Phạm Đình Hổ là danh sĩ thời nhà Nguyễn, ngày này tên ông được đặt cho nhiều con phố. Ông để lại nhiều tác phẩm, trong đó có 2 tác phẩm được giới nghiên cứu đánh giá rất cao.

Nguyễn Công Trứ: Từ Đại tướng quân trở thành lính hầu vẫn tận tụy công việc của mình
(Tranh minh họa: Họa sĩ Sỹ Hòa, Báo Bình Phước Online)

Xuất thân

Họ Phạm là họ lớn định cư ở làng Đọc thuộc xã Đan Loan, huyện Đường An, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Nguyễn Lương Bằng, thành phố Hải Phòng). Làng Đọc có nghề truyền thống là nhuộm, dân chúng trong làng nhờ đó mà dần trở nên giàu có, vì thế mà dân gian vẫn lưu truyền câu vè: “Tiền làng Đọc, thóc làng Nhữ, chữ làng Chằm”.

Họ Phạm ở làng Đọc đến đời thứ 4 thì trở nên giàu có, nhiều người đỗ đạt làm quan. Từ đó họ Phạm làng Đọc có truyền thống khoa bảng.

Đến thời Lê Trung Hưng, họ Phạm làng Đọc có Phạm Đình Dư, hiệu là Diệc Hiên, giỏi văn võ và lý số, nhưng thi cử chỉ đỗ đến Hương cống.

Phạm Đình Dư đến Thăng Long dạy cả văn lẫn võ, học trò theo học rất đông, nhiều người đỗ đạt và trở thành danh thần.

Năm 1756, Phạm Đình Dư thi đỗ khoa Tuyển cử và được bổ vào làm trong phủ Chúa, sau được cử làm Hiến sát phó sử xứ Sơn Nam, rồi Tuần phủ Sơn Tây.

Năm 1778, ông được thăng Hằng tín đại phu Thái bộc tự khanh cai quản các xứ Thanh Hoa (sau này là Thanh Hóa), hơn một năm sau thì mất.

Học trò đánh giá về Phạm Đình Dư rằng: “Tiên sinh từng là một ông thầy nổi tiếng ở Thăng Long khi đang dạy học. Khi ra làm quan ông rất được dân các xứ ông cai quản tin yêu quí mến. Bạn bè giao tiếp với ông đều là những nhân vật đã được thiên hạ kén tuyển như Bảng nhãn Lê Quí Đôn, Thám hoa Nguyễn Huy Oánh, Song nguyên Ngô Thì Sĩ, rồi Đặng Trần Côn, Đào Xuân Lan”.

Phạm Đình Dư có vợ là Phạm Thị Xuyến – con gái của Bảng nhãn Phạm Quang Trạch. Hai vợ chồng có 4 người con, trong đó người con út là Phạm Đình Hổ sinh năm 1768.

Phạm Đình Hổ sinh ra trong gia đình mà cả nội ngoại đều có truyền thống đỗ đạt khoa bảng làm quan, sống trong nhung lụa. Thế nhưng năm 1779, khi Phạm Đình Hổ 11 tuổi thì cha mất, sau đó thì lần lượt 2 anh trai và mẹ cũng qua đời trong sự bàng hoàng của gia đình.

Lúc này ở Đàng Ngoài, Triều đình Lê – Trịnh ngày càng suy yếu, quân Tây Sơn tiến quân ra bắc khiến tình hình ngày càng thêm loạn. Gia cảnh Phạm Đình Hổ trở nên sa sút nghèo khó, ông phải dạy học ở quê nhà kiếm sống.

Được nhiều lần mời làm quan

Sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước và lập ra nhà Nguyễn, tình hình đã ổn định hơn, Phạm Đình Hổ tham dự kỳ thi Hương và đỗ tam trường tức Sinh đồ. Ông đến Thăng Long học hành, kết giao với nhiều bậc danh sĩ, nổi tiếng về văn chương.

Từ khi vua Gia Long lên ngôi lập ra nhà Nguyễn đã tổ chức các kỳ thi khoa bảng, nhưng thời điểm này Giang Sơn mới thống nhất, chưa có một kỳ thi lớn, các kỳ thi chỉ ở mức độ nhỏ để tìm người tài trong lúc cấp bách.

Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi, vì thiếu người tài nên cho gọi Phan Huy Chú và Phạm Đình Hổ vốn có tiếng về văn chương đến Huế làm quan. Nhưng đúng lúc đó Phạm Đình Hổ lâm trọng bệnh nên không đi được.

Năm 1821, vua Minh Mạng có chuyến ra bắc, nghe danh Phạm Đình Hổ đã lâu nên gặp ông và đàm luận về hiện trạng đất nước, rồi nói sang văn chương và nhân tài Bắc hà. Phạm Đình Hổ trình bày kiến giải về khoa cử và nhân tài Bắc hà, rồi dâng lên Vua các cuốn sách ông viết trước đó.

Qua cuộc gặp gỡ, vua Minh Mạng rất kính nể kiến thức và tài năng của ông. Vua cho đưa ông về Huế và phong cho làm Hành tấu Viện Hàn lâm. Nhưng lúc này ông đã 54 tuổi, nên sau vài năm phụng sự ông xin từ chức.

Năm 1826, vua Minh Mạng lại mời ông đến Huế, giao cho ông chức Thừa chỉ Viện Hàn lâm. Thấy ông làm tốt công việc, Vua thăng cho ông làm Tế tửu trường Quốc Tử Giám, là chức vụ quan trọng nhất đào tạo nhân tài cho đất nước. Sau một thời gian, do tuổi cao sức yếu nên Phạm Đình Hổ xin được nghỉ.

Tuy nhiên sau đó Triều đình lại mời ông ra làm Thị giảng học sĩ. Phạm Đình Hổ phụng sự cho Triều đình đến năm 1832 thì xin nghỉ do tuổi cao.

Các tác phẩm đáng chú ý

Trong cuộc đời của mình, Phạm Đình Hổ dành nhiều thời gian khảo cứu và viết sách ở nhiều lĩnh vực khác nhau như văn học, ngôn ngữ học, văn hóa học, sử học, địa lý,… Tại thư viện của Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ được 22 tập sách của ông.

Ông có 2 cuốn sách rất nổi tiếng và được nhiều người biết đến tận ngày nay là “Vũ trung tùy bút” (Tùy bút trong mưa) và “Tang thương ngẫu lục” (Ghi chép tình cờ trong cuộc bể dâu) viết chung với Nguyễn Án.

Ngoài ra ông còn 2 tập thơ là “Đông Dã học ngôn thi tập” và “Tùng cúc liên mai tứ hữu”.

Ông cũng sưu tầm và ghi chép các sách “An Nam chí“ (ghi chép về nước An Nam), “Ai Lao sứ trình” (hành trình đi sứ Ai Lao)…

Các tác phẩm của ông là những công trình khảo cứu về lịch sử, địa lý, phong tục tập quán, văn thơ có giá trị lớn.

“Vũ trung tùy bút” và “Tang thương ngẫu lục” là hai cuốn sách rất nổi tiếng, bổ sung cho chính sử còn thiếu. “Vũ trung tùy bút” gồm nhiều truyện khác nhau bao quát nhiều thể loại, từ những câu chuyện về bậc danh nhân như Lê Lợi, Phạm Ngũ Lão; đến những cuộc du ngoạn cảnh đẹp như “Cảnh chùa Sơn Tây”, “Đền Đế Thích”; đến các chuyện khoa bảng thi cử của các danh nhân mà ông biết được. Sách cũng viết về văn hóa tập tục các vùng, khảo cứu các địa danh, chữ viết, âm nhạc.

Nhà Nghiên cứu Nguyễn Lộc đánh giá rằng:

“Những tư liệu chứa trong Vũ Trung tùy bút đều rất cần thiết cho những người viết tiểu thuyết lịch sử, dựng phim, nghiên cứu sử, dân tộc học, xã hội học… Điều cần nói nữa, đó là những nội dung ấy bao giờ ông trình bày cũng giản dị, sinh động và hấp dẫn. Và rải rác trong hầu hết các truyện, Phạm Đình Hổ đều gửi gắm những nỗi niềm tâm sự, những suy nghĩ của ông về cuộc đời, về thế thái nhân tình.”

Cuốn “Tang thương ngẫu lục” có lời tựa như sau:

“Từ Lý, Trần, Lê, Trịnh đến nay, trên dưới mấy trăm năm có những điều quốc sử chưa ghi, dã sử chưa chép; hai ông đều thu cả vào trong cõi mắt tang thương. Nếu hai ông hết thảy đều cho là việc tang thương mà quên đi, thì những chuyện ấy phỏng được mấy lâu mà mai một đi mất. May mà lấy ngòi bút tang thương biên chép, nên nó mới còn là cánh bè chở bến mê, ngọn đèn soi nhà tối; đặt tên là Tang thương ngẫu lục, ý nghĩa có thể nhận biết được vậy.”

Sách bao gồm nhiều truyện ngắn, có một ít truyện về đời trước, còn đa phần là thời Lê mạt.

Dương Quảng Hàm đánh giá rằng: “Tang thương ngẫu lục cùng với Vũ trung tùy bút đều là những tài liệu quý dùng để khảo cứu về lịch sử, địa lý, điển lễ, phong tục ở cuối đời Lê”.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phương Chi có ý kiến rằng:

“Một số lớn truyện ghi chép những giai thoại về các nhân vật lịch sử với ý thức đề cao những người đã góp công trạng trong việc gìn giữ, xây đắp và tô điểm cho nước non, xứ sở (như Nguyễn Đăng Cảo, Nguyễn Công Hãng, Đặng Trần Côn, Bà vợ thứ ông Nguyễn Kiều…). Một số truyện miêu tả một vài cảnh sinh hoạt xa hoa trong phủ chúa, cảnh những con quan ngang ngược lộng hành ngay chốn kinh thành; đối lập với đấy, là cảnh sống của các tầng lớp nhân dân đang bị bần cùng, bị đẩy ra chiến trường vì quyền lợi ích kỷ của tập đoàn thống trị (như: Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh, Quận mã Đặng Lân…). Một số truyện khác, với nghệ thuật điêu luyện, hai tác giả đã khắc họa những danh lam, thắng cảnh, những di tích… với nhiều phong vị và màu sắc (Chùa Phật Tích, Hồ Gươm…)”.

Trần Hưng

Xem thêm:

Mời xem video: