Trong lịch sử thời Lê – Trịnh, làng Lan Khê, Thanh Hóa có hai cha con nổi tiếng tài giỏi là Nguyễn Hiệu và Nguyễn Hoàn. Cả hai đều giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều, được chúa Trịnh tin tưởng giao phó trọng trách.

Trạng Gióng: Hậu duệ của Hưng Đạo Vương, dùng nhân đức trị quốc
(Tranh minh họa: Họa sĩ Sỹ Hòa, Báo Bình Phước Online)

Nguyễn Hiệu

Nguyễn Hiệu vốn có tên là Phan Công Sử, năm lên 8 tuổi thì ông được người cô ruột đưa đến làng Lan Khê, Nông Cống, Thanh Hóa (nay là làng Phương Khê, Nông Trường, Triệu Sơn, Thanh Hóa) nuôi dưỡng, lấy tên theo họ Nguyễn của chồng cô.

Năm 1690 khi 17 tuổi, ông đổi tên thành Nguyễn Giao rồi dự kỳ thi Hương và đỗ cao thứ 4. Ông vào đến thi Hội nhưng chỉ vượt qua tam trường.

Sau đó Nguyễn Giao kết hôn với con gái của quan Tham chính, rồi tiếp tục dùi mài kinh sử. Ông theo học với thầy là Thám hoa Quách Giai, vì trùng tên nên ông đổi tên thành Nguyễn Hiệu.

Năm 1697, Nguyễn Hiệu được bổ nhiệm làm Huấn đạo ở phủ Kiến Xương, đạo Sơn Nam.

Khoa thi năm 1700, Nguyễn Hiệu dự kỳ thi Hội và đỗ đầu tức Hội nguyên. Vào đến thi Đình, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khi 27 tuổi.

Thi đỗ, Nguyễn Hiệu được cử làm Giám sát Ngự sử đạo Kinh bắc, giám sát các quan ở đây. 3 năm sau, nào năm 1703, ông được Thế tử Trịnh Cương mời vào Phủ của mình làm chức Nội tán.

Năm 1709, Thế tử Trịnh Cương lên ngôi Chúa, Nguyễn Hiệu được đưa đến Kinh thành giữ chức Đô cấp sự trung hình khoa. Năm 1714, ông được thăng lên làm Hồng lô tự khanh.

Năm 1715, Nguyễn Hiệu dâng lên kế sách “Trị bình” được Chúa đánh giá cao, cho vào Phủ chúa giữ chức Bồi tụng (chức quan chỉ sau Tham tụng).

Được giữ trọng trách, Nguyễn Hiệu có cơ hội thi thố tài năng của mình. Ông tìm người tài tiến cử lên Triều đình, lại giúp minh oan cho người vô tội.

Năm 1717, Thế tử Trịnh Giang có Phủ mới, Nguyễn Hiệu kiêm thêm việc làm thầy dạy cho Thế tử, cho thấy sự tin tưởng của nhà Chúa đối với ông.

Năm 1720, đến kỳ xét định khảo khóa các quan, Nguyễn Hiệu được xét có công lớn nên được thăng làm Tả thị lang bộ Lại, được đặc cách dự tước Nông Lĩnh hầu. Đến năm 1722 thì ông thăng làm Nông Quận công.

Năm 1726, Thanh Hóa gặp phải nạn đói lớn, Nguyễn Hiệu khẩn cấp dâng tờ khải xin cứu đói. Chúa tin tưởng giao cho ông mở kho lấy 14 vạn quan tiền cứu dân. Ông kịp thời cứu đói cho dân chúng, lại quản lý tốt không để số tiền thất thoát.

Năm 1730, Thế tử Trịnh Giang lên ngôi. Từng là thầy dạy cho Chúa, ông được thăng làm Thượng thư bộ Binh, hàm Thiếu bảo.

Năm 1732, vua Lê Thuần Tông lên ngôi, ông được giữ chức Tham tụng, là chức quan đầu triều tương đương Tể tướng.

Trịnh Giang ở ngôi suốt ngày chỉ lo ăn chơi, trọng dụng đám hoạn quan, xem trọng hoạn quan hơn cả quan văn võ, lại cách chức và giết hại trung lương, vì thế Nguyễn Hiệu khó nghe theo ý Chúa. Trịnh Giang tức giận cách chức Tham tụng của ông, nhưng sau đó lại gọi ông trở lại cho giữ chức Thượng thư bộ Lại, hàm Thiếu bảo.

Nguyễn Hiệu giữ trọng trách mới nhưng chỉ sau 5 tháng thì mất, được an táng ở làng Lan Khê.

Nguyễn Hoàn

Nguyễn Hiệu có người con thứ hai là Nguyễn Hoàn, sinh năm 1713 ở làng Lan Khê. Thuở nhỏ Nguyễn Hoàn đã được cha kèm cặp dạy dỗ, thể hiện là đứa trẻ thông minh, hiếu học. Khi học với các thầy thì Nguyễn Hoàn được đánh giá là tài năng hiếm có.

Khoa thi năm 1732 Nguyễn Hoàn tham dự và đỗ đầu kỳ thi Hương tức Giải nguyên khi 20 tuổi. Vào đến thi Hội, ông vượt qua tam trường, được Triều đình bổ dụng làm Đại lý Thừa tự. Đến năm 1740, ông giữ chức Tri phủ Thiên Phúc (xứ Kinh Bắc).

Đến năm 1743, Nguyễn Hoàn đỗ đầu kỳ thi Hội tức Hội nguyên, vào đến thi Đình thì đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, được cử làm Cấp sự trung Hộ khoa.

Chúa Trịnh Doanh cử Phủ doãn Phụng Thiên là Dương Công Chú và Cấp sự trung Nguyễn Hoàn làm thầy dạy cho Thế tử Trịnh Sâm. Như vậy cả hai cha con Nguyễn Hiệu và Nguyễn Hoàn đều được nhà Chúa tin tưởng chọn làm thầy dạy dỗ cho Thế tử.

Sau đó Nguyễn Hoàn được giữ nhiều trọng trách khác nhau. Năm 1756 trong vụ án Điển thân, ông vốn nhân hậu không nỡ xử nặng với các phạm nhân nên bị giáng chức.

Khi Thế tử Trịnh Sâm được tấn phong làm Tiết chế mở phủ Lượng quốc, Nguyễn Hoàn làm bài “Thập châm” dâng lên và được Trịnh Sâm khen ngợi.

Năm 1767, Thế tử Trịnh Sâm nối ngôi Chúa.

Năm 1768, Nguyễn Hoàn dâng lên sách “Tiềm long thực lục”, lại tiến sách “Kim giám tập”. Trịnh Sâm phong cho Nguyễn Hoàn làm Quốc sư, đây là chức vụ chưa hề có trước đó.

Từ đó Nguyễn Hoàn và chúa Trịnh Sâm luôn kề cận nhau.

Năm 1769, nhân việc đến yết kiến vua Lê Hiến Tông ở điện Vạn Thọ và bái yết Tiên thánh sư (Khổng Tử) ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, chúa Trịnh Sâm đến nhà của Nguyễn Hoàn chơi và tặng luôn cho thầy một tòa dinh thự. Cũng năm đó, Nguyễn Hoàn được phong làm Hữu thị lang bộ Binh.

Năm 1775, Nguyễn Hoàn được thăng chức làm Bồi tụng, làm chủ trì tế lễ ở đàn Nam Giao, sau đó được ban tước Hoàn Quận công.

Đến năm 1776 thì ông được thăng làm Tham tụng (tức Tể tướng đầu Triều), được ban tước Thái tử Thái bảo. Như vậy cả hai cha con Nguyễn Hiệu, Nguyễn Hoàn đều làm Tể tướng.

Năm 1777, Nguyễn Hoàn chủ trì việc tế lễ ở đàn Nam Giao lần thứ hai. Vài tháng sau, ông xin nghỉ hưu ở tuổi 65 theo đúng quy chế của Triều đình. Chúa Trịnh Sâm đồng ý nhưng lại phê thêm “trùng đăng hoàng các” nghĩa là phải quay trở lại.

Sau khi Nguyễn Hoàn trở lại, Chúa cho ông làm quốc lão tham dự việc Triều chính. Thực chất ông vẫn giữ chức quan đầu Triều là Tham tụng vì chưa có ai thay.

Năm 1779, Nguyễn Hoàn 67 tuổi lại xin nghỉ hưu do tuổi cao, và đề cử Bồi tụng Phan Trọng Phiên thay mình làm Tham tụng. Chúa vinh phong ông làm Phụ quốc công thần. Ông chọn dưỡng già ở làng Đa Sỹ.

Năm 1782, chúa Trịnh Sâm trước khi mất đã gọi ông đến giao cho cố mệnh. Năm 1783, ông lại thay quyền Vua lần thứ 3 làm lễ tế ở đàn Nam Giao, rồi lại về làng nghỉ ngơi.

Bảo vật quốc gia bia điện Nam Giao lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia. (Ảnh: Báo Giáo dục & Thời đại)

Năm 1785, vua Lê Hiển Tông lại mời Nguyễn Hoàn đến Kinh thành giữ chức Tham tụng.

Năm 1789, vua Quang Trung lên ngôi, chiêu mời sĩ phu Bắc hà, ông được đến tiếp kiến. Ông đến nơi nói mình tuổi cao sức yếu để từ chối và được vua Quang Trung chấp thuận.

Năm 1792, Nguyễn Hoàn mất ở làng Đa Sỹ, thọ 80 tuổi. Các con của ông đều giữ những nhiệm vụ quan trọng của Triều đình:

  • Con cả của ông là Nguyễn Sá từng làm Toản tu việc soạn “Đại Việt sử ký tục biên” cùng Ngô Thì Sĩ.
  • Con thứ là Nguyễn Khê giữ chức Hoằng Tín đại phu, Quả Nghị tướng quân, Trung Thành môn Vệ úy xuất thân, tước Thanh Xuyên bá.
  • Con thứ ba và thứ tư đều làm quan lớn và được ban tước Bá.

Năm 2020, đền thờ cha con Nguyễn Hiệu – Nguyễn Hoàn ở làng Phương Khê, xã Nông Trường được xếp hạng di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia. Đền thờ còn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá.

Trần Hưng

Xem thêm:

Mời xem video: