Bài Văn sách năm 1910 thể hiện tư tưởng muốn đổi mới của giới trí thức Việt
- Trần Hưng
- •
Dưới thời vua Duy Tân, giới trí thức Việt Nam đều có tư tưởng muốn canh tân đất nước, tiếc rằng quyền tự quyết lúc này không còn ở Triều đình nhà Nguyễn nữa. Bài văn sách của Vương Hữu Phu năm 1910 có nhiều ý cho thấy mong muốn canh tân đất nước của giới trí thức lúc bấy giờ.
Vương Hữu Phu
Vào thời nhà Nguyễn có gia đình họ Vương ở làng Long Vân (nay thuộc Nam Đàn,Nghệ An) có nhiều người đỗ đạt làm quan. Gia đình có Vương Đình Trác đỗ Phó bảng khoa thi năm 1895, làm quan đến Tri phủ; em là Vương Danh Thân đỗ cử nhân khoa thi năm 1864 từng làm quan đến Án sát Ngự sử.
Năm 1880, Vương Danh Thân sinh được người con trai là Vương Hữu Phu. Sinh trưởng trong gia đình quan lại có học vấn, từ nhỏ Vương Hữu Phu được ăn học đầy đủ, được theo học với các thầy giỏi.
Năm 1903, Hữu Phu 23 tuổi dự kỳ thi Hương ở trường thi Nghệ An và đỗ cao thứ hai. Đến khoa thi năm 1910 thời vua Duy Tân, Hữu Phu dự kỳ thi Hội và đỗ đầu tức Hội nguyên. Vào kỳ thi cuối cùng là thi Đình, ông lại đỗ đầu tức Đình nguyên.
Vì hai lần đỗ đầu nên ông được gọi là “Song nguyên”. Ai cũng tiếc vì kỳ thi Hương ông đỗ cao thứ hai, nên không trở thành “Tam nguyên” hiếm có trong lịch sử.
Thi đỗ, Vương Hữu Phu được cử làm quan. Ông cũng sáng tác nhiều tác phẩm văn học, một số tác phẩm cùng câu đối vẫn còn được lưu lại đến nay.
Bài Văn sách giúp Vương Hữu Phu đỗ đầu
Trong kỳ thi Đình của Vương Hữu Phủ, đề bài do vua Duy Tân đưa ra đặt thẳng vào vấn đề khó khăn của xã hội dưới thời thuộc Pháp:
“Hiện thời, trong dân gian chưa khỏi cảnh xin ăn, ở nơi đầm lớn rừng sâu còn nghe tiếng trộm cướp, phải chăng đường lối giúp dân làm giàu và giáo hóa dân còn chưa thoả đáng? Quản Tử nói: “Cơm áo đủ thì biết vinh nhục, kho lẫm đầy thì biết lễ tiết”. Nay muốn bọn gian quỹ không trỗi dậy, công thương được hưng khởi lên, ở vùng ven biển và ven núi, ruộng nương được khai khẩn hết, mọi nhà đều biết, việc giáo hóa có thể thi hành rộng rãi. Suy nghĩ cho sâu làm sao sửa trị được như thế? Kẻ sĩ quân tử rộng đường khai thác cổ kim, biết sâu nghĩa vụ, hãy trình bày hết ý của mình, không phù phiếm, không giấu giếm, trẫm sẽ ban khen, tiếp thu mà thi hành vậy”.
Bài văn sách của Vương Hữu Phu có phần đáp rằng:
“Nay chế sách lấy việc trong dân gian còn cảnh xin ăn, ở nơi đầm lớn rừng sâu còn nghe tiếng trộm cướp ra để hỏi, thần xin được giãi bày. Có người nói đó là do thiên tai thường xuyên xảy ra, thần cho là không phải thế. Theo thần thì mối lợi nông nghiệp nước ta chẳng những chưa được mở rộng mà phân bón còn chưa được tân chế, nghề trồng trọt chưa có phương pháp tốt, cái đạo ‘phú chi’ hoặc giả chưa làm đến cùng, chợt gặp năm hạn hán hay úng ngập, gây mất mùa, đói kém, thì niềm vui và mối lợi chưa khắp đến xóm nghèo!
Cũng có người nói ấy là do sự ngộ nhận về tự do, (thần) cũng cho không phải thế. Theo thần thì học giới nước ta chẳng những chưa được mở mang, mà văn minh cũng chưa được đều khắp, nên tập tục lề thói còn chấp nê thủ cựu, cái đạo ‘giáo chi’ có chỗ chưa làm hết sức. Bọn thiếu niên thì hiểu sai tự do, không thực hiện được ý nguyện bèn cam chịu sống ngoài vòng giáo hoá.
Cái đạo ‘phú chi, giáo chi’ như vậy là chưa được tiến hành thoả đáng, thật đúng như chế sách nói vậy! Thần trộm nghĩ cái cần kíp lúc này không có gì lớn hơn hai việc là hưng dân lợi và khai dân trí. Đức Khổng Tử khi trả lời câu hỏi của Nhiễm Hữu có nói rằng: ‘Sau khi làm cho dân giàu có thì phải tiến hành giáo dục họ’. Tây triết nói: ‘Muốn làm cho dân có tri thức thì trước hết phải khơi thông sự ngu dốt của dân’. Như vậy đường lối giúp dân làm giàu và giáo dục dân thường nương tựa vào nhau, việc thi hành không thể rối loạn.
… Nhưng thần trộm nghĩ, làm cho dân được lợi thì không gì quan trọng hơn nghề nông; mở mang dân trí thì không gì lớn hơn việc giáo hóa. Lại không thể nói công thương không đủ để hưng lợi và mở mang trí tuệ! Thần trộm cho rằng: ‘Công’ tất phải học máy móc, việc chế tạo do đó mới có thể phát triển, ‘Thương’ thì hàng hoá xuất nhập khẩu phải được thông suốt, có thế việc buôn bán mới được mở mang.
Thần trộm thấy về công nghệ nước ta, thì nghề thủ công chưa được khéo, việc buôn bán thì hàng hóa xuất ra nước ngoài bị cấm, cả công và thương đều chưa có thể mưu cầu lợi ích một cách nhanh chóng. Vậy, triều đình phải dần dần hướng dẫn, lợi dụng cơ hội để mở rộng ra, ngõ hầu làm cho dân chúng không chịu ở yên trong cảnh tạm bợ, được chăng hay chớ; tạo ra thói quen không chịu bó mình trong cảnh an nhàn, khiến cho công thương có cơ hưng thịnh vậy!
Thần trộm thấy có điều đáng lo nữa là dân nước ta đông mà đất hoang hóa ở ven biển, ven núi chưa được khai khẩn, vẫn để nguyên như cũ. Bởi vậy, nếu quan ở địa phương bảo trợ họ, cổ vũ họ, thì không cần đợi đốc thúc gắt gao mà dân chúng sẽ nhanh chóng khai hoang vậy.
Thần mong ở các địa phương mỗi nơi xây dựng một nông trường, chọn một khoảnh ruộng hoang, tuyển người siêng năng, giỏi giang quản lý công việc, cứ để cho họ đưa lưu dân về cày ruộng khẩn hoang, cung cấp nông cụ, giúp đỡ vốn liếng, đem sách kỹ thuật nông nghiệp dạy cho họ, tham khảo thêm cách cày tuyết của phương Tây, khuyến khích việc dùng cày máy và các hoạt động khác, xác định chương trình học nhằm mang lại hiệu quả. Ruộng nhà nước như thế, thì ruộng của dân sẽ bắt chước làm theo, ruộng đất may ra có thể ngày được khai khẩn thêm.
Thần lại trộm thấy ở nước ta lâu nay khoản lương cho thầy, dân tùy tình hình mà cấp, người dạy học trò thì căn cứ vào đạo đức, chứ chưa dựa vào chuyên môn mà chọn, nghĩa là vẫn như trước vậy! Bộ Học nên nắm việc khảo hạch cuối cùng để chọn bằng tốt nghiệp như kiểu học có chương trình của nước Anh gồm 16 môn thi, hay của nước Đức gồm 18 khóa trình vốn có. Thần muốn bắt chước làm theo, cầu lấy thực chất, không chuộng phù hoa, đòi hỏi về chuyên môn, chứ không chỉ biết qua loa, ngõ hầu văn minh có thể ngày một tiến lên”.
Qua đoạn trích này, có thể rút ra được một số điều đặc sắc.
Trước đó trong Triều đình mỗi khi mất mùa thì các quan cho rằng là vì thiên tai, nhưng Vương Hữu Phu không đồng ý, ông cho rằng là do: “phân bón còn chưa được tân chế, nghề trồng trọt chưa có phương pháp tốt”.
Trong bài văn sách, Vương Hữu Phu dùng những từ ngữ học từ phương Tây như “khai dân trí”, cho thấy các sĩ tử lúc bấy giờ đã tiếp cận được với khoa học kỹ thuật từ phương Tây. Vậy là ông đã đối chiếu những luận chứng của đức Khổng Tử với văn hóa phương Tây, không còn bị gò bó vào học phái Tống Nho, vốn bị chê là thiếu thực tế trong hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ.
Ông cũng nêu kiến nghị cho các lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, đề xuất học hỏi phương Tây. Trước đó, những kiến nghị tìm hiểu và học công nghệ phương Tây đã có từ thời vua Tự Đức, các ông Nguyễn Trường Tộ và Phạm Phú Thứ… đã có bản tấu lên, nhưng chưa được đồng ý. Đến thời vua Duy Tân, việc tìm hiểu công nghệ phương Tây mới được chú ý hơn.
Bài văn sách này có nhiều tư tưởng mới sau một thời gian dài đất nước bị đặt dưới sự bảo hộ của người Pháp. Bài được chấm đỗ cao nhất, chứng tỏ Triều đình đã chấp nhận những tư tưởng đổi mới của ông.
Tiếc rằng đến thời vua Duy Tân thì nhà Nguyễn không còn tự quyết được nữa, mà mọi quyết định phải qua người Pháp. Chính vì thế bài văn sách được Triều đình công nhận chấm đỗ đầu nhưng lại không thể thực hiện.
Trần Hưng
Xem thêm:
Mời xem video:
Từ khóa nhà Nguyễn khoa bảng













![[VIDEO] Bờm và Cuội trong con người Việt Nam](https://trithucvn2.net/wp-content/uploads/2026/06/bom-va-cuoi-446x295.png)


















