Một chiến dịch y tế giúp loại bỏ bệnh mù lòa do giun chỉ sông tại các ngôi làng xa xôi ở vùng Amazon đã mang lại một tác động ngoài dự kiến đối với các nhà nghiên cứu: Chỉ trong vòng bốn tháng, chiến dịch này đã bắt đầu tái định hình hệ vi sinh vật đường ruột của các cộng đồng bản địa, ngay cả khi chế độ ăn uống, điều kiện sinh hoạt và lối sống của họ vẫn chưa có bất kỳ thay đổi nào.

(Ảnh minh họa: Shutterstock)

Những phát hiện được công bố trên Cell Reports (Tập san Báo cáo về Tế bào) cho thấy kết quả theo dõi 335 người bản địa sinh sống tại các ngôi làng thuộc vùng Amazon của Venezuela, với mức độ tiếp xúc với thế giới bên ngoài khác nhau. Các nhà nghiên cứu nhận thấy hệ vi sinh vật của những người này bắt đầu thay đổi chỉ sau vài tháng được thăm khám và chăm sóc y tế định kỳ, dần dịch chuyển theo những đặc điểm thường thấy ở các quần thể dân cư sống trong môi trường công nghiệp hóa.

Theo ông Jack A. Gilbert, Giáo sư Nhi khoa kiêm Giám đốc Trung tâm Vi sinh vật học và Hệ gen Vi sinh vật tại Đại học California – San Diego, người không tham gia vào nghiên cứu, thì điều khiến nghiên cứu này trở nên đặc biệt chính là thời điểm các thay đổi xuất hiện.

Phần lớn các nghiên cứu về hệ vi sinh vật thường ghi nhận tác động đồng thời của nhiều yếu tố, bao gồm chế độ ăn uống, điều kiện vệ sinh, môi trường sống và việc sử dụng thuốc. Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã có thể theo dõi tác động của một can thiệp y tế mới duy nhất trong thời gian thực.

“Chúng tôi đã theo dõi các cộng đồng Yek’wana và Yanomami-Sanema khi họ được tiếp cận một can thiệp y tế mới duy nhất và chỉ trong vòng vài tháng, hệ vi sinh vật đường ruột, khoang miệng và da của họ đã được tái cấu trúc”, Giáo sư Gilbert chia sẻ với The Epoch Times qua email.

Nghiên cứu cho thấy ngay cả việc tiếp cận chăm sóc y tế cũng có thể đi kèm với những đánh đổi về mặt sinh học, đồng thời đặt ra câu hỏi về tốc độ phản ứng của hệ vi sinh vật ở người trước những tiếp xúc y tế dù ở mức tối thiểu.

Hệ vi sinh đường ruột thay đổi nhanh chóng

(Ảnh minh họa: paulista/Shutterstock)

Các nhà nghiên cứu đã theo dõi các cộng đồng bản địa tại những ngôi làng hẻo lánh ở Venezuela khi họ bắt đầu nhận được các chuyến thăm khám y tế định kỳ mỗi quý thông qua một chương trình do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hỗ trợ nhằm loại bỏ bệnh giun chỉ onchocerciasis, còn gọi là bệnh mù lòa do giun chỉ sông.

Đây là một bệnh ký sinh trùng lây truyền qua vết đốt của ruồi đen, gây ra bệnh ngoài da nghiêm trọng và mù lòa không thể hồi phục. Nếu không được điều trị, căn bệnh này có thể gây tàn tật và biến dạng cho toàn cộng đồng.

Trong các đợt thăm khám, người dân trong làng được sử dụng thuốc kháng ký sinh trùng ivermectin để điều trị bệnh mù lòa do giun chỉ sông, cùng với các loại thuốc thiết yếu khác, bao gồm vaccine, kháng sinh như amoxicillin, thuốc giảm đau, thuốc kháng nấm, thuốc kháng viêm không steroid và vitamin.

Các nhà nghiên cứu đã thu thập hơn 1.500 mẫu bệnh phẩm, bao gồm mẫu phân và các mẫu phết từ khoang miệng, mũi và da, trong các đợt khảo sát vào tháng 10/2015 và tháng 2/2016. Chỉ trong vòng bốn tháng, họ đã ghi nhận sự suy giảm tính đa dạng của hệ vi sinh vật đường ruột tại những ngôi làng được tiếp xúc với các dịch vụ chăm sóc y tế nhiều lần.

Đây là một nghiên cứu quan sát và không được thiết kế để xác định riêng lẻ yếu tố nào, bao gồm thuốc kháng ký sinh trùng, sự giảm gánh nặng ký sinh trùng, việc gia tăng tiếp xúc với thế giới bên ngoài hay các thay đổi môi trường khác đã dẫn đến những biến đổi cụ thể nào trong hệ vi sinh vật.

Thành phần của hệ vi sinh vật đường ruột cũng thay đổi đáng kể. Các nhà nghiên cứu ghi nhận sự suy giảm của những nhóm vi khuẩn thường liên quan đến chế độ ăn truyền thống giàu chất xơ và quá trình lên men các carbohydrate thực vật phức tạp, bao gồm Prevotella, Treponema cùng các thành viên thuộc họ Ruminococcus Cea và Lachnospiraceae. Những vi sinh vật này giúp lên men chất xơ trong khẩu phần ăn thành các hợp chất được cho là có vai trò hỗ trợ sức khỏe đường ruột và hệ miễn dịch.

Đồng thời, các vi sinh vật thường thấy ở các quần thể dân cư công nghiệp hóa trở nên phổ biến hơn, bao gồm một số nhóm thuộc ngành Bacteroidetes và Akkermansia, vốn không nhất thiết gây hại khi hiện diện đơn lẻ. Các mạng lưới tương tác vi sinh vật trong đường ruột cũng trở nên kém liên kết hơn, cho thấy không chỉ thành phần vi sinh vật thay đổi mà cách thức chúng tương tác với nhau cũng đã biến đổi.

Trẻ em có những thay đổi rõ rệt nhất

(Ảnh minh họa: paulista/Shutterstock)

Những biến đổi này đặc biệt rõ rệt ở trẻ em, nhóm đối tượng dường như nhạy cảm hơn người lớn trước việc tiếp xúc lặp lại với các can thiệp y tế.

Theo Giáo sư Gilbert, phát hiện này có ý nghĩa quan trọng bởi các quần thể vi sinh vật hình thành trong giai đoạn đầu đời giúp định hình sự phát triển của hệ miễn dịch và quá trình chuyển hóa. Những xáo trộn xảy ra trong thời thơ ấu có thể để lại hậu quả lâu dài.

“Các nhóm vi sinh vật biến mất chỉ trong vài tháng ở đây cũng chính là những nhóm mà các quần thể dân cư công nghiệp hóa đã mất đi qua nhiều thế hệ và sự thiếu vắng của chúng hiện được cho là có liên quan đến sự gia tăng các bệnh dị ứng, bệnh tự miễn và rối loạn chuyển hóa”, Giáo sư Gilbert cho biết.

Hệ vi sinh vật không chỉ thay đổi về thành phần. Các nhà nghiên cứu còn phát hiện những dấu hiệu cho thấy chức năng của hệ vi sinh vật cũng đang thay đổi, với sự gia tăng các gen liên quan đến quá trình chuyển hóa carbohydrate đơn giản và khả năng kháng các tác nhân kháng khuẩn, trong khi các gen liên quan đến quá trình lên men chất xơ và những chức năng chuyển hóa cốt lõi khác lại giảm xuống.

Những thay đổi này không chỉ giới hạn ở đường ruột. Tính đa dạng của hệ vi sinh vật trong khoang miệng và trên da cũng giảm đáng kể, trong khi các quần thể vi sinh vật trong khoang mũi lại gia tăng.

Bà Erica D. Sonnenburg, nhà vi sinh học và là nhà nghiên cứu khoa học tại Trường Y Đại học Stanford, người không tham gia vào nghiên cứu, chia sẻ với The Epoch Times qua email rằng mặc dù thuốc kháng ký sinh trùng và kháng sinh là những liệu pháp điều trị thiết yếu có khả năng cứu sống người bệnh, nghiên cứu này cho thấy cần “lưu tâm đến những hệ quả ngoài dự kiến và phát triển các chiến lược nhằm giảm thiểu tác động đối với hệ vi sinh vật”.

Can thiệp y tế vẫn là điều cần thiết

Những phát hiện này cũng đặt ra câu hỏi về cách thức đưa các dịch vụ chăm sóc y tế vào những cộng đồng vốn có truyền thống chữa bệnh lâu đời.

“Ngay cả những tiếp xúc y tế tối thiểu với thiện chí tốt cũng có thể tạo ra những tác động sinh thái có thể đo lường được đối với các cộng đồng vi sinh vật mà cơ thể chúng ta đã cùng tiến hóa trong suốt thời gian dài”, ông Gilbert cho biết.

Nghiên cứu này cũng nhắc nhở rằng việc triển khai các can thiệp như vậy cần được thực hiện trên cơ sở hợp tác với các cộng đồng bản địa.

Ông Iliyan D. Iliev, Giáo sư Vi sinh học kiêm đồng Giám đốc Phòng thí nghiệm Cốt lõi về Hệ vi sinh vật tại Weill Cornell Medicine, người không tham gia nghiên cứu, chia sẻ với The Epoch Times qua email: “Nghiên cứu này thu hút sự chú ý đến một vấn đề mà chúng ta không thường nghĩ tới – đó là cách y học phương Tây có thể tác động đến những cộng đồng mà trong nhiều thế kỷ qua vẫn dựa vào các liệu pháp chữa bệnh truyền thống bằng thảo dược và các nghi thức chữa lành”.

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng y học hiện đại vẫn cần thiết, đặc biệt khi các chương trình điều trị những căn bệnh như mù lòa do giun chỉ sông vẫn đóng vai trò cứu sống người bệnh.

“Không nên diễn giải những kết quả này theo hướng cho rằng các can thiệp y tế là có hại hoặc cần phải bị hạn chế”, Giáo sư Iliev cho biết.

Thay vào đó, ông cho rằng những phát hiện này có thể phản ánh tác động tổng hợp của nhiều yếu tố thay đổi cùng lúc, bao gồm việc sử dụng thuốc, sự giảm bớt gánh nặng ký sinh trùng và việc gia tăng tiếp xúc với thế giới bên ngoài – những yếu tố có thể đang cùng nhau tái định hình hệ vi sinh vật. Ông cũng nhận định rằng một số thay đổi thậm chí có thể mang lại lợi ích nếu chúng phản ánh sự suy giảm của các tác nhân gây bệnh hoặc ký sinh trùng, ngay cả khi đồng thời đi kèm với sự giảm đa dạng vi sinh vật.

Đồng tác giả nghiên cứu, Tiến sĩ Martin Blaser, người đang giữ chức Giáo sư Danh dự Henry Rutgers về Hệ vi sinh vật của con người tại Đại học Rutgers, chia sẻ với The Epoch Times qua email rằng những phát hiện này phù hợp với xu hướng suy giảm đa dạng vi sinh vật đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu trong bối cảnh y học hiện đại và môi trường sống ngày càng thay đổi.

“Chúng ta không cần phải lựa chọn giữa việc sử dụng kháng sinh và việc duy trì sự đa dạng của hệ vi sinh vật”, Giáo sư Blaser nói.

Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng “chúng ta cần sử dụng kháng sinh một cách chọn lọc hơn và xây dựng các chiến lược phục hồi hệ vi sinh vật cho phù hợp”.

Những câu hỏi cho tương lai

Mối liên hệ giữa quá trình hiện đại hóa, sự đa dạng vi sinh vật và sức khỏe lâu dài vẫn còn nhiều điều chưa được làm sáng tỏ.

Tuy nhiên, nghiên cứu này cho thấy những thay đổi của hệ vi sinh vật do tác động của chăm sóc y tế hiện đại có thể bắt đầu sớm hơn nhiều so với những gì các nhà khoa học từng nghĩ, ngay cả trước khi những biến đổi sâu rộng của quá trình công nghiệp hóa thực sự diễn ra.

Bà Erica D. Sonnenburg cho biết: “Không có điều gì trong nghiên cứu này cho thấy chúng ta nên phản đối việc sử dụng kháng sinh hoặc thuốc kháng ký sinh trùng. Vấn đề đặt ra là liệu chúng ta có thể sử dụng các loại thuốc này một cách thông minh hơn và cung cấp các biện pháp chăm sóc phù hợp sau điều trị để giảm thiểu sự xáo trộn đối với hệ vi sinh vật hay không”.

Các nhà nghiên cứu hiện đang ngày càng quan tâm đến việc liệu các can thiệp dựa trên chế độ ăn uống, men vi sinh hoặc các liệu pháp phục hồi hệ vi sinh vật có thể giúp tái thiết lập các cộng đồng vi sinh vật sau điều trị trong tương lai hay không.

Ông Blaser cho biết: “Tôi tin rằng trong tương lai, chúng ta sẽ có thể bổ sung trở lại một số ‘vi sinh vật đã mất’ nhằm giảm nguy cơ mắc bệnh”.

Theo The Epoch Times

Khánh Ngọc biên dịch