Sau những đợt mưa bão và ngập lụt kéo dài, nguy cơ nhiễm vi khuẩn Burkholderia pseudomallei, thủ phạm gây ra căn bệnh Whitmore, thường gia tăng đột ngột. Đây là hiện tượng có tính chu kỳ khi dòng nước lũ xới tung các tầng đất sâu và đưa vi khuẩn phát tán rộng rãi vào bùn lầy cùng môi trường sinh hoạt. Trong quá trình dọn dẹp nhà cửa hay chạy lũ vi khuẩn rất dễ xâm nhập vào cơ thể qua những vết trầy xước nhỏ trên da, đặc biệt tiềm ẩn rủi ro lớn đối với những người có bệnh nền mạn tính.

(Ảnh minh họa: Yuriy K/shutterstock)

Vi khuẩn đến từ bùn đất

Bệnh Whitmore không phải là một căn bệnh lây nhiễm mới nổi hay một đại dịch mang tính toàn cầu như COVID-19, mà là một bệnh lý lưu hành địa phương (endemic) có tính chu kỳ rất rõ rệt. Trực khuẩn Gram âm Burkholderia pseudomallei là một loại vi khuẩn hoại sinh, vốn cư trú sâu dưới các lớp đất sét, đất bùn ẩm và các mạch nước ngầm tại vùng nhiệt đới gió mùa, trong đó có Việt Nam.

Trong điều kiện thời tiết bình thường, vi khuẩn này nằm sâu dưới đất và ít có cơ hội tiếp xúc với con người. Tuy nhiên, khi các trận mưa lớn và lũ lụt xảy ra, cấu trúc đất bị xới tung. Dòng nước ngập úng không chỉ cuốn trôi rác thải mà còn mang theo một lượng khổng lồ vi khuẩn Whitmore từ lòng đất dâng lên bề mặt. Lúc này, môi trường bùn lầy, vũng nước tù đọng trở thành “hồ chứa” mầm bệnh khổng lồ.

Người dân trong quá trình chạy lũ, dọn dẹp nhà cửa hoặc lội qua các khu vực ngập nước thường không mang đồ bảo hộ. Chỉ cần một vết trầy xước nhỏ trên da, một vết đứt tay do mảnh kính vỡ, hoặc vết gai đâm cũng tạo thành cửa ngõ thênh thang để vi khuẩn trực tiếp xâm nhập vào hệ tuần hoàn. Nguy hiểm hơn, trong những ngày gió bão mạnh, vi khuẩn có thể hòa lẫn trong các hạt bọt nước khí dung nhỏ li ti. Việc hít phải trực tiếp luồng không khí này có thể dẫn đến thể Whitmore phổi tối cấp, phá hủy nhu mô phổi chỉ trong thời gian cực ngắn.

(Ảnh minh họa: paulista/Shutterstock)

Trong truyền thông đại chúng, Whitmore thường bị gắn với biệt danh gây ám ảnh là “vi khuẩn ăn thịt người”. Khác với các vi khuẩn tiết enzyme phân hủy da thịt từ bên ngoài, trực khuẩn Whitmore khi vào máu sẽ giải phóng nội độc tố mạnh, gây ra tình trạng nhiễm trùng huyết mưng mủ và hoại tử đa ổ từ bên trong. Bệnh nhân có thể xuất hiện các khối áp xe sâu chứa đầy mủ tại gan, lách, thận, tuyến tiền liệt, hoặc tình trạng viêm mủ khớp, hoại tử mô mềm dưới da lan rộng khiến vùng da thịt tổn thương trông như bị “ăn mòn”.

Một trong những sự đáng sợ nhất của Whitmore nằm ở đặc tính bắt chước trên lâm sàng. Bệnh không có triệu chứng đặc hiệu mang tính độc quyền. Bệnh nhân mắc thể phổi — thể bệnh phổ biến nhất chiếm khoảng 50% số ca — thường nhập viện với tình trạng sốt cao, rét run, ho khạc đờm mủ, đau tức ngực dữ dội.

Trên phim chụp X-quang hoặc CT-Scanner, hình ảnh nhu mô phổi bị đông đặc, xuất hiện các nốt hang hoại tử rất dễ khiến các bác sĩ tuyến đầu chẩn đoán nhầm sang bệnh lao phổi tiến triển, viêm phổi tụ cầu hoặc phế cầu khuẩn. Sự nhầm lẫn trong chẩn đoán ban đầu dẫn đến việc bỏ lỡ “thời gian vàng” can thiệp, khiến bệnh nhân nhanh chóng rơi vào sốc nhiễm khuẩn và suy đa tạng.

Nguy cơ tử vong cao ở nhóm cơ địa suy giảm miễn dịch

Mặc dù có độc lực cao, Whitmore rất hiếm khi gây ra bệnh cảnh tối cấp và tử vong ở những người trẻ tuổi có hệ miễn dịch hoàn toàn khỏe mạnh. Đa số các ca bệnh tử vong hoặc phải điều trị hồi sức tích cực dài ngày đều tập trung vào nhóm bệnh nhân có các khiếm khuyết về miễn dịch hoặc mắc các bệnh nền mạn tính.

Theo các thống kê dịch tễ lâm sàng, bệnh nhân đái tháo đường thường chiếm phần lớn trong tổng số ca mắc Whitmore biến chứng nặng. Đường huyết duy trì ở mức cao làm suy giảm nghiêm trọng chức năng hóa hướng động và khả năng thực bào của bạch cầu trung tính. Khi hàng rào bảo vệ này suy yếu, vi khuẩn Whitmore dễ dàng trốn thoát sự truy bắt của hệ miễn dịch, nhân lên nhanh chóng trong máu và di chuyển đến các cơ quan nội tạng.

Ngoài ra, những người mắc bệnh thận mạn tính, viêm gan mạn do lạm dụng rượu, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), hoặc những bệnh nhân đang phải sử dụng thuốc corticoid, thuốc ức chế miễn dịch kéo dài cũng được xếp vào nhóm nguy cơ cực kỳ cao.

Điều trị phức tạp

Việc điều trị Whitmore là một thách thức lớn. Đặc tính sinh học của B. pseudomallei là khả năng đề kháng tự nhiên với hàng loạt các loại kháng sinh phổ biến hiện nay như penicillin, cephalosporin thế hệ 1 và 2, macrolide hay aminoglycoside. Điều này đồng nghĩa với việc nếu người bệnh tự ý mua thuốc kháng sinh thông thường ngoài nhà thuốc, hoặc bác sĩ chỉ định phác đồ điều trị viêm phổi cộng đồng theo kinh nghiệm, mầm bệnh sẽ hoàn toàn không bị tiêu diệt.

Để cứu sống bệnh nhân Whitmore, phác đồ chuẩn bắt buộc phải chia làm hai giai đoạn nghiêm ngặt. Giai đoạn tấn công ban đầu kéo dài từ 2 đến 4 tuần tại khoa Hồi sức tích cực, sử dụng kháng sinh phổ rộng liều cực cao đường tiêm truyền tĩnh mạch nhằm dập tắt tình trạng nhiễm khuẩn huyết.

Vượt qua giai đoạn này, bệnh nhân tiếp tục phải tuân thủ giai đoạn điều trị duy trì kéo dài từ 3 đến 6 tháng bằng kháng sinh đường uống phối hợp nhằm tiêu diệt tận gốc các vi khuẩn ẩn nấp sâu bên trong tế bào đại thực bào. Nếu người bệnh tự ý bỏ thuốc khi thấy cơ thể hết sốt và các vết loét ngoài da liền sẹo, tỷ lệ vi khuẩn bùng phát trở lại là vô cùng lớn, và đợt tái phát sau luôn tàn khốc và khó điều trị hơn đợt trước.

Cách dự phòng bệnh Whitmore

Dịch bệnh thường bùng phát sau mùa mưa lũ. (Ảnh: Beat Cao Bằng/Facebook)

Dịch bệnh thường bùng phát sau mùa mưa bão, biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất hiện nay vẫn là ngăn chặn sự tiếp xúc trực tiếp giữa tác nhân gây bệnh và cơ thể người.

Người dân sinh sống tại các khu vực lũ lụt cần đặc biệt lưu ý trang bị đầy đủ dụng cụ bảo hộ như ủng cao su, găng tay không thấm nước khi tham gia dọn dẹp vệ sinh môi trường, nạo vét bùn đất. Bất kỳ vết thương hở, vết trầy xước nào phát sinh trong quá trình lao động cũng cần được rửa sạch ngay lập tức dưới vòi nước chảy bằng xà phòng sát khuẩn hoặc dung dịch povidone-iodine.

Đặc biệt, đối với những người có tiền sử đái tháo đường hay bệnh lý mạn tính, nếu xuất hiện các triệu chứng sốt cao, ớn lạnh, ho kéo dài hoặc sưng tấy mưng mủ tại vị trí vết thương sau khi lội bùn, cần đến ngay các cơ sở y tế chuyên khoa truyền nhiễm. Việc chủ động thông báo cho bác sĩ về tiền sử phơi nhiễm với đất, nước lũ sẽ giúp định hướng cấy máu kịp thời, tìm ra vi khuẩn và khởi động đúng phác đồ điều trị, cứu vãn sinh mạng trong gang tấc.

Thanh Long t/h