Người ta lo sợ thuốc giả, nhưng ít ai ngờ rằng ngay cả thuốc thật đôi khi cũng mang trong mình những bản báo cáo khoa học giả mạo để vượt qua các cánh cửa kiểm định.

Ảnh: Shutterstock

Dưới đây là 4 trong số nhiều công trình nghiên cứu dược phẩm đã được làm giả số liệu trước khi bị đưa ra ánh sáng mà có thể bạn chưa biết nhiều về nó.

1. Thử nghiệm lâm sàng nghiên cứu 329 về hoạt chất Paroxetine

Vào cuối thập niên 1990, tập đoàn SmithKline Beecham (sau này sáp nhập thành GlaxoSmithKline – GSK) đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng mang mã số “Nghiên cứu 329”. Mục tiêu của công trình là đánh giá hiệu quả và độ an toàn của thuốc chống trầm cảm ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI) paroxetine (tên thương mại Paxil hoặc Seroxat) trên nhóm đối tượng bệnh nhân từ 12 đến 18 tuổi được chẩn đoán mắc chứng trầm cảm nặng.

Năm 2001, kết quả nghiên cứu được xuất bản trên Tạp chí của Viện Hàn lâm Tâm thần Nhi đồng và Vị thành niên Hoa Kỳ do Martin Keller đứng tên tác giả chính. Báo cáo này kết luận paroxetine nhìn chung dung nạp tốt và chứng minh được hiệu quả điều trị đối với thanh thiếu niên.

Tuy nhiên, các cuộc thanh tra và tài liệu nội bộ sau đó bị công khai thông qua các vụ kiện tụng cho thấy các chỉ tiêu đánh giá chính ban đầu đã không đạt được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với giả dược. Đồng thời, dữ liệu an toàn ghi nhận sự gia tăng của các biến cố bất lợi liên quan đến hành vi tự hủy hoại và ý nghĩ tự sát ở nhóm sử dụng thuốc so với nhóm dùng giả dược.

Gia tăng hành vi tự hủy hoại và ý nghĩ tự sát ở nhóm sử dụng thuốc so với nhóm dùng giả dược. (Ảnh: Stanislaw Mikulski/Shutterstock)

Đến năm 2012, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ hoàn tất vụ dàn xếp gian lận chăm sóc sức khỏe với GSK trị giá 3 tỷ USD, bao gồm các cáo buộc liên quan đến việc tiếp thị paroxetine cho nhóm bệnh nhân dưới 18 tuổi khi chưa được phê duyệt chỉ định và báo cáo sai lệch kết quả nghiên cứu.

Năm 2015, một nhóm nhà nghiên cứu độc lập thuộc sáng kiến RIAT đã tái phân tích lại bộ dữ liệu gốc của Nghiên cứu 329 và công bố kết quả trên tạp chí The BMJ, xác nhận rằng paroxetine không chứng minh được hiệu quả vượt trội hơn giả dược và làm tăng nguy cơ gặp các biến cố bất lợi nghiêm trọng.

2. Thử nghiệm VIGOR và việc thu hồi thuốc giảm đau Rofecoxib

Năm 1999, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép lưu hành cho rofecoxib (Vioxx), một loại thuốc chống viêm không steroid (NSAID) thế hệ mới do hãng dược Merck phát triển, hoạt động theo cơ chế ức chế chọn lọc enzyme cyclooxygenase-2 với mục tiêu giảm nguy cơ viêm loét đường tiêu hóa so với các thuốc NSAID truyền thống.

Để chứng minh ưu thế này, Merck đã triển khai thử nghiệm VIGOR trên hơn 8,000 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, so sánh rofecoxib với naproxen, và công bố kết quả trên tạp chí The New England Journal of Medicine vào tháng 11 năm 2000. Báo cáo ghi nhận rofecoxib giảm 50% biến chứng đường tiêu hóa nghiêm trọng.

(Ảnh: Ahmet Misirligul/ Shutterstock)

Tuy nhiên, bài báo chỉ báo cáo dữ liệu biến cố nhồi máu cơ tim tính đến một mốc cụ thể, bỏ qua 3 trường hợp nhồi máu cơ tim xuất hiện sau mốc này ở nhóm dùng rofecoxib. Sự chênh lệch tỷ lệ biến cố tim mạch giữa hai nhóm được bài báo quy cho tác dụng “bảo vệ tim mạch” của naproxen hơn là độc tính trực tiếp của rofecoxib.

Tháng 8 năm 2001, các nhà tim mạch học độc lập tại Phòng khám Cleveland đã công bố một phân tích trên tạp chí JAMA, chỉ ra nguy cơ tim mạch gia tăng rõ rệt từ dữ liệu VIGOR.

Đến tháng 9 năm 2004, sau khi thử nghiệm APPROVe ghi nhận tỷ lệ nhồi máu cơ tim và đột quỵ tăng gấp đôi ở nhóm dùng thuốc kéo dài trên 18 tháng, Merck đã tự nguyện rút Vioxx khỏi thị trường toàn cầu. Tạp chí NEJM sau đó đã đưa ra thông báo đính chính về các thiếu sót dữ liệu trong bài báo xuất bản năm 2000.

3. Vụ làm giả số liệu nghiên cứu của bác sĩ Scott Reuben

Scott Reuben từng giữ chức danh Giáo sư Gây mê tại Trường Y Đại học Tufts và là Trưởng khoa Đau cấp tính tại Trung tâm Y tế Baystate ở Springfield, Massachusetts. Ông từng được coi là một chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực “giảm đau đa mô thức”, ủng hộ việc phối hợp các thuốc giảm đau không opioid trước và sau phẫu thuật.

Năm 2009, qua một cuộc kiểm tra nội bộ định kỳ tại Trung tâm Y tế Baystate, người ta phát hiện ra nhiều nghiên cứu của Reuben không hề có hồ sơ bệnh nhân thực tế hoặc không thông qua hội đồng y đức. Các cuộc điều tra chính thức xác định Scott Reuben đã tự tạo ra số liệu và kết quả nghiên cứu trong ít nhất 21 công trình được công bố từ năm 1996 đến 2008 trên các tạp chí chuyên ngành gây mê và giảm đau.

Nội dung các bài báo giả mạo này chủ yếu ca ngợi hiệu quả giảm đau sau mổ của các chất ức chế chọn lọc COX-2 như celecoxib (Celebrex) và valdecoxib (Bextra), các sản phẩm do hãng Pfizer sản xuất. Đổi lại, Reuben đã nhận các khoản tài trợ nghiên cứu từ các công ty dược. Năm 2010, Scott Reuben bị tòa án liên bang kết án 6 tháng tù giam, 3 năm quản chế, phạt tiền và tịch thu tài sản vì tội gian lận tài chính. Các tạp chí y khoa đã chính thức rút lại hàng loạt công trình liên quan đến tên tuổi của ông.

4. Quy trình lựa chọn nhóm chứng trong các thử nghiệm vaccine HPV

Trong quá trình phê duyệt vaccine ngừa virus papilloma ở người (HPV) nhắm vào các type gây ung thư cổ tử cung (điển hình là Gardasil do hãng Merck sản xuất vào giữa thập niên 2000), thiết kế của các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mù đôi giai đoạn II và III đã trở thành đối tượng của các báo cáo phân tích phương pháp học.

Hồ sơ nộp lên FDA ghi nhận rằng ở một số nhánh thử nghiệm đánh giá độ an toàn, nhóm đối chứng không được tiêm dung dịch muối sinh lý vô trùng mà được tiêm dung môi chứa chất bổ trợ nhôm, là thành phần tăng cường miễn dịch có mặt trong công thức vaccine thực tế. Mục đích thiết kế của nhà sản xuất là để đánh giá tính sinh miễn dịch và phản ứng của riêng kháng nguyên protein L1 của virus khi so sánh với chất nền.

(Ảnh: Leigh Prather/shutterstock)

Tuy nhiên, các nhà phân tích phương pháp nghiên cứu và một số tổ chức độc lập đã chỉ ra rằng việc sử dụng chất bổ trợ hoạt tính làm nhóm chứng thay vì chất trơ sinh học khiến việc phân lập và so sánh tỷ lệ các tác dụng phụ toàn thân hoặc phản ứng viêm do bản thân muối nhôm gây ra trở nên phức tạp hơn về mặt thống kê.

5. Tuyên bố của các tổng biên tập tạp chí y khoa quốc tế

Sự gia tăng tầm ảnh hưởng của các khoản tài trợ thương mại đối với quy trình bình duyệt và xuất bản học thuật đã được các nhà lãnh đạo của hai trong số các tạp chí y khoa lâu đời nhất thế giới nêu ra trong các bài viết chính thức.

Tiến sĩ Marcia Angell, người từng giữ cương vị tổng biên tập của The New England Journal of Medicine, đã công bố một bài phân tích vào năm 2009 với nhan đề “Drug Companies & Doctors: A Story of Corruption”. Trong văn bản này, bà đưa ra nhận định:

“Đơn giản là không thể tiếp tục tin tưởng phần lớn các nghiên cứu lâm sàng được công bố, hoặc dựa vào phán đoán của các bác sĩ đáng tin cậy hay các hướng dẫn y khoa có thẩm quyền. Tôi không hề thấy vui vẻ khi đi đến kết luận này, điều mà tôi đã dần nhận ra một cách miễn cưỡng trong suốt hai thập kỷ làm biên tập viên của tờ The New England Journal of Medicine”.

Năm 2015, Tiến sĩ Richard Horton, tổng biên tập của tạp chí y khoa The Lancet, đã viết một bài bình luận sau một hội nghị bàn tròn về độ tin cậy của nghiên cứu y sinh học do Viện hàn lâm khoa học y tế Anh tổ chức:

“Phần lớn các tài liệu khoa học, có lẽ tới một nửa, có thể chỉ đơn giản là sai sự thật. Bị ảnh hưởng bởi các nghiên cứu với cỡ mẫu nhỏ, hiệu ứng nhỏ xíu, các phân tích thăm dò không hợp lệ, cùng các xung đột lợi ích trắng trợn, đi kèm với nỗi ám ảnh theo đuổi các xu hướng thời thượng có tầm quan trọng đáng ngờ, khoa học đã rẽ sang hướng tăm tối”.

Cả hai văn bản trên hiện vẫn được lưu trữ công khai trong các hệ thống tư liệu học thuật quốc tế như những tài liệu tham khảo chính thức về các vấn đề xung đột lợi ích và quản lý chất lượng nghiên cứu y sinh học.

Thanh Long t/h