Trong Luận Ngữ thiên Ung Dã có ghi lại lời Tử Cống hỏi Khổng Tử rằng: “Nếu có người có thể ban ân huệ rộng khắp và lại có thể cứu tế dân chúng, thì đó là người như thế nào? Có thể gọi là người nhân đức không?”

Khổng tử nói: “Người đó đâu chỉ là người nhân đức mà ắt phải là bậc Thánh giả rồi! Ngay cả vua Nghiêu, vua Thuấn cũng chưa chắc đã làm được như vậy! Người nhân đức là người bản thân tu dưỡng tốt việc lập thân xử thế thì cũng giúp người khác có thể tu dưỡng tốt việc lập thân xử thế, bản thân có thể minh bạch sự lý thì cũng giúp người khác có thể minh bạch sự lý. Sự việc gì cũng suy xét ở bản thân, suy từ bản thân ra, điều mình không muốn thì không làm cho người khác, đây chính là phương pháp tu hành nhân đức.”

Đạo trị quốc của cổ nhân: Bình dị dễ gần thì dân tất theo
(Tranh minh họa: Bảo tàng Cố Cung Quốc gia Đài Loan, Public Domain)

Nho gia cho rằng “kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” “năng cận thủ thí” là con đường để tu hành nhân đức. “Năng cận thủ thí” tức là có thể đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, nghĩ cho người khác. Ví dụ: Nếu hoán đổi vị trí, mình là đối phương, thì mình đối xử với người ta như thế có được không? Đối phương sẽ cảm thấy như thế nào? Nếu họ không thích thì nên tôn trọng sự lựa chọn và mong muốn của họ mà đổi cách đối xử khác. Có câu rằng “điều mình không muốn, chớ làm cho người”, nếu như người khác đối xử với mình như vậy thì mình cũng sẽ không hài lòng, nên từ sau không được đối xử với người ta như vậy.

Ngược lại nếu đó là việc tốt mà mọi người đều mong muốn thì sao? Người nhân đức thì cần thiện đãi với người khác, mong muốn người khác trở nên tốt, nên bản thân sẵn sàng chia sẻ điều tốt với mọi người, vui vẻ hành thiện, giúp người khác thành công, đó chính là “thôi kỷ cập nhân” (suy từ bản thân ra người khác) và “kỷ lập lập nhân, kỷ đạt đạt nhân” (mình làm được thì cũng giúp đỡ người khác làm được, mình đạt được thì cũng giúp đỡ người khác đạt được). Thể hiện cụ thể là không ích kỷ, sẵn sàng chia sẻ và đối xử tốt với người khác, không tham lam, không ganh tỵ, không tranh đấu. Người như vậy tu dưỡng tấm lòng không ích kỷ và nghiêm khắc yêu cầu bản thân.

Khởi điểm của người nhân đức là hướng thiện, thiện đãi, khoan dung và mang lại lợi ích cho người khác. Người nhân đức tu dưỡng tâm tính, nếu như có nguyện ý trở thành sinh mệnh đồng hóa với quy luật của vũ trụ, bước trên con đường phản bổn quy chân, đạt đến cảnh giới cao thì có thể siêu phàm thoát tục, trở thành bậc Thánh giả. Kỳ thực việc bố thí tài vật thông thường không phải là cốt lõi của việc thi ân rộng khắp và cứu tế dân chúng, bởi nó không giải quyết được vấn đề căn bản của nhân loại. Điều mà các bậc Thánh giả thực sự coi trọng chính là đạo đức của con người, nên việc thi ân rộng khắp, cứu tế dân chúng thực ra là thức tỉnh con người trọng đức hành thiện, bước đi trên con đường phản bổn quy chân, điều đó mới thực sự là “phổ độ”, “tế thế”.

“Nhân đức” thực ra không phải là một cảnh giới xa xôi không thể với tới. Với tiền đề là tôn trọng ý nguyện và sự lựa chọn của người khác, những gì mình cho là tốt và mong muốn thì cũng muốn chia sẻ với người khác; điều gì mình cho là không tốt và không mong muốn, thì cũng không đùn đẩy cho người khác, mong người khác tránh xa những thứ bất thiện. Việc gì cũng nghĩ cho người khác, đối xử tốt với người khác, tuyên dương cái thiện trừ bỏ cái ác. Nếu thực sự làm được vậy thì chính là “ngã dục nhân, tư nhân chí hĩ” (Ta muốn làm việc nhân đức thì ngay lập tức có thể làm được). (Luận Ngữ – Thuật nhi)

Xưa kia Phạm Trọng Yêm, người nổi tiếng với câu nói “lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ”, đã dành cả đời để thực hiện chí nguyện của mình. Ông từ nhỏ sống cuộc sống nghèo khổ, cần kiệm, cho nên khi làm quan cũng vô cùng giản dị, không bao giờ xa hoa mà quên gốc.

Trong nhà ông, nếu không phải là có khách thì thức ăn là vô cùng đơn giản. Vợ và con của ông, sống một cuộc sống chỉ ở mức “cơm đủ ăn, áo đủ mặc”. Nhưng đối với người bên ngoài, ông và gia đình lại vô cùng rộng lượng, thường xuyên bố thí, cứu giúp.

Khi làm quan, vì mong muốn cải cách triều chính, ông đã chính trực đưa ra nhiều đề xuất tiến bộ, nhưng bị các bè đảng trong triều hãm hại, bị giáng chức đi rất xa. Tuy nhiên trong hoàn cảnh khó khăn ấy, ông vẫn dùng bổng lộc tích lũy được để mua ruộng màu mỡ ở quê hương, rồi cho thuê cày, dùng gạo thu tô đó để cứu tế cho những người nghèo khó.

Phạm Trọng Yêm chính là một hình mẫu của Nho gia, không chỉ tự tu dưỡng bản thân, mà còn luôn nghĩ đến bách tính trong thiên hạ. Ông không vì nghịch cảnh mà oán trách, không vì địa vị cao sang mà hưởng thụ riêng mình, trái lại luông giữ vững khí tiết, đức hạnh. Bởi vậy, “nhân đức” không nằm ở lời nói cao xa hay hành động lớn lao hiếm thấy, mà bắt đầu từ việc biết đặt mình vào hoàn cảnh người khác, biết yêu thương, bao dung và sẵn lòng đem điều tốt đẹp đến cho mọi người.

Dựa theo “Tinh giải Luận Ngữ (51)”
Đăng trên ChanhKien.org

Xem thêm:

Mời xem video: