Từ vụ “CEO Thiếu Lâm Tự”, nhìn lại sự phá hoại tôn giáo dưới thời ĐCSTQ
- Hoành Hà
- •
‘CEO Thiếu Lâm Tự’ – Thích Vĩnh Tín – đã bị kết án 24 năm tù, nhưng ông không phải là một trường hợp cá biệt. Đằng sau Thích Vĩnh Tín là sự hủy hoại tín ngưỡng tôn giáo của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), và chỗ dựa của ông chính là chính sách của chế độ này. Điều đó có thể được nhìn thấy rõ qua tiến trình lịch sử.
‘CEO Thiếu Lâm Tự’ Thích Vĩnh Tín cuối cùng đã bị kết án
Theo cơ quan ngôn luận của ĐCSTQ là Nhân Dân Nhật Báo, ngày 29/5, Tòa án Nhân dân Trung cấp thành phố Tân Hương, tỉnh Hà Nam đã tuyên án sơ thẩm Lưu Ứng Thành (tức Thích Vĩnh Tín) 24 năm tù giam và phạt tiền 3,5 triệu nhân dân tệ.
Các tội danh bị kết án vừa phi lý nhưng cũng rất thực tế: chiếm đoạt tài sản trong khi thi hành chức vụ, sử dụng trái phép vốn, nhận hối lộ với tư cách nhân viên không phải công chức nhà nước và đưa hối lộ.
Một người xuất gia vốn phải là người thoát tục, vậy tại sao lại phạm những tội danh vốn thường thấy ở quan chức ĐCSTQ? Bởi vì các tội danh này đều liên quan đến quyền lực; chúng không thể chỉ do cá nhân thao túng mà còn liên quan đến những yếu tố môi trường bên ngoài. Điều đó cho thấy chính hệ thống đã có vấn đề.
Vậy vấn đề nằm ở đâu?
Ai là người chống lưng?
Những sai phạm của Thích Vĩnh Tín không phải đến hôm nay mới bị phơi bày. Hơn 10 năm trước đã có các đơn tố cáo công khai dưới tên thật. Nội dung tố cáo ngoài các tội danh lần này, còn bao gồm việc nuôi dưỡng nhiều phụ nữ và có con ngoài giá thú.
Tuy nhiên, sau khi nhận được tố cáo, giới chức không những phủ nhận mà còn tiếp tục bảo vệ ông trong suốt hơn 10 năm. Vậy ai là người chống lưng cho ông?
Hiện nay, được biết người bảo trợ sớm nhất là ông Lý Trường Xuân, khi đó là Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam. Năm 1995, nhân dịp kỷ niệm 1.500 năm thành lập Thiếu Lâm Tự, Thích Vĩnh Tín đã thiết lập quan hệ với Lý Trường Xuân. Sau này, Lý Trường Xuân trở thành Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị và là một trợ thủ đắc lực của cựu lãnh đạo ĐCSTQ Giang Trạch Dân.
Danh hiệu Đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc và Chủ tịch Hiệp hội Phật giáo tỉnh Hà Nam của Thích Vĩnh Tín đều được trao trong thời kỳ Giang Trạch Dân. Các danh hiệu như người kế thừa di sản văn hóa phi vật thể quốc gia về Thiếu Lâm Công phu, Chủ tịch danh dự Liên hiệp Thanh niên tỉnh Hà Nam và Viện trưởng Học viện Phật giáo Hà Nam được trao trong thời kỳ Hồ Cẩm Đào.
Đến thời Tập Cận Bình, ông tiếp tục giữ các chức vụ Ủy viên và Ủy viên Thường vụ Chính hiệp tỉnh Hà Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc.
Một nhà sư vốn chỉ được xem là đối tượng của công tác mặt trận thống nhất, về nguyên tắc chỉ tham gia Chính hiệp, nhưng lại trở thành Đại biểu Nhân đại toàn quốc. Điều này cho thấy mức độ được chính quyền ưu ái và cấp độ bảo trợ của ông cao đến mức không bình thường.
Trong thời kỳ Tập Cận Bình, vốn nổi bật với chiến dịch chống tham nhũng, Thích Vĩnh Tín không những không bị động đến trong hơn 10 năm mà còn tiếp tục thăng tiến. Điều đó cho thấy ông quả thực là một nhân vật đặc biệt.
Từ đó có thể thấy rằng người chống lưng cho Thích Vĩnh Tín không chỉ là một vài cá nhân; thậm chí có thể bao gồm 3 đời lãnh đạo tối cao của ĐCSTQ là Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình. Xa hơn nữa, đó là cả một chính sách của ĐCSTQ.
Thương mại hóa tôn giáo và chùa chiền
Chính sách tôn giáo của ĐCSTQ là “Trung Quốc hóa tôn giáo”. Bản thân khái niệm này bị cho là phi lý, bởi tôn giáo vốn hướng đến thế giới siêu việt, không bị giới hạn bởi biên giới quốc gia hay dân tộc.
Hơn nữa, Phật giáo sau khi truyền vào Trung Quốc từ lâu đã trải qua quá trình bản địa hóa và khác biệt với Phật giáo nguyên thủy của Ấn Độ. Vì vậy, cái gọi là “Trung Quốc hóa Phật giáo” của ĐCSTQ thực chất là “Đảng hóa Phật giáo”. Thương mại hóa chỉ là bề ngoài và là công cụ; mục tiêu cốt lõi là loại bỏ niềm tin vào thần Phật trong lòng con người. Hiện tượng này diễn ra trên phạm vi toàn quốc và nhắm vào mọi tôn giáo, trong đó Thiếu Lâm Tự chỉ là một ví dụ thu nhỏ.
Dưới thời Thích Vĩnh Tín, Thiếu Lâm Tự phát triển các tổ chức như Đoàn Võ tăng Thiếu Lâm, Công ty Phát triển Thực nghiệp Thiếu Lâm, Công ty Điện ảnh Thiếu Lâm… Tương tự các doanh nghiệp thương mại khác, mục tiêu của chúng là theo đuổi lợi ích kinh tế.
Điều này bị cho là đi ngược lại giáo lý thanh tịnh, xa lánh thế tục của Phật giáo. Vì vậy, nhiều người gọi ông là “CEO Thiếu Lâm”, một “nhà sư kinh tế”.
Trong toàn bộ quá trình quảng bá thương hiệu Thiếu Lâm Tự, Thích Vĩnh Tín được mô tả như một doanh nhân hơn là một người tu hành Phật giáo. Do chủ trì các dự án xây dựng quy mô lớn nên ông cũng bị cáo buộc liên quan đến hành vi nhận hối lộ.
Chính trị hóa và hành chính hóa tôn giáo
Thích Vĩnh Tín không chỉ là một “nhà sư kinh tế” mà còn là một “nhà sư chính trị”.
Các chức danh trong Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, Hiệp hội Phật giáo Hà Nam hay cương vị Đại biểu Nhân đại đều không liên quan trực tiếp đến hoạt động tôn giáo mà mang tính chính trị và hành chính.
Bản thân Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc là một cơ quan mang tính hành chính, chịu sự quản lý của Cục Quản lý Tôn giáo Nhà nước thuộc Ban Công tác Mặt trận Thống nhất.
Cơ quan này quản lý 5 tôn giáo được nhà nước công nhận. Tuy nhiên, tín đồ phải thuộc các tổ chức tôn giáo chính thức do nhà nước quản lý mới được công nhận. Những giáo hội hoặc nhóm tôn giáo từ chối tham gia hệ thống chính thức vẫn bị xem là bất hợp pháp và chịu sự đàn áp.
Sự hành chính hóa này không chỉ tồn tại ở cấp quốc gia hay cấp tỉnh mà còn ngay trong các ngôi chùa. Theo quy định của Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, việc lựa chọn trụ trì phải được tổ chức quản lý chùa hoặc vị trụ trì tiền nhiệm đề cử, sau đó thông qua đánh giá nội bộ rồi trình hiệp hội Phật giáo địa phương xem xét.
Ngay cả nhiệm kỳ cũng tương tự như cán bộ đảng và chính quyền: mỗi nhiệm kỳ 5 năm và tối đa 2 nhiệm kỳ liên tiếp.
Sự thăng tiến trùng hợp với các sự kiện chính trị
Quá trình thăng tiến của Thích Vĩnh Tín trùng khớp đáng kể với một số sự kiện chính trị quan trọng ở Trung Quốc và điều này khó có thể chỉ là ngẫu nhiên.
Lần đầu tiên Đoàn Võ tăng Thiếu Lâm xuất hiện công khai là vào tháng 6/1989 tại Hải Nam. Bề ngoài, lý do được đưa ra là phối hợp với chính quyền địa phương để thu hút đầu tư. Sau đó đoàn đã sang Hàn Quốc biểu diễn, lần đầu tiên xuất hiện trên sân khấu quốc tế.
Tuy nhiên, thời điểm đó cũng chính là tháng xảy ra sự kiện Thiên An Môn năm 1989. Đây rõ ràng là một hoạt động thương mại mang mục đích chính trị mạnh mẽ chứ không phải hoạt động tôn giáo.
Trong bối cảnh ĐCSTQ bị cô lập trên trường quốc tế, chuyến đi Hàn Quốc được xem là một hoạt động mặt trận thống nhất đối ngoại. Giai đoạn đó cũng được cho là lúc Thích Vĩnh Tín bắt đầu sử dụng Thiếu Lâm Tự như một phương tiện để tìm kiếm sự hậu thuẫn từ chính quyền.
Năm 1995 được xem là bước ngoặt khi ông thiết lập quan hệ với Lý Trường Xuân thông qua lễ kỷ niệm 1.500 năm thành lập Thiếu Lâm Tự, từ đó hình thành mối liên hệ chính thức với giới chức ĐCSTQ.
Mốc thời gian quan trọng tiếp theo là tháng 8/1999, khi Thích Vĩnh Tín được Cục Tôn giáo Nhà nước và Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc phê chuẩn trở thành trụ trì đời thứ 30 của Thiếu Lâm Tự.
Theo bài viết, thời điểm này trùng với tháng thứ hai sau khi ĐCSTQ bắt đầu cuộc đàn áp Pháp Luân Công. Đây cũng là giai đoạn chính quyền huy động các tổ chức tôn giáo chính thức tham gia chiến dịch chống lại Pháp Luân Công.
Chính quyền đã giao cho Thích Vĩnh Tín một vai trò quan trọng, và ông cũng đáp lại sự tín nhiệm đó.
Thích Vĩnh Tín từng 2 lần bị khai trừ tăng tịch. Nếu việc bổ nhiệm trụ trì hoàn toàn do nội bộ Thiếu Lâm Tự quyết định, ông khó có khả năng trở thành trụ trì. Do đó, đây chỉ có thể là một sự bổ nhiệm mang tính chính trị từ phía chính quyền ĐCSTQ.
Tổ chức tôn giáo chính thức của ĐCSTQ trở thành công cụ chống Pháp Luân Công
Cựu Chủ tịch Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc Triệu Phác Sơ là ví dụ điển hình về việc ĐCSTQ cải tạo Phật giáo. Ông sớm hoạt động trong lĩnh vực Phật giáo và cứu trợ xã hội, sau đó theo lệnh ĐCSTQ tham gia phong trào kháng Nhật cứu quốc, trong thời gian này trở thành đảng viên ngầm của ĐCSTQ, nhưng vẫn lâu dài hoạt động với tư cách người trong Phật giáo. Năm 1952, ông tham gia sáng lập Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, đảm nhiệm lâu dài các chức vụ Phó Chủ tịch và Thư ký. Sau thời kỳ Cách mạng Văn hóa, năm 1980 Hiệp hội được khôi phục và Triệu Phác Sơ giữ chức Chủ tịch cho đến khi qua đời năm 2000. Một đảng viên ĐCSTQ giữ chức Chủ tịch Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc lâu như vậy, Thích Vĩnh Tín cũng khó sánh kịp.
Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc tham gia vào việc đàn áp Pháp Luân Công do ĐCSTQ phát động, là tổ chức tôn giáo đầu tiên tham gia chống Pháp Luân Công. Từ năm 1996, Triệu Phác Sơ đã viết 1 chỉ thị cùng 5 bức thư chống Pháp Luân Công.
Đây không chỉ là sự đối lập tôn giáo đơn thuần, bởi năm đó đã xảy ra “sự kiện Báo Quang Minh” – ngày 17/6, tờ Quang Minh Nhật Báo đăng bài viết chống Pháp Luân Công ký tên Tân Bình, được coi là lần đầu tiên báo chí trung ương của ĐCSTQ công khai tấn công Pháp Luân Công.
Thực chất, tác giả Tân Bình là bút danh của Phó Giám đốc Cục Sách, Bộ Thông tin và Xuất bản, Phan Quốc Ngạn, với hàm ý rằng đây là một bài viết của “biên tập viên của Bộ Thông tin và Xuất bản”. Sau đó cũng trong năm 1996, Bộ Thông tin và Xuất bản thu hồi và cấm lưu hành 5 cuốn sách về Pháp Luân Công. Bộ này không tự hành động mà thực hiện theo công văn của Ban Tuyên truyền Trung ương.
Vậy nên, toàn bộ sự việc cho thấy, là đảng viên ĐCSTQ, Triệu Phác Sơ chính là đã thực hiện chỉ thị của Ban Tuyên truyền. Điều này không có gì khó để nhận ra.
Hoạt động chống Pháp Luân Công trong giới tôn giáo là nhiệm vụ do ĐCSTQ phân công, không phải tự phát. Tháng 8/2000, các lãnh đạo của 5 tôn giáo được ĐCSTQ công nhận cùng sang Mỹ với danh nghĩa giới thiệu tự do tín ngưỡng, nhưng thực tế là nhằm bôi nhọ Pháp Luân Công, xoa dịu sự phản đối quốc tế về việc đàn áp. Tháng 3/2001, Chủ tịch Hội Công giáo Yêu nước Trung Quốc Phó Thiết Sơn và Chủ tịch Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc Thánh Huy tham gia đoàn đại biểu Trung Quốc, đến Geneva, Liên Hợp Quốc, bào chữa cho việc ĐCSTQ đàn áp Pháp Luân Công.
Tháng 1/2001, tại hội thảo chống Pháp Luân Công do Viện Khoa học Trung Quốc tổ chức, vị Ủy viên Chính hiệp Trung Quốc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, đồng thời là Phó Chủ tịch Thường vụ Hiệp hội Phật giáo Thượng Hải – tăng sĩ Giác Ngộ – phát biểu: câu mở đầu là “Cảm ơn sự quan tâm và bồi dưỡng của các cơ quan đảng và chính quyền, đã giới thiệu tôi làm Ủy viên Chính hiệp toàn quốc”. Hành vi này trái ngược hoàn toàn với giới luật Phật giáo, nhưng ông lại lấy làm tự hào.
Ông còn nói rằng bản thân còn trẻ, học ít, đức hèn, năng lực kém. Chính vị “giả tăng” vô đức vô năng này đã đề xuất một dự thảo về việc “chuyển hóa” các học viên Pháp Luân Công tại hội nghị. Đây chính là loại “công cụ” mà ĐCSTQ cần: có thể sử dụng để làm “vũ khí” phục vụ mưu đồ chính trị.
Cục Tôn giáo – một cơ quan hành ác
Nhà văn Liệc Diệc Vũ trong tác phẩm ‘Phỏng vấn tầng đáy Trung Quốc’ ghi lại câu chuyện của tăng sĩ Đăng Khoan. Ông là trụ trì đời thứ 8 của một ngôi cổ tự ở vùng Thanh Thành Sơn, Tứ Xuyên. Ông không chỉ kể về những đau thương của mình và chùa trong thời Cải cách Ruộng đất và Cách mạng Văn hóa, mà còn tiết lộ sự phá hoại của Cục Tôn giáo ĐCSTQ đối với các chùa chiền từ thời cải cách mở cửa đến nay.
Các ngôi chùa không chỉ phải đóng thuế bình thường mà còn bị quan chức tham lam “vặt lông” từng lớp. Ngay cả xe ô tô của Ban Công tác Mặt trận thống nhất địa phương cũng được thu từ các chùa bắt buộc quyên góp. Trưởng phòng tôn giáo huyện trực tiếp đến chùa của ông đòi 100.000 nhân dân tệ để bù vào số tiền phân bổ làm đường bị cấp trên “ăn chặn”. Một nhóm quan tham còn vào chùa đánh bài cờ bạc, thua thì mượn tiền của Đăng Khoan nhưng không bao giờ trả. Trưởng phòng tôn giáo huyện thậm chí tự xưng là “quan phụ mẫu của mọi thần tiên”.
Đăng Khoan nói: “Qua các triều đại, quan tham có thế nào, hoàng đế có ngu ra sao, cũng chưa từng nghe chuyện phải ‘vặt lông trên đầu tăng sĩ’”, nhưng ĐCSTQ đã thực hiện điều đó.
Từ khóa Thiếu Lâm Tự Thích Vĩnh Tín Pháp Luân Công

































