Lý Hoảng (Yi Hwang) là một trong hai nhà Nho đứng đầu trong lịch sử Triều Tiên. Ông không chỉ nổi tiếng vì học vấn uyên thâm, mà còn bởi cuộc đời làm quan liêm chính, nhiều lần xin từ quan để giữ mình, đồng thời dành thời gian cho việc giáo dục, đào tạo nhân tài và xây dựng một truyền thống học thuật có ảnh hưởng sâu rộng.

Tượng Lý Hoảng ở Namsan. (Ảnh:Integral, Wikipedia, CC BY-SA 2.0)

Xuất thân

Vào thế kỷ 15 dưới thời Triều đại Joseon (Triều Tiên), có ông Lý Kế Dương đi qua làng Ongye-ri (nay thuộc Dosan-myeon, Andong) thì thấy phong cảnh nơi đây rất đẹp, nên quyết định ở lại định cư. Ông có hai người con trai là Lý Thực và Lý Ngu.

Lý Thực sinh năm 1463, từ nhỏ đã nổi tiếng là thần đồng, sau này ông và em trai Lý Ngu đều đỗ đạt làm quan lớn cho triều đình. Ông đặc biệt say mê nghiên cứu các kinh điển của Nho gia cùng Bách gia chư tử.

Lý Thực sau khi kết hôn thì nhận được nhiều sách từ nhà vợ, hàng ngày miệt mài nghiên cứu, được đánh giá là “học như người khát tìm nước, đói tìm cơm”. Người thời đó đều khen ngợi học thức uyên thâm của ông.

Năm 1501, vợ chồng Lý Thực sinh được người con trai đặt tên là Lý Hoảng, đây là cậu con trai út trong 8 anh chị em.

Khi Lý Hoảng được 7 tháng thì cha không may mất sớm, gia đình dù khó khăn nhưng mẹ ông đã cố nuôi dạy để cho các con được học hành.

Lý Hoảng từ bé đã biểu lộ tài năng. Ông học với người chú Lý Ngu, năm lên 6 tuổi học “Thiên tự văn”, năm lên 12 tuổi thì học “Luận ngữ” của Khổng Tử. Lý Hoảng cũng rất thích thơ và có bài thơ đầu tiên năm 18 tuổi. Đến năm 20 tuổi ông nghiên cứu thêm kinh Dịch.

Lý Hoảng tham dự khoa cử từ năm 1519 nhưng đều thất bại. Ông nhận thấy nguyên nhân là do ở Ongye-ri thiếu thốn sách vở, ông chủ yếu chỉ được học “Luận ngữ”, còn lại thì mày mò đọc thêm một vài cuốn sách.

Bấy giờ ở Kinh đô Hán Thành (Seoul ngày nay) có Thành Quân Quán là ngôi trường cao cấp nhất của Triều Tiên thời đó. Triều đình mở cửa Thành Quân Quán cho phép sĩ tử vào thư viện dù chưa đỗ đạt. Vậy nên năm 1523, Lý Hoảng đến Hán Thành, hàng ngày trau dồi kiến thức trong thư viện.

Đỗ đạt làm quan

Khoa cử của Triều Tiên có hai kỳ thi lớn là tiểu khoa và đại khoa.

Tiểu khoa có hai môn thi là sinh viên (thi về kinh điển) và tiến sĩ (thi về văn chương). Mỗi môn thi đều có vòng sơ khảo ở địa phương và phúc khảo ở Kinh đô.

Đại khoa (còn gọi là Văn khoa) là kỳ thi cao nhất để tuyển chọn quan lại, gồm 3 vòng: sơ thí ở địa phương, hội thí ở kinh đô, và điện thí do Vua chủ trì.

Năm 1527, Lý Hoảng dự thi, vượt qua được kỳ thi Tiểu khoa ở địa phương, sang năm 1528 thì tiếp tục vượt qua kỳ thi Tiểu khoa tại Kinh đô.

Thi đỗ Tiểu khoa, Lý Hoảng được phép vào học chính thức tại Thành Quân Quán, với chế độ học bổng.

Được nhập học chính thức, Lý Hoảng có cơ hội tiếp cận với nhiều sách quý, vì thế ông dành thời gian để nghiên cứu Nho giáo, giao lưu với các học giả có tiếng đương thời, rồi chuẩn bị cho kỳ thi Đại khoa.

Khoa thi Đại khoa năm 1534, Lý Hoảng thi đỗ và được bổ nhiệm làm quan. Trong suốt cuộc đời làm quan, ông giữ nhiều chức vụ lớn nhỏ khác nhau, nhưng ông cũng nhiều lần xin từ chức để xin được làm các việc nghiên cứu và giảng dạy.

Bấy giờ Triều đình thường xuyên xảy ra tranh chấp giữa các phe phái, quyền lực bị chi phối bởi các dòng họ ngoại thích và các nhóm quan lại. Những cuộc thanh trừng học giả, quan lại chính trực cũng khiến không ít người tài bị đẩy ra khỏi quan trường.

Lý Hoảng không xu nịnh, không kết bè phái mà chỉ muốn giảng giải đạo lý Nho gia cho dân chúng. Ông nhiều lần dâng sớ khuyên nhà vua phải chú trọng việc tu dưỡng đạo đức, chấn chỉnh triều chính, dùng người công bằng và chăm lo đời sống dân chúng.

Ở địa phương, ông từng giữ chức Tri huyện các nơi, ở Triều đình, ông làm đến Thượng thư bộ Lễ.

Đề xuất mở thư viện cho dân chúng học tập

Lý Hoảng quan tâm giảm gánh nặng cho dân chúng. Ông cho rằng không nên máy móc áp dụng các hình phạt cho dân, mà cần hiểu hoàn cảnh của dân, đảm bảo việc thu thuế và lao dịch đúng mức. Ông còn cho rằng muốn giữ xã hội ổn định, giúp yên dân thì không thể chỉ dựa vào luật, mà cần giáo hóa dân chúng, tuyển chọn được bậc hiền tài.

Ở tuổi 48, ông được giao cai quản huyện Đan Dương, sau đó là Đan Cơ.

Tại Đan Dương và Đan Cơ, Lý Hoảng cho trùng tu và xây dựng trường học khang trang. Thời đấy, chỉ có các Nho sĩ hay tầng lớp quý tộc mới dùng thư viện. Lý Hoảng đề xuất xin Vua cho mở rộng thư viện đến các tầng lớp dân chúng để ai muốn học cũng đều có thể đến.

Đến năm 1550 thì vua Minh Tông đồng ý cho mở thư viện rộng rãi, lại ban tặng thêm sách đến các địa phương. Từ đó hàng trăm thư viện được mở, dân chúng đều có thể tìm đọc sách, nâng cao được đạo đức trong xã hội.

Ở Đan Dương và Đan Cơ, Lý Hoảng còn dạy học, soạn cuốn sách “tiểu học” dạy về lễ nghi căn bản. Cuốn “Bách khoa Toàn thư Văn hóa Dân tộc Hàn Quốc” ghi chép rằng ông phân chia đối tượng giáo hóa khác nhau, mỗi đối tượng đều có cách tiếp cận giảng dạy riêng.

Từ quan về quê dạy học

Lý Hoảng xin từ chức Quận thủ huyện Phong Cơ do bệnh tật và chán ghét sự nhiễu nhương của Triều đình cùng sự hủ bại của tầng lớp quan lại ở địa phương. Ông ra đi với chỉ một, hai hòm sách vở, không có bất kỳ tài sản nào khác.

Trở về quê nhà, ông đến núi Đào Sơn, nơi có thể nghe tiếng nước chảy và ngắm nhìn mây núi mỗi ngày. Ông lấy bút hiệu là “Thoái Khê” để viết sách.

Năm 1552, vua Minh Tông triệu Lý Hoảng đến Kinh đô Hán Thành giữ chức Hiệu lý. Ông bất đắc dĩ phải nhận lời, nhưng vì thấy không giúp được gì nhiều cho dân nên tâm ông luôn hướng về quê nhà.

Sau nhiều lần dâng sớ cáo bệnh, cuối cùng năm 1557, ông được chuẩn y. Về quê, ông dựng một ngôi nhà bên dòng suối dưới chân núi Đào Sơn, đến năm 1560 thì dựng xong và ông đặt tên là Đào Sơn thư đường.

Đào Sơn thư viện. (Ảnh: Uriah923, Wikipedia, Public Domain)

Lý Hoảng mở lớp dạy học ngay tại Đào Sơn thư đường. Nhiều người quanh vùng biết danh tiếng của ông nên tìm đến theo học. Ông dạy miễn phí mà không thu đồng nào, không chỉ truyền giảng kiến thức, mà còn dạy nhân cách cho học trò.

Dù muốn ở nhà dạy học, nhưng Triều đình vẫn cử người đến ép Lý Hoảng ra làm quan. Ông được giao giữ chức Đại tư thành Thành Quân Quán, rồi Tả tán thành tức quân sư cho Vua. Tuy nhiên ông chỉ cố làm một thời gian ngắn rồi lại cáo bệnh để xin về quê.

Kiệt tác “Thánh học thập đồ”

Năm 1567, vị Vua trẻ là Tuyên Tổ lên ngôi. Vua rất ngưỡng mộ phẩm chất đạo đức của Lý Hoảng nên đích thân ban chiếu mời ông đến Kinh đô.

Lý Hoảng đã biên soạn và dâng lên Vua kiệt tác “Thánh học thập đồ”, nói lên 10 điều của bậc Thánh nhân, để người làm Vua tu dưỡng tâm tính, phân biệt phải trái, trở thành bậc Thánh nhân trị quốc,

Sau khi dâng sách và nói ra những kiến giải của mình với nhà Vua, năm 1569, ông xin được hưu trí vĩnh viễn. Vua Tuyên Tổ thấu hiểu và chấp thuận.

Lý Hoảng trở về Đào Sơn thư đường. Những ngày cuối đời ông chỉnh lý sách vở, viết thơ, và đàm đạo với học trò.

Được vinh danh trên tờ tiền 1.000 won

Cuối năm 1570, Lý Hoảng mất trong sự thương tiếc của dân làng và học trò. 4 năm sau, những học trò của ông cùng gom góp, xây dựng và mở rộng Đào Sơn thư đường thành Đào Sơn thư viện chính quy gồm cả giảng đường, nhà thờ và khu ăn ở cho các học trò.

Vua Tuyên Tổ rất ngưỡng mộ và nhớ đến ông. Năm 1575, Vua ban sắc phong cho Đào Sơn thư viện là trung tâm Đạo học của đất nước. Từ đó Đào Sơn thư viện trở thành trung tâm nghiên cứu đào tạo lớn của Triều Tiên.

Năm 1983, Hàn Quốc cho phát hành tờ tiền 1.000 won. Mặt trước tờ tiền có in hình bức tranh chân dung của Lý Hoảng, mặt sau là hình ảnh Đào Sơn thư viện.

Chân dung Lý Hoảng trên tờ tiền 1.000 phát hành năm 1983. (Ảnh: The Bank of Korea, Wikipedia)
Chân dung Lý Hoảng trên tờ tiền 1.000 phát hành năm 2007. (Ảnh: The Bank of Korea, Wikipedia)
Đào Sơn thư viện trên mặt sau tờ tiền 1.000 won. (Ảnh: Steve46814, Wikipedia)

Năm 2007, Hàn Quốc cho phát hành tờ tiền 1.000 won mới. Dù tờ tiền thay đổi mẫu mã nhưng mặt trước vẫn có bức tranh chân dung của Lý Hoảng tại Thành Quân Quán, mặt sau là hình ảnh Lý Hoảng ngồi nghiên cứu tại Đào Sơn thư viện.

Đào Sơn thư viện vẫn tồn tại cùng lịch sử cho đến tận ngày nay. Năm 2019 Đào Sơn thư viện được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Trần Hưng

Xem thêm:

Mời xem video: