Lại đến ngày “quốc tang”. Ngày 1/10/1949 mở đầu thời kỳ dân tộc Trung Hoa sa vào Tu La trường, chốn chém giết của ma quỷ.

Mao Trạch Đông (thứ ba từ phải) tại lễ thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 1/10/1949. (Ảnh: Wikimedia Commons, phạm vi công cộng).

Chỉ trong 28 năm, một đảng tà giáo khoác áo chủ nghĩa cộng sản đã đi từ một tổ chức ngầm vài chục người đến chỗ giành được chính quyền ở quốc gia đông dân nhất hành tinh. Đảng này dựa vào những cuộc giết chóc tàn nhẫn và các mánh lừa xảo quyệt, nhiều lần thoát khỏi sự trừng phạt của công lý, rồi từng bước lớn mạnh. Sau đó, tổ chức ấy nắm quyền sinh sát với thân xác của hàng tỷ người Trung Quốc qua nhiều thế hệ, rồi bằng lối tẩy não, chiếm đoạt được cả thứ khó khống chế nhất: tự do tư tưởng.

Mao Trạch Đông, một trong số ít người còn trụ lại trong

13 đại biểu đầu tiên của tổ chức cộng sản tà ác này, từng tuyên bố tại phiên họp toàn thể thứ nhất của Hội nghị Hiệp thương Chính trị thuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ): “Nhân dân Trung Quốc, chiếm một phần tư nhân loại, từ nay đã đứng lên”. Thế nhưng lịch sử sau đó lạnh lùng chứng minh nhân dân Trung Quốc chưa bao giờ đứng lên, mà đến nay còn quỳ đến mức tàn phế.

Trung Hoa của chúng ta là một đất nước đường hoàng, có 5.000 năm văn minh truyền thừa, có tấm lòng thành kính Trời, tin Phật, từng được các dân tộc khác ca ngợi là xứ sở lễ nghĩa. Vậy mà dưới 77 năm cai trị tà ác của cộng sản, đất nước ấy đã sa sút đến mức thê thảm, khiến người nước ngoài hoàn toàn không hiểu nổi, không chấp nhận nổi, thậm chí chế giễu, khinh miệt. Có thể nói, 77 năm này là thời đại khiến người Trung Quốc suy sụp nhất kể từ khi nhà Thanh bại vong.

Truy đến tận gốc, thủ phạm đẩy văn minh Trung Hoa đến bờ diệt vong chính là ĐCSTQ, đảng được thế lực nước ngoài hậu thuẫn.

Nhân ngày quốc tang lần thứ 77, chúng ta hãy lật lại chiếc đồng hồ cát của ký ức, điểm lại từng tai họa mà tà đảng ĐCSTQ đã gây ra cho Trung Quốc, để lấy chuyện xưa soi chuyện nay, tránh xa bức tường sắp đổ.

Mao Trạch Đông dùng bạo lực lật đổ văn minh truyền thống Trung Hoa

Sau khi nhà nước của ĐCSTQ ra đời, Mao Trạch Đông phát động hàng loạt phong trào chính trị quy mô lớn để củng cố chính quyền và cải tạo Trung Quốc truyền thống thành thể chế xã hội chủ nghĩa theo kiểu “bố Nga”. Một đảng đã nắm chính quyền mà vẫn dùng thủ đoạn như vậy để hành hạ nhân dân giữa thời bình là điều hiếm thấy trong lịch sử.

Các phong trào này mang danh “đấu tranh giai cấp”, “chống xét lại, phòng xét lại” hay “xây dựng chủ nghĩa xã hội”, nhưng lần nào cũng dùng thủ đoạn xúi quần chúng đấu nhau, cái giá phải trả là xã hội bị xé nát, vô số sinh mạng bị tổn hại. Ảnh hưởng sâu xa đến mức nhiều thế hệ người Trung Quốc và giới sử học đều câm như hến.

Cải cách ruộng đất và trấn áp phản cách mạng (1950–1953)

Một phát minh lớn của “vua phong trào” Mao Trạch Đông là chia người dân theo “giai cấp”, xếp thành đủ mọi đẳng cấp để cai trị, kích động “quần chúng đấu quần chúng”, còn bản thân thì ngồi không hưởng lợi.

Những ngày đầu cầm quyền, ĐCSTQ trước hết phát động cái gọi là “cải cách ruộng đất”, tuyên bố xóa bỏ chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến, chia ruộng của địa chủ cho nông dân, và cùng lúc tiêu diệt những “kẻ thù giai cấp” tiềm tàng.

Song song là phong trào trấn áp phản cách mạng, nhằm tiêu diệt số quan chức còn lại của Trung Hoa Dân Quốc, các “đặc vụ” theo cách ĐCSTQ quy kết, bọn cường hào ác bá và đủ loại “phần tử phản cách mạng”.

Cải cách ruộng đất phần lớn diễn ra theo lối tổ chức Đảng huy động quần chúng đấu tố, mở đại hội kể khổ, quy thành phần giai cấp. Rất nhiều địa chủ, phú nông bị đấu tố, đánh đập, quản chế, thậm chí xử tử. Còn trong phong trào trấn áp phản cách mạng, công an các địa phương phối hợp với quần chúng thi hành chỉ lệnh “giết, giam, quản chế”.

Về sau, nhà cầm quyền thừa nhận khoảng 710 nghìn người bị xử tử trong phong trào trấn áp phản cách mạng. Giới học thuật ước tính cải cách ruộng đất khiến từ vài trăm nghìn đến một triệu người chết vì bị đấu tố, tự sát hoặc bị xử tử.

Hai phong trào này xóa sổ tầng lớp thân sĩ nông thôn cũ và định hình lại hoàn toàn trật tự xã hội ở cơ sở. Chúng còn gieo mầm “thuyết thành phần”, khiến nhãn “địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phần tử xấu” trở thành vết nhơ chính trị mà nhiều thế hệ khó gột bỏ.

Nỗi sợ hãi do vô số án oan và hành động quá khích gieo vào xã hội cũng trở thành khuôn mẫu để về sau liên tục lấy “đấu tranh giai cấp” huy động quần chúng. Khái niệm “kẻ thù” bị nới rộng, mở đầu tiền lệ dùng phong trào quần chúng thay cho pháp trị.

Tam phản, Ngũ phản và Túc phản (1951–1955)

Làm xong cải cách ruộng đất ở nông thôn, chính quyền Mao chĩa mũi nhọn sang công thương nghiệp tư nhân ở thành thị và các cơ quan Đảng, chính quyền. Phong trào Tam phản (chống tham ô, chống lãng phí, chống quan liêu) nhắm vào cơ quan nhà nước. Ngũ phản (chống hối lộ, chống trốn lậu thuế, chống ăn cắp tài sản nhà nước, chống ăn bớt nguyên vật liệu, chống ăn cắp tình báo kinh tế nhà nước) nhắm vào giới công thương. Tiếp đó, phong trào Túc phản truy xét thêm “phản cách mạng” và “phần tử Hồ Phong”. Mục đích của các phong trào này là chấn chỉnh tác phong cán bộ, đánh lui “cuộc tấn công của giai cấp tư sản”.

Trong Tam phản, Ngũ phản, người ta dùng thủ đoạn “bức, cung, tín”. “Bức” là dùng nhục hình, hành hạ tinh thần hoặc thẩm vấn đến kiệt sức, không cho ngủ, để ép người bị thẩm vấn nhận tội. “Cung” là người thẩm vấn dựa quá mức, hoặc chỉ dựa vào lời khai mà người bị thẩm vấn đưa ra dưới nhục hình. “Tín” là người thẩm vấn mù quáng tin vào “lời khai” có được nhờ “bức”, không điều tra khách quan mà kết tội luôn.

Tam phản, Ngũ phản gây ra rất nhiều vụ tự sát và án sai. Còn Túc phản gây tổn thương nặng nề cả tinh thần lẫn thể xác cho giới trí thức và cán bộ cơ quan; nhiều người tự sát hoặc suy sụp.

Những phong trào ấy khiến giới công thương mất niềm tin, giới trí thức im bặt, còn sự cảnh giác với “hữu khuynh” trong Đảng càng bị đẩy lên cao.

Chống cánh hữu (1957)

Sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1956, Mao Trạch Đông đưa ra chủ trương “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, khuyến khích người ngoài Đảng và giới trí thức lên tiếng góp ý. Tuy nhiên, khi lời phê bình chạm đến thể chế và hạt nhân quyền lực, phong trào nhanh chóng đảo chiều. Ý kiến khác biệt bị chính quyền quy là “phái hữu tư sản tấn công Đảng”, và cuộc thanh trừng lập tức bắt đầu.

Chính quyền thừa nhận khoảng 550 nghìn người bị quy là phần tử cánh hữu. Còn theo một báo cáo nội bộ đã giải mật của Phòng Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương ĐCSTQ và một số cơ quan khác, lưu truyền ở hải ngoại và trong dân gian, số người bị quy là phần tử cánh hữu lên tới 3.178.470. Ngoài những người chính thức bị quy là cánh hữu, còn hơn 1.430.000 người bị xếp vào diện “phần tử trung hữu”.

Các học giả Đinh Trữ, Dương Kế Thằng và một số người khác công bố kết quả nghiên cứu cho thấy số phần tử cánh hữu chết tại những trại lao cải khét tiếng như Giáp Biên Câu ở Cam Túc hay Hưng Khải Hồ ở Hắc Long Giang nhiều đến kinh người. Trại Giáp Biên Câu từng giam hơn 3.000 phần tử cánh hữu. Trong nạn đói lớn quanh năm 1960, vì đói cùng cực, bị ngược đãi và lao dịch nặng nhọc, cuối cùng trại chỉ còn vài trăm người sống sót, tỷ lệ tử vong trên 70%.

Tuyệt đại đa số phần tử cánh hữu là tinh hoa trí thức, nhân sĩ dân chủ và cán bộ dám nói thẳng. Nhiều người bị hủy hoại lâu dài cả tinh thần lẫn thể xác. Dựa trên con số năm 1978, khi cả nước chỉ còn 550 nghìn phần tử cánh hữu, Bảo tàng Nhân quyền ước tính trong 20 năm, số phần tử cánh hữu chết vì bị hành hạ trong trại lao giáo, vì đói và tự sát là hơn vài trăm nghìn người, thậm chí có ý kiến cho rằng con số này lên tới một triệu.

Chống cánh hữu là cuộc thanh trừng tinh hoa trí thức quy mô lớn đầu tiên kể từ khi ĐCSTQ lập chính quyền, khiến giới trí thức và không gian thảo luận công cộng của Trung Quốc bị trọng thương. Suốt mấy chục năm sau, “phần tử cánh hữu” trở thành tầng lớp cùng đinh về chính trị, còn bầu không khí xã hội chuyển sang xu nịnh và im lặng.

Phong trào này chứng minh sách lược “dụ rắn ra khỏi hang” của Mao Trạch Đông có thể dễ dàng biến người phê bình thiện ý thành kẻ thù chính trị, và khiến sự khoan dung của ĐCSTQ với ý kiến khác biệt rơi xuống mức đóng băng.

Đại nhảy vọt và công xã nhân dân (1958–1962)

Đây là cơn nôn nóng của Mao Trạch Đông và ĐCSTQ muốn “đuổi kịp Anh, vượt Mỹ”, nhanh chóng thực hiện chủ nghĩa cộng sản. Dưới khẩu hiệu “lấy thép làm cương lĩnh”, “lấy lương thực làm cương lĩnh”, những thí nghiệm tai họa như đại luyện gang thép, bếp ăn tập thể, “phóng vệ tinh” và công xã nhân dân tràn khắp cả nước.

Sức lao động nông thôn bị rút đi để “đại luyện gang thép”, việc “đẩy mạnh bếp ăn tập thể” gây lãng phí lương thực, còn quan chức các cấp vì muốn chiều lòng cấp trên mà điên cuồng “báo cáo khống sản lượng”. Nhà cầm quyền dựa vào sản lượng khống đó để cưỡng ép trưng thu lương thực ở mức cao, vét sạch khẩu phần của nông dân.

Đại nhảy vọt để lại hậu quả lịch sử vô cùng thảm khốc, là một trong những thảm họa kinh tế và nhân đạo nghiêm trọng nhất kể từ khi ĐCSTQ lập chính quyền.

Giới học thuật trong và ngoài nước (trong đó có cựu Cục trưởng Cục Thống kê Quốc gia Lý Thành Thụy) đều thừa nhận có ít nhất từ 15 triệu đến 45 triệu người chết đói và chết vì suy dinh dưỡng.

Hậu quả tai họa của Đại nhảy vọt là kinh tế thụt lùi, dân số giảm mạnh, niềm tin xã hội sụp đổ. Nguy hại hơn, phong trào này phơi bày sự nguy hiểm của sùng bái cá nhân và việc thiếu cơ chế sửa sai: khi người ra quyết định cao nhất khăng khăng đi theo đường lối sai, gần như không ai có thể ngăn cản hiệu quả.

Là sản phẩm điển hình của sự kết hợp giữa cơn bốc đồng không tưởng và quyền lực tập trung, Đại nhảy vọt đã để “đúng đắn chính trị” đè bẹp lẽ thường và khoa học. Cái giá phải trả là sinh mạng của hàng chục triệu người Trung Quốc.

Giáo dục xã hội chủ nghĩa (phong trào “Tứ thanh”, 1963–1966)

Sau khi phạm sai lầm lớn, để kìm nén oán giận của dân, Mao Trạch Đông lại nhấn mạnh đấu tranh giai cấp phải “năm nào cũng nói, tháng nào cũng nói, ngày nào cũng nói”. Ông cử rất nhiều đội công tác về nông thôn, vận động bần nông, hạ trung nông tố giác cán bộ. Đó là phong trào “Tứ thanh” (làm trong sạch chính trị, kinh tế, tổ chức, tư tưởng), mang danh ngăn ngừa “chủ nghĩa tư bản phục hồi”.

Thế là rất nhiều cán bộ cơ sở bị đấu tố, cách chức, một số nơi xảy ra hành động quá khích và án oan. Căng thẳng xã hội và nỗi sợ hãi trong giới cán bộ tăng lên rõ rệt.

Kết quả là luận điệu đấu tranh giai cấp của Mao càng được củng cố, chuẩn bị sẵn về tổ chức và tâm lý cho cuộc Cách mạng Văn hóa ngay sau đó.

Cách mạng Văn hóa (1966–1976)

Đây là phong trào kéo dài nhất và khốc liệt nhất kể từ khi ĐCSTQ lập chính quyền. Mao Trạch Đông phát động phong trào để giành lại quyền lực, thanh trừng đối thủ trong Đảng và nhào nặn một ý thức hệ trung thành.

Năm 1966, Cách mạng Văn hóa bùng nổ. Hồng vệ binh, phái tạo phản, đội tuyên truyền công nhân, đội tuyên truyền quân đội lần lượt xuất hiện. Đấu tố, lục soát nhà, đánh nhau bằng vũ lực và đoạt quyền lan khắp cả nước.

Cách mạng Văn hóa là một trong những phong trào ĐCSTQ tàn hại người Trung Quốc khốc liệt nhất, vì thế được gọi là “10 năm đại nạn”.

Các lãnh đạo ĐCSTQ như Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài bị bức hại đến chết, vô số trí thức, cán bộ và thường dân tan cửa nát nhà. Văn vật, di tích cổ, sách vở bị hủy hoại, giáo dục gián đoạn 10 năm, kinh tế đình trệ, đạo đức xã hội tuột dốc, pháp trị sụp đổ hoàn toàn.

Theo tài liệu được trích dẫn, tại lễ bế mạc Hội nghị Công tác Trung ương ĐCSTQ ngày 13/12/1978, cựu Phó Chủ tịch ĐCSTQ Diệp Kiếm Anh từng tiết lộ: “Trong Cách mạng Văn hóa, 20 triệu người chết, 100 triệu người bị trù dập, chiếm một phần chín dân số cả nước, 800 tỷ nhân dân tệ bị lãng phí”.

Cách mạng Văn hóa không chỉ gây tổn thất to lớn về sinh mạng và vật chất, mà còn làm tổn thương sâu sắc cấu trúc tinh thần của dân tộc Trung Hoa: lòng tin, lý trí và sự tôn trọng tối thiểu đối với con người. Đến năm 1976, khi Mao Trạch Đông qua đời, phong trào mới kết thúc.

Đặng Tiểu Bình dùng bạo lực chặn đứng sự phục hưng của văn minh Trung Hoa

Khi Mao Trạch Đông chết, nhà nước ĐCSTQ tan hoang khắp nơi, dân chúng lầm than, đã đến bờ sụp đổ. Lòng dân khao khát đổi thay.

Được các nguyên lão trong Đảng ủng hộ, Đặng Tiểu Bình gạt ra ngoài lề Hoa Quốc Phong, người đã bắt “Bè lũ bốn tên” và chấm dứt Cách mạng Văn hóa. Trên lĩnh vực ý thức hệ, ông phát động cuộc thảo luận lớn về “thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý”, phá bỏ “hai phàm là”, tức sự sùng bái cá nhân Mao, dọn sạch chướng ngại tư tưởng để ĐCSTQ tìm lối thoát.

Tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XI, ông Đặng chuyển trọng tâm công tác sang xây dựng kinh tế. Sau đó, ông công nhận “khoán sản phẩm đến hộ” ở nông thôn, lập các đặc khu kinh tế như Thâm Quyến, thu hút vốn nước ngoài, lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, đưa ra “một quốc gia, hai chế độ” cho Hồng Kông, Ma Cao… Những việc đó bước đầu làm dịu cơn phẫn nộ của nhân dân Trung Quốc đối với ĐCSTQ.

Tuy nhiên, “cuộc thảm sát Thiên An Môn ngày 4/6” năm 1989 khiến ĐCSTQ lại lộ nguyên hình.

Là người ra quyết định cao nhất và là Chủ tịch Quân ủy, Đặng Tiểu Bình ra lệnh điều quân đội ĐCSTQ tiến vào thủ đô, dùng vũ lực dọn sạch quảng trường, tàn sát sinh viên và thị dân thỉnh nguyện ôn hòa. Ông ta đã phạm tội diệt chủng và tội ác chống lại loài người, những tội không thể tha thứ.

Sự kiện 4/6 một lần nữa chứng minh rằng dù ai cầm quyền, bản chất của chế độ toàn trị ĐCSTQ vẫn là vô nhân tính.

Giang Trạch Dân dùng bạo lực và dục vọng tàn phá dân tộc Trung Hoa

Giang Trạch Dân, kẻ giẫm lên máu các liệt sĩ ngày 4/6 để lên nắm quyền, là một tên hề hiếm có trong số các lãnh đạo ĐCSTQ.

Học giả Đại Lục Lữ Gia Bình từng công khai cáo buộc Giang là Hán gian làm tay sai cho chính quyền bù nhìn thân Nhật, gián điệp của Liên Xô, đảng viên giả, con liệt sĩ giả. Sau khi leo lên ghế lãnh đạo ĐCSTQ, Giang nhanh chóng trở thành kẻ bán nước, bán lãnh thổ Trung Quốc cho Nga.

Trong 10 năm tại vị, Giang cũng làm vô số việc xấu xa. Trước hết, ông ta mở đường bằng câu “im lặng mà phát tài lớn”, lái lòng dân đang căm phẫn, bi quan sau sự kiện 4/6 sang “quyền, tiền, sắc”. Ông ta cũng bị người dân khinh bỉ vì dan díu với một số ca sĩ, minh tinh, người dẫn chương trình.

Ông ta phá hủy giới hạn đạo đức của xã hội Trung Quốc, khiến danh lợi và sắc dục tràn ngập chốn quan trường lẫn mọi góc xã hội. Khắp Trung Quốc, tham quan, gái mại dâm nhan nhản, còn sự lương thiện, chân thành thì bị ruồng bỏ.

Năm 1992, Pháp Luân Đại Pháp được Đại sư Lý Hồng Chí truyền rộng ra công chúng, như một dòng nước trong gột rửa xã hội và lòng người. Trong 7 năm, hơn 100 triệu người theo tu luyện, vô số người được tịnh hóa thân thể, thăng hoa về đạo đức và tình cảm.

Thế nhưng, năm 1999, vì đố kỵ với sức gắn kết của Pháp Luân Công và sợ số người tu luyện Chân-Thiện-Nhẫn quá đông, Giang Trạch Dân ngang nhiên phát động chiến dịch tà ác đàn áp cộng đồng Pháp Luân Công. Ông ta thậm chí không ngại xúi giục tay chân cưỡng bức thu hoạch nội tạng của học viên Pháp Luân Công, chà đạp lên giới hạn mà nhân loại có thể hình dung.

Giang từng gào thét sẽ tiêu diệt Pháp Luân Công trong 3 tháng. Rốt cuộc, ông ta dốc sức cả nước đàn áp cho đến tận lúc chết mà chẳng đạt được kết quả gì. Ngược lại, Pháp Luân Đại Pháp đã truyền khắp hơn 150 quốc gia và được thế giới ca ngợi.

Tập Cận Bình dùng quan lại hà khắc và toàn trị kỹ thuật số để tự bảo vệ mình, bỏ lại một Trung Quốc dở dang

Khi Tập Cận Bình cầm quyền năm 2012, nhà nước ĐCSTQ đã vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Lẽ ra ông có thể thuận theo ý Trời mà hành động, nhưng vì tầm nhìn chính trị hạn hẹp của một “hồng nhị đại” (thế hệ đỏ thứ hai) và ảo tưởng về chế độ toàn trị của ĐCSTQ, ông đã từng bước đánh hỏng một ván bài đẹp.

Trong thời gian đó, vô số người có hiểu biết đã dâng thư, nhắn lời, mong ông nắm lấy cơ hội ngàn năm có một để diệt cộng sản, phục hưng đất nước, đưa dân tộc Trung Hoa tái sinh. Nhưng rốt cuộc, không ai khiến ông quay đầu được.

Ngày nay, kinh tế Trung Quốc đã sa sút đến mức thảm hại. Vốn ngoại ồ ạt rút đi, doanh nghiệp tư nhân đóng cửa hàng loạt, hơn 100 triệu người thất nghiệp, “nằm thẳng”, sống bám cha mẹ, “ghép bữa, ghép giường” (góp chung bữa ăn, chỗ ngủ để tiết kiệm).

Trong tuyệt vọng, giới giàu có di cư hàng loạt, dân nghèo tầng đáy kéo nhau “tẩu tuyến” vượt biên, và nhà nước ĐCSTQ đã trở thành quốc gia có nhiều người xin tị nạn nhất thế giới.

Điều người ngoài khó hiểu nhất là hình tượng mà ông Tập tự dựng cho mình.

Ông không có năng lực của Mao Trạch Đông, không có sự xảo quyệt của Đặng Tiểu Bình, nhưng lúc nào cũng tự thấy mình giỏi. Ông tự cho rằng chỉ cần dùng quan lại hà khắc trấn áp “phản tặc” trong quan trường, sai khiến các tập đoàn công nghệ lớn dùng kỹ thuật tiếp sức cho chế độ toàn trị kỹ thuật số, theo dõi sát sao, kìm kẹp chặt người Trung Quốc… thì có vẻ như thế là đủ để cầm quyền lâu dài.

Đặc biệt, ông vừa tuyên bố với Tổng thống Mỹ Donald Trump rằng mình sẽ hoàn thành công cuộc phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa. Thế nhưng điều thế giới bên ngoài thấy lại là ông ra sức đàn áp người Trung Quốc và các dân tộc thiểu số vốn kế thừa đức tin Thần Phật hàng ngàn năm. Một triệu người Duy Ngô Nhĩ bị tàn sát, tẩy não, giam trong trại tập trung. Tín đồ Phật giáo Tây Tạng bị buộc phải bày tỏ lòng trung thành chính trị với ĐCSTQ và Tập Cận Bình.

Nhất là ông Tập đã nối gót Giang Trạch Dân, tiếp tục đàn áp Pháp Luân Công, trong đó có cuộc bắt bớ quy mô lớn “709” nhằm vào nhóm luật sư nhân quyền từng bào chữa cho Pháp Luân Công. Giới tinh hoa Trung Quốc thực sự khinh bỉ điều này.

Hai năm qua, ông thậm chí còn chỉ thị đặc vụ an ninh quốc gia và tay chân trong hệ thống mặt trận thống nhất đàn áp xuyên quốc gia các học viên Pháp Luân Công và những người bất đồng chính kiến. Các quốc gia văn minh vì thế hết sức cảnh giác và bài xích.

Phải nói rằng ông đã đặt mình vào vị trí hết sức sai lầm trước người Trung Quốc trong và ngoài nước, chẳng khác nào tự tay xác nhận lời đồn đang lan rộng về “đời lãnh đạo ĐCSTQ cuối cùng”.

Tóm lại, trong 77 năm, ĐCSTQ đã trực tiếp gây ra cái chết bất thường cho gần 100 triệu người Trung Quốc. Con số này chưa kể 400 triệu hài nhi bị giết bởi chính sách kế hoạch hóa gia đình tàn ác, và hàng trăm triệu người chết vì đại dịch virus ĐCSTQ cùng vắc-xin độc hại của nó.

ĐCSTQ chính là tai tinh của dân tộc Trung Hoa, kẻ thù không đội trời chung của nhân dân Trung Quốc. Nó nhất định sẽ bị thanh toán triệt để trong tương lai không xa. Hỡi những đồng bào hiểu rõ đại nghĩa, xin hãy lập tức cắt đứt triệt để với đảng ma giáo này cả về tổ chức lẫn tinh thần, để khi thiên kiếp Thần diệt ĐCSTQ nổ ra, áo quần mình không bị máu đen của nó vấy bẩn.

Theo Vi Thác / Epoch Times

(Bài viết thể hiện quan điểm riêng của cá nhân tác giả.)