Năm thư viện cổ đại làm thay đổi thế giới
- Leo Salvatore
- •
Khi nghĩ về Hy Lạp, La Mã, hay những nền văn minh khác, chúng ta thường hình dung đến đền đài, lăng mộ, và các bức tượng làm bằng cẩm thạch. Nhưng có bao giờ bạn nghĩ về các thư viện chưa?
Sau khi chữ viết được phát minh, các thư viện trở thành nhịp đập trái tim của nhiều nền văn minh nhân loại. Chúng lưu trữ các văn bản pháp luật, giữ gìn các tác phẩm văn học có tầm vóc định hình thế giới, và đóng vai trò là các trung tâm học tập phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng.
Văn khố của Vương quốc Hittite
Các nhà sử học đầu tiên trên thế giới đã nhắc đến Hittite – thứ ngôn ngữ hình nêm được chứng thực sớm nhất.
Đến từ phía Bắc Hắc Hải, dân tộc Hittite định cư ở trung tâm của Anatolia (Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay) vào khoảng 2000 năm trước Công nguyên. Họ thành thạo kỹ nghệ rèn sắt và sử dụng xe ngựa phục vụ chiến tranh với một hệ thống pháp luật phức tạp được ghi chép bằng rất nhiều văn bản.
Thủ đô của vương quốc Hittite là Hattusa. Vào đầu những năm 1900, các nhà khảo cổ bắt đầu khai quật thành cổ này. Tại đó, họ tìm thấy những ngôi đền lộ thiên, những cổng đá đồ sộ, và những di tích đáng chú ý khác. Trong số các khám phá đáng ghi nhớ nhất có văn khố hoàng gia của thành phố Hattusa. Hiện nay nó được gọi là “Văn khố Bogazkoy”. Bộ sưu tập này đánh số hơn 25.000 bản ghi chữ hình nêm bằng tám ngôn ngữ, trong đó có cả ký tự Akkadian, loại ngôn ngữ chung của các nền văn minh ở phía Đông vùng lòng chảo Địa Trung Hải.
Văn khố này chứa các biên niên sử, các ghi chép pháp luật, thư từ ngoại giao giữa kinh đô Hattusa và các tỉnh xung quanh, những lời cầu nguyện, các lễ hội dân gian, và các phiên bản cô đọng về thần thoại đa Thần. Tất cả những nguồn tài liệu quý giá này giúp chúng ta hiểu tường tận mọi khía cạnh của một nền văn minh đã mất từ lâu.
Hattusa cũng lưu trữ các bản hiệp ước hòa bình quốc tế còn tồn tại lâu đời nhất trong lịch sử thế giới. Văn kiện đó được gọi là “Hiệp ước Vĩnh viễn”, tuyên bố Hittite và Ai Cập đình chiến mãi mãi. Hai quốc gia này đã từng tiến hành cuộc chiến tranh khốc liệt trong suốt hai thế kỷ ở vùng đất mà hiện nay thuộc Syria, Li Băng, và các vùng lân cận. Được viết bằng ngôn ngữ Akkadian, hiệp ước gợi lên tinh thần hữu nghị giữa Pharaon Ramesses II của Ai Cập và Hoàng đế Hattusa. Hai vị vua này có một mối quan hệ rất gắn bó, được ví như anh em.
Một trong những bức thư hòa giải trước hiệp ước là bức thư giữa Pharaon Ramesses II và Hoàng hậu Puduhepa của Hittite. Vị Pharaon này đã nói rằng: “Thần Mặt Trời và Thần Sấm sẽ trao cho chúng ta tình huynh đệ và hòa bình, trong mối giao hảo này, nơi mà chúng ta sẽ gắng kết mãi mãi. Và những người đưa thư của chúng ta sẽ du hành không ngừng nghỉ giữa chúng ta mãi mãi, vun đắp cho tình huynh đệ và hòa bình”.
Bộ sưu tập hoàng gia của Vua Ashurbanipal
Đến thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, các bộ lạc tham chiến đã tiến vào vùng lãnh thổ của đế chế Assyria. Tình huống địa chính trị hiểm nghèo này có lẽ đã thúc đẩy Ashurbanipal – vị vua vĩ đại cuối cùng của Assyria (khoảng năm 669-631 trước Công nguyên) – sưu tập thư tịch cổ.
Bộ sưu tập gồm các phiến đất sét này đã được tìm thấy trong thành cổ Nineveh, kinh đô của Assyria cổ đại, ở vùng Lưỡng Hà (Iraq ngày nay), vào giữa thế kỷ XIX.
Cũng giống như văn khố của Hittite, có hơn 30.000 bản ghi đất sét tại cung điện hoàng gia của Vua Ashurbanipal, trải rộng trên các lĩnh vực pháp luật, các vụ xử án, thư từ với các đại sứ quán ngoại quốc, và sổ sách tài chính. Văn khố này còn có một lượng lớn bất thường các văn bản về bói toán, cho thấy sự lệ thuộc vào bói toán trong thời kỳ đầy biến động này.
Vua Ashurbanipal đã gửi đi chỉ dụ tới khắp vùng Lưỡng Hà, yêu cầu các thành phố gửi cho ngài những bản sao văn kiện địa phương. Nhà vua cũng thuê những người sao chép văn kiện để làm thêm bản sao của các tấm đất sét khắc chữ hình nêm mà ông sở hữu ở Nineveh. Điều này cho thấy vua Ashurbanipal có một niềm tin mãnh liệt trong việc lưu tồn kiến thức cho hậu thế.
H.G. Wells, một tiểu thuyết gia người Anh rất quan tâm đến lịch sử, gọi văn khố của Ashurbanipal là “nguồn tài liệu lịch sử quý giá nhất thế giới”.
Trong số những món đồ của kho tàng này có một phiên bản của tác phẩm “Sử thi Gilgamesh”. Đây là tác phẩm văn học Lưỡng Hà cổ đại dựa trên các truyền thuyết rất sớm về vua Gilgamesh. Tác phẩm sử thi này kể về tình bạn và những chuyến phiêu lưu của Gilgamesh và Enkidu trong cuộc chinh phục những sinh vật siêu nhiên để chứng minh cho lòng dũng cảm và sức mạnh của mình. Thấy hai người quá tự phụ, các vị Thần đã khiến cho Enkidu mắc bệnh nan y. Trước cái chết của bạn, Enkidu dấn thân vào một hành trình đầy chông gai nhằm tìm kiếm bí mật trường sinh.
Thư viện Alexandria
Có lẽ ngày nay sẽ chẳng có người nào biết Homer là ai nếu các học giả cần cù không dành vô số thời gian khám phá những cuộn giấy cói trong thư viện Alexandria nổi tiếng của Ai Cập.
Thư viện Alexandria không đồ sộ như văn khố của Hittite và Assyria. Nó được xây dựng vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, có lẽ theo ý chỉ Vua Ptolemy Đệ Nhị – vị vua của Ai Cập và của hầu hết những vùng đất mà người Hittite cùng người Ai Cập từng tranh giành. Khi Alexander Đại đế băng hà năm 323 trước Công nguyên, đế chế của Vua Ptolemy trở thành một trong những vương triều quyền lực nhất Địa Trung Hải.
Để phô trương sự huy hoàng của vương quốc, Vua Ptolemy Đệ Nhị đã đầu tư vào các công trình tri thức. Thư viện này thuộc về “Mouseion”, một hiệp hội học thuật tài trợ những học bổng tốt nhất thời bấy giờ. Truyền thuyết kể lại rằng trong số các thành viên của hiệp hội này có kỹ sư cổ đại Archimedes. Có lẽ ông là người phát minh ra chiếc máy bơm nước mang tính cách mạng trong khi đang nghiên cứu tài liệu ở Alexandria.
Thư viện Alexandria giống như một khuôn viên đại học hiện đại. Nó gồm có một phòng ăn chung, các phòng đọc sách và hội họp, những khu vườn và các hội trường thuyết giảng nơi mọi người có thể thảo luận các ý tưởng hoặc tra cứu tài liệu.
Vào năm 48 trước Công nguyên, đội quân của Julius Caesar đã phóng hỏa hàng chục tàu thuyền ở cảng Alexandria nhằm ngăn chặn Vua Ptolemy 14 sắp lên ngôi chiếm lấy các con tàu và nguồn hậu cần quan trọng. Caesar đã đạt được mục tiêu, nhưng lửa lan rộng qua những khu vực gần biển của thành phố, phá hủy một số kho chứa của thư viện. Các nguồn tài liệu cổ đại cho rằng tai nạn này đã thiêu rụi 40.000 cuộn giấy cói.
Trong số những tài sản quý giá của thư viện có một vài bản chép tay cổ xưa nhất của sử thi Homer. Các học giả của Alexandria đã tạo ra những bản hiệu đính dựa trên sự tương đồng và khác biệt giữa rất nhiều bản chép trong thư viện.
Thư viện Alexandria tồn tại qua nhiều thế kỷ, nhưng cuối cùng vẫn sụp đổ. Tòa nhà chính của thư viện có lẽ đã bị phá hủy vào khoảng năm 300 sau Công nguyên. Cho đến ngày nay, thư viện không còn sót lại cuộn sách nào. Tuy nhiên, những học giả từng đến nghiên cứu tại thư viện đã đặt nền móng cho các tác phẩm văn học kinh điển của phương Tây, mà tầm ảnh hưởng của chúng vượt ra ngoài thành phố này.
Thành cổ Pergamum
Khoảng năm 300 trước Công nguyên, những người khai hoang Hy Lạp đã đến định cư tại phía Tây vùng duyên hải Anatolia. Tại đây họ xây dựng thành phố Pergamum. Trong vòng chưa tới một thế kỷ, thành phố này đã trở thành một trung tâm văn hóa. Sự nổi tiếng của nơi đây đã lên đến tột đỉnh khi Vua Eumenes Đệ Nhị của Pergamum quyết định cho xây một thư viện tráng lệ, phần nào cho thấy thành phố này còn tuyệt hảo hơn cả Alexandria.
Pergamum hẳn là chưa bao giờ đạt đến tầm vóc các bộ sưu tập như của thư viện Alexandria. Nhưng tính cạnh tranh của thư viện này đã giúp tạo nên sự đột phá trong kỹ nghệ làm sách, dẫn đến sự kết nối giữa thế giới cổ đại và hiện đại.
Loại giấy cói được dùng ở thư viện Alexandria rẻ tiền và dễ sử dụng hơn so với các bản ghi bằng đất sét dễ vỡ. Nhưng giấy cói bị phân hủy trong chưa đầy 300 năm. Các cuộn giấy cói cũng khó đọc và cũng khó vận chuyển hơn.
Để khắc phục những điểm yếu này, những thủ thư của thư viện Pergamum đã bắt đầu thử nghiệm “vellum”, tức là giấy da bê. Những bộ da tươi được xử lý, có lúc lấy từ cừu hoặc dê, được gọi là “parchment” (giấy da). Chữ này có nguồn gốc từ tên thành phố Pergamum trong tiếng La-tinh (pergamenum) và tiếng Pháp (parchemin). Cuối cùng, giấy da đã dẫn đến sự chuyển đổi từ các cuộn giấy dễ hỏng sang các sách chép tay (codex) bền hơn, đây là các tập giấy được đóng gáy ở một đầu. Mặc dù chữ “codex” hiện nay được dùng để chỉ các bản thảo thời Trung cổ, nhưng mọi cuốn sách hiện đại đều được làm theo định dạng codex này. Hầu như toàn bộ văn học cổ đại mà chúng ta biết đều được truyền lại qua các bản viết trên giấy da từ thời Trung Cổ.
Lịch sử của thư viện công cộng đầu tiên
Vào năm 39 trước Công nguyên, chính trị gia Gaius Asinius Pollio đã tu sửa lại một thư viện cũ nát nằm ngay trung tâm La Mã. Công trình được xây dựng từ chiến lợi phẩm của Pollio, tọa lạc tại “atrium libertatis” (sảnh tự do), một khu liên hợp công cộng rộng lớn gồm các tòa nhà hành chính và một khu vườn tượng tuyệt đẹp.
Thư viện này mở cửa cho công chúng mà không có một hạn chế nào, và đây cũng là khu vườn liền kề với phòng trưng bày nghệ thuật.
Những bức tượng được đặt ngoài trời trên đường đến thư viện tạo nên bầu không khí thanh cao, được hữu ý thiết kế để tạo cảm hứng cho khách qua đường. Sử gia La Mã Pliny (khoảng năm 23-79 Công nguyên) từng đúc kết, những bức tượng này thôi thúc khách ghé thăm suy ngẫm về cuộc sống và tác phẩm của “những người mà linh hồn bất tử của họ vẫn đang trò chuyện cùng chúng ta”.
Pliny ca ngợi Pollio vì đã “sáng lập một thư viện, nơi tạo ra những tác phẩm xuất sắc, là tài sản cho cộng đồng”. Bộ sưu tập của thư viện không chỉ cung cấp cho những thường dân La Mã , mà Pollio còn khuyến khích công dân tham gia vào các buổi ngâm thơ và các hoạt động tương giao khác.
Là người bảo trợ cho một số nghệ sĩ thời đó, Pollio có lẽ đã tài trợ cho những buổi ngâm thơ của Virgil, một thi hào đã sáng tác cuốn sử thi Aeneid. Hoạt động ngâm thơ đã cuốn hút nhiều thính giả, gồm cả những nhân vật xuất chúng. Sự ủng hộ của họ đã tạo tiền đề cho sự nghiệp rực rỡ của một trong những nhà thơ vĩ đại nhất lịch sử.
Giữ gìn quá khứ
Nếu các văn khố của Hittite và Assyria được biên soạn để ghi chép lại những quy chuẩn xã hội, cung cấp tài liệu cho hệ thống pháp luật phức tạp, hay bảo vệ tài sản của một quốc vương qua những thời điểm loạn lạc, thì những thư viện của Alexandria và Pergamum hướng đến các trải nghiệm trí tuệ và tạo ra những phát minh hữu ích, những ý tưởng vượt thời gian. Còn khu liên hợp công cộng của Pollio đã mở ra một chức năng quan trọng nhất cho thư viện trong lịch sử văn minh nhân loại: trở thành nơi những thường dân được tự do đến đọc các tác phẩm văn học vĩ đại, thưởng lãm nghệ thuật, và tu dưỡng tinh thần.
Năm thư viện trên đều đã bị phá hủy và tàn tích của chúng chỉ là một phần nhỏ nhoi của quá khứ hoàng kim. Tuy nhiên chúng đã cùng góp phần xây dựng nên giá trị trường tồn của thư viện trong lịch sử nhân loại.
Đăng lại từ “Năm thư viện cổ đại làm thay đổi thế giới“
Đăng trên ChanhKien.org
Theo The Epoch Times
Tác giả: Leo Salvatore
Xem thêm:
Mời xem video:
Từ khóa Thư viện

































