chưa có nhân quả trong nhiều trường hợp khác nhau. Nhân quả là thứ hiếm trong khoa học. Nhưng một số mối liên hệ này mạnh hơn nhiều so với mức cần thiết để hành động, và đó chắc chắn là đồng thuận của giới khoa học hiện nay”.

Hai trong số các thuốc được EPA phê duyệt hiện vướng kiện tụng. Hồi tháng tám, các nhóm bảo tồn đã kiện EPA vì phê duyệt lại trifludimoxazin, viện dẫn lý do sức khỏe và môi trường. Sản phẩm này được duyệt lần đầu năm 2021, sau đó nhà sản xuất đã rút lại khi chính các nhóm này kiện EPA với cùng những lo ngại. EPA cũng bị kiện hồi tháng một vì phê duyệt isocycloseram làm thuốc trừ sâu dùng trên sân golf và cây trồng. Hóa chất này đã được chứng minh có rủi ro với khả năng sinh sản và nguy hiểm cho các loài thụ phấn.