Biện Đạo (1): Nguyên nhân đạo Khổng trở nên nhỏ hẹp và bị hiểu sai
- Nguyễn Sơn Hùng
- •
NGUYÊN NHÂN ĐẠO KHỔNG
TRỞ NÊN NHỎ HẸP VÀ BỊ HIỂU SAI
Tác giả: Ogyu Sorai
Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng
*
Lời mở đầu
Tác phẩm chính yếu của Ogyu Sorai về đạo tiên vương tức đạo thánh nhân hay đạo Khổng gồm có 1) Học Tắc, 2) Biện Đạo, 3) Biện Danh, 4) Luận Ngữ Trưng.
Học Tắc có thể hiểu là các nguyên tắc hoặc quy tắccăn bản để học đạo tiên vương. Gồm có 7 bài.
Biện Đạo có thể hiểu là cần phải phân biệt cho rõ thế nào mới là đúng đạo tiên vương dùng để an dân, nghĩa là làm thế nào để quản trị xã hội con người sống được hạnh phúc, hòa bình và thịnh vượng.
Tại sao vậy? Bởi vì các Nho gia đời sau ngay cả Tử Tư và Mạnh tử vì tranh cãi với các học phái khác như Đạo giáo của Lão tử, học thuyết kiêm ái của Mặc tử… nên đã làm cho người học đời sau hiểu sai hoặc không hiểu đầy đủ trọn vẹn nội dung của đạo tiên vương. Thêm vào đó, Tống Nho vì không hiểu ngôn ngữ cổ đại có ý nghĩa khác nhiều với ngôn ngữ đương thời nên họ dùng ngôn ngữ đương thời mà giải thích đạo tiên vương theo ý riêng của họ. Ngoài ra, đương thời Đạo giáo và Phật giáo được xã hội yêu chuộng hơn, nên Tống Nho cũng có khuynh hướng giải thích đạo Khổng theo lý luận của 2 phái này. Biện Đạo gồm có 25 bài.
Do ý nghĩa ngôn từ của cổ đại khác với đời sau nên cần phải hiểu ý nghĩa chính xác các tên gọi, ngôn từ trong các kinh sách cổ điển được truyền lại như đạo, đức, nhân, trí, thánh,lễ, nghĩa, hiếu đễ, trung tín, thành, cung kính, dũng, tính tình, vật, quân tử tiểu nhân… mới có thể đúng nội dung của đạo tiên vương (đạo Khổng). Biện danh là tác phẩm Sorai giải thích ý nghĩa cổ đại của các từ vựng trọng yếu nói trên.
Như chúng ta đã biết sách Luận Ngữ là sách ghi lại các lời của Khổng tử về đạo tiên vương. Bởi vì ông ngưỡng mộ đạo tiên vương và không muốn thất truyền nên ông truyền lại cho các đệ tử của ông để họ áp dụng giúp ích xã hội và truyền đạt cho đời sau. Chính ông cũng đã nói ông chỉ truyền ylại nội dung của các tiên vương để lại chứ không phải ông tự đặt ra (1).
Trưng (徴) có nghĩa chứng cớ. Sorai soạn Luận Ngữ Trưng để giải thích ý nghĩa của Khổng tử muốn truyền đạt trong sách Luận Ngữ bằng các dẫn chứng các ý nghĩa đã được truyền giảng trong lục kinh (kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ, kinh Nhạc, kinh Dịch, kinh Xuân Thu) mà Khổng tử đã thu thập biên soạn.
Người dịch đã giới thiệu tác phẩm Học Tắc gồm có 7 bài.Kế tiếp sẽ cố dịch tác phẩm Biện Đạo và Luận Ngữ Trưng. Biện Danh có rất nhiều từ vựng nên sẽ chọn những từ quan trọng biên dịch trước để giới thiệu.
Bài 1 này là 1 trong những bài trọng yếu của 25 bài của Biện Đạo cho chúng ta biết nguyên nhân đã gây ra sự suy yếu của đạo Khổng do chính người trong môn phái tạo ra, không kể đến nguyên nhân bên ngoài là sự phát triển mạnh mẽ của các môn phái khác như đạo Lão và đạo Phật.
Các cụ như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thông cũng như nhiều nhà trí thức Việt Nam khác thường chỉ trích Tống Nho là không thực dụng, từ chương v.v… nhưng hình như chưa ai đưa ra khuyết điểm cụ thể và phân tích nội dung cụ thể như Sorai. Người dịch mong rằng loạt bài Biện Đạo này giúp cho quý độc giả có thấy nội dung cụ thể của phương diện này. Biết để sửa sai những điều mà chúng ta đã học được, và đã thành thói quen với mục đích để tiến bộ và phát triển hơn là niềm mong ước của người biên dịch.
BÀI 1
Đạo khó hiểu, lại khó giải thích cho người khác hiểu bởi vì đạo rất rộng lớn mênh mông. Nội dung hiểu biết (sở kiến) đạo của các Nho gia đời sau đều chỉ là một phần của đạo mà thôi.
Sai lầm của Tử Tư
Đạo nói ở đây là đạo của các tiên vương (các thánh vương cổ đại). Thời đại trôi qua cho đến đời của Tử Tư (2) và Mạnh tử(3) phái Nho họcđược hình thành và bắt đầu cạnh tranh xung đột với các học phái khác (bách gia). Việc làm này có thể nói là tự mình làm bản thân mình và đạo của mình theo trở nên nhỏ hẹp lại.
Thí dụ Tử Tư viết ra sách Trung Dung là để đề kháng lại với Lão tử (nguyên văn Lão thị). Bởi vì Lão tử cho rằng đạo thánh nhân (tức đạo Khổng) là ngụy (偽) tạo (giả tạo không có thật, là do con người tự đặt ra, không phải có một cách tự nhiên). Do đó, trong sách Trung Dung (中庸), Tử Tư viết đạo Khổng (đạo thánh nhân) là tuân theo bản tính bẩm sinh của con người để cho thấy rõ đạo của ông tức đạo Khổng (đạo Nho) không phải là ngụy tạo (phi ngụy). Cách giải thích này đưa đến điểm cuối của đạo là thành (誠) (thành thật, không giả dối). Tuy nhiên, trung dung là tên gọi của đức hạnh (德行之名). Do đó, trong sách Trung Dung cũng viết “chọn (trạch – 擇) trung dung”(4).
Tử Tư đã mượn trung dung để làm rõ đạo Khổng và chê học thuyết của Lão tử không trung dung. Từ việc làm này của Tử Tư làm cho đời sau hiểu sai và lấy trung dung làm đạo (thật ra như Sorai đã nói, trung dung chỉ là đức hạnh chứ không phải là đạo. Lấy trung dung làm đạo làm cho đạo trở nên rất hạn hẹp, nhỏ lại. Hiểu đúng thế nào là đạo, thế nào là đức rất quan trọng! Do dó ý nghĩa của từ vựng đặc biệt tên gọi rất quan trọng, sai 1 ly đi xa 1 dặm là như vậy.)
Ở cổ đại (thời xa xưa) người ta gọi tác giả (作者) (người làm ra vật mới mà trước đó chưa có) là thánh (聖), và Khổng tử không phải là thánh. Do đó, Tử Tư mới lấy chí thành (至誠) làm đức của thánh nhân, và lại đặt ra thuyết tam trọng (三重) (3 điều trọng yếu) (5). Việc này rõ ràng cho thấy chủ ý của Tử Tư là để biện minh cho việc các học phái khác cười nhạo cho rằng Khổng tử không phải là thánh nhân, là không đúng. Tuy nhiên, thành chỉ là 1 trong nhiều thứ đức của thánh nhân để diễn tả hết tất cả nội dung đạocủa thánh nhân thì làm sao có thể đầy đủ trọn vẹn được!
Sai lầm của Mạnh tử
Đến học thuyết của Mạnh tử chủ trương bản tính con người vốn thiện lại là cùng 1 phái của Tử Tư. Việc Cáo tử lấy cây kỷ liễu làm ví dụ để diễn tả bản tính con người là 1 ví dụ hoàn toàn đúng. Mạnh tử biện luận phá bỏ chủ trương của Cáo tử là việc sai lầm.
Tôi nghĩ rằng bản ý của Tử Tư muốn nói là thánh nhân căn cứ theo bản tính của con người mà đặt ra đạo. Điều này không có nghĩa là, nếu mỗi người hành động theo bản tính của mình thì tự nhiên là phù hợp với đạo.
Tương tự như vậy, bởi vì các loại cây khác không có đặc tính bị uốn cong mà không gãy nên cây kỷ liễu có đặc tính thích hợp dùng để uốn cong làm đồ vật để chứa đựng nhưng không thể vì vậy mà cho rằng uốn cong làm đồ vật chứa đựng là hình dạng tự nhiên phải nên có của cây kỷ liễu.
Lý do mà Mạnh tử lấy lòng trắc ẩn (lòngkhông nỡ bỏ người lâm nạn mà không cứu giúp) và lòng biết xấu hổ làm trọng yếu hơn lên là do muốn chứng minh rằng nhân nghĩa tất cả đều do bản tính của con người. Tuy nhiên, thật sự mà nói nếu chỉ lấy lòng trắc ẩn thì không thể giải thích rõ ràng hết được đức nhân (仁), và cũng có trường hợp biết xấu hổ chưa hẳn là việc nghĩa. Một khi đặt ra 1 học thuyết hoặc 1 nội dung giải thích thiên lệch (sai lệch) thì một chút sai lầm nhỏ của 1 ly cuối cùng có thể đưa đến 1 cách biệt xa rộng của 1 dặm. Các học thuyết tâm học (6) của đời sau này xuất phát từ mầm mống này.
Sửa sai của Tuân tử
Tuân tử không chấp nhận thuyết tính thiện của Mạnh tử là điều đúng. Do đó, Tử Tư và Mạnh tử là người trong Khổng môn đã bảo vệ môn phái mình và chống lại việc chê xấu của các học phái khác. Tuân tử tu sửa những điểm giải thích sai lầm của Tử Tư và Mạnh tử, là người có công lao và trung thật của 2 ông (trung thần).
Tuy nhiên vào thời đại của các nhân vật này không cách quá xa với thời đại của Khổng tử (từ Khổng tử đến Tuân tử khoảng 250 năm) nên còn có dư âm của Khổng tử. Do đó, tên gọi và thật chất của sự vật không có khác biệt hoặc cách xa lớn (ý nói ý nghĩa ở đời sau này của các ngôn từ chưa khác biệt nhiều với ý nghĩa ở cổ đại).
Đến khi Hàn Dũ (768~ 824) của đời Đường (cách Khổng tử trên 1300 năm) xuất hiện thì có một sự biến đổi to lớn trong giới văn chương từ đó về sau (a). Những nhân vật như Trình Hạo, Trình Di (1033~1107) hoặc Chu tử (1130~1200) là những người sĩ xuất sắc hơn người (hào kiệt) nhưng họ không thông hiểu cổ văn từ (ngôn từ ở cổ đại), họ không thể đọc lục kinh để hiểu nội dung, họ chỉ đọc và vui vẻ với những sách dễ đọc như sách Trung Dung, sách Mạnh Tử (b). Để rồi kết quả là họ lấy những lời tranh cãi với các học phái khác (của Tử Tư và của Mạnh tử) để làm nền tảng cơ sở cho đạo thánh nhân! Ngoài ra, họ còn lấy ý nghĩa lúc đương thời của ngôn từ để đọc ngôn từ trong kinh sách cổ đại nên tên gọi và nội dung thật sự của sự vật cách rời nhau đưa đến việc không thể hiểu được chân tướng của sự vật, họ chỉ hiểu theo cách giải thích lý thuyết, lập luận riêng của họ mà không liên quan gì đến nội dung của nguyên văn. Do lý do trên (nghĩa là với phương pháp học hoặc nghiên cứu như trên) không thể nào có thể hiểu biết lại được các quy phạm mà các tiên vương và Khổng tử đã truyền đạt lại.
Khuyết điểm của Itô Jinsai
Gần đây có họ Y (tức Y Đằng Nhân Trai (Itô Jinsai)), ông cũng là nhân vật xuất sắc hơn người (hào kiệt) hiểu thấu được phần nào đâu là trọng yếu của đạo. Tuy nhiên, ông lấy nội dung của sách Mạnh tử để giái thích nội dung của sách Luận Ngữ (nghĩa là các lời truyền đạt lại của Khổng tử) và ông cũng lại dùng ý nghĩa hiện tại của ngôn từ để đọc cổ văn. Do đó, học thuyết của ông cũng không khác với học thuyết của họ Trình và họ Chu bao nhiêu. Không những vậy, ông còn phân biệt đạo tiên vương và đạo Khổng làm 2 thứ khác nhau. Ông gạt bỏ lục kinh qua 1 bên và chỉ đánh giá cao sách Luận Ngữ. Ông lại chưa thoát khỏi việc lấy ngôn ngữ Nhật để đọc ngôn ngữ Trung Hoa. Tôi đã đọc tác phẩm mà ông cho đó là cổ nghĩa (ý nói Luận Ngữ Cổ Nghĩa và Ngữ Mạnh Cổ Nghĩa của Jinsai). (Hai tác phẩm đó) làm sao có thể gọi là cổ được, thật đáng tiếc, đáng thương làm sao!
Nguyên nhân đạo Khổng càng ngày càng trở nên nhỏ hẹp
Than ôi, theo dòng thời gian trôi qua,đạo tiên vương trở thành học phái Nho gia, kế đến nào là phái Mạnh tử (chủ trương tính thiện), phái Tuân tử (chủ trương tính ác) rồi lại đến phái Chu tử (chủ trương tínhlà lý), phái Lục Tượng Sơn (chủ trương tâm là lý). Không ngừng lại ở đây, lại có thêm phái Itô Jinsai. Các Nho gia càng phân liệt ra nhiều phái thì tranh luận càng thêm nhiều lên, càng phân ra nhiều cành, nhiều lá thì nội dung của mỗi học phái càng nhỏ hẹp đi. Chẳng phải thật đáng đau buồn lắm sao?
Được ơn trời ban cho cơ hội gặp được cổ văn từ
Bản thân tôi may mắn được ơn trời linh diệu ban cho việc đọc được sách của Vương Thế Trinh (王世貞) (1526~1590, văn nhân và chính trị gia cuối đời Minh) và Lý Phàn Long (李攀竜) (1514~1570, thi nhân đời Minh) nên biết được có cổ văn từ (ngôn ngữ cổ đại) trên đời này. Từ đó tôi bắt đầu đọc lục kinh, và sau nhiều năm tôi bắt đầu có được sự nhất trí giữa sự vật thực tế và tên gọi của chúng viết bằng cổ văn từ và dần dần hiểu rõ được ý nghĩa của lục kinh (d) và có thể nói (luận bàn) về chúng.
Lục kinh là các tác phẩm viết về các sự vật cụ thể làm nguồn gốc, căn nguyên của sự việc (lục kinh kỳ vật dã – 六経其物也: nghĩa đen: lục kính là vật cụ thể, ý nói không phải lý lẽ hay lý luận mà là cử chỉ, hành động hoặc việc làm cụ thể).
Sách Lễ Ký, sách Luận Ngữ là các sách giải thích ý nghĩa của lục kinh. Giải thích ý nghĩa chắc chắn phải phụ thuộc vào sự vật (có lẽ nên dịch “giải thích ý nghĩa chắc chắn chỉ là phần phụ thuộc đi kèm theo sự vật hoặc nội dung cần phải thực hiện cụ thể mà thôi” mới nói lên hết ý của Sorai, vì ông đã đề cập đến ý này ở một nơi khác trong tác phẩm ông viết). Sau đó (có như vậy) đạo mới thành lập (ý nói đạo quy định các việc làm cụ thể chớ không phải chỉ là những giải thích hoặc lý lẽ suông. Khi nói về lễ, Sorai nói trước hết phải làm, thực tiễn rồi dần dần sau đó tự nhiên hiểu ra ý nghĩa của lễ).
Nguyên nhân khuyết điểm của các Nho gia từ đời Đường về sau
Nếu như bỏ qua sự vật cụ thể mà chỉ lấy riêng nội dung giải thích ý nghĩa thì rất hiếm khi tránh được khuyết điểm tự mình giải thích hoặc lập ra học thuyết theo ý tưởng phóng đãng riêng của bản thân. Đó là khiếm khuyết của Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên (773-819, thi văn nhân, chính trị gia đời Đường), Trình tử và Chu tử và những Nho gia sau đó (c).
Viết Biện Đạo để thực hiện thiên mệnh
Tuổi tôi đã quá 50, nếu từ bây giờ không bắt đầu cố gắng thực hiện sứ mệnh trời giao phó để rồi nếu có chết đi thì làm sao có thể thực hiện được. Do đó, khi có thời giờ rảnh tôi viết ra thành quả nghiên cứu và nhận xét (luận – 論) của bản thân để đền đáp lại ơn huệ linh diệu của trời (đã cho tôi cơ hội biết có cổ văn từ trên đời). Trước hết tôi ghi lại nội dung trọng yếu thành vài chục bài để cho những người sĩ vào học xem.
Tóm tắt ý quan trọng
- Lấy trung dung để minh chứng đạo Khổng không ngụy tạo của Tử Tư với mục đích phản biện lại chủ trương của Lão tử, đã làm nhỏ hẹp đạo Khổng lại và gây ra hiểu sai đạo cho người học đời sau bởi gì trung dung chỉ là một thứ đức hạnh của thánh nhân không thể nào diễn tả hết nội dung hoặc công dụng an dân của đạo Khổng, tức đạo của các tiên vương.
- Mạnh tử đưa ra thuyết bản tính con người vốn tốt là không đúng và đã gây cho người sau hiểu sai nội dung giải thích đạo thánh nhân tuân theo bản tính con người của Tử Tư.
- Thuyết bản tính con người vốn xấu của Tuân tử là tu sửa sai lầm của Tử Tư và Mạnh tử.
- Kiến giải của Itô Jinsai về đạo Khổng có chỗ đúng hơn Chu tử nhưng không khác bao nhiêu. Giống như Tống Nho, Jinsai có khuyết điểm là không biết cổ văn từ (ngôn ngữ cổ đại) nên xem thường gạt bỏ lục kinh (kinh Thư, Thi, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu) mà xem trọng sách Luận Ngữ và sách Mạnh Tử. Trong khi chính lục kinh mới chứa đựng nội dung các việc cụ thể cần thực hiện của đạo tiên vương,và sách Luận Ngữ và Mạnh Tử chỉ là sách giải thích ý nghĩa của đạo tiên vương.
- Từ thời Tử Tư, Mạnh tử đạo Khổng trở thành học thuyết của Nho giáo và phân chia làm nhiều chi phái có chủ trương khác nhau như phái tính thiện của Mạnh tử, tính ác của Tuân tử, phái lấy tính làm lý củaNhị Trình và Chu Hy, phái lấy tâm làm lý của Lục Tượng Sơn và Vương Dương Minh, phái cổ nghĩa chỉ xem trọng Luận Ngữ và Mạnh Tử của Itô Jinsai… làm cho đạo Khổng tức đạo tiên vương trở nên nhỏ hẹp và cách xa dần với mục đích an dân ban đầu của các thánh vương.
- Các Nho gia đời từ đời Đường không chịu nghiên cứu học cổ văn từ nghĩa là ý nghĩa của ngôn từ cổ đại nên không hiểu được nội dung của lục kinh đưa đến việc khinh thường chúng và gạt bỏ chỉ biết đọc sách dùng để tranh cãi với các học phái khác là sách Trung Dung và Mạnh Tử. Bởi vì cách sách này không đi kèm với nội dung việc làm cụ thể mà các tiên vương đã lập ra nên càng ngày càng chỉ chú trọng vào lý lẽ trừu tượng nên làm mất tính thực dụng và hiệu quả trong thực tế của đạo, và phạm vi của đạo càng ngày càng nhỏ hẹp hơn.
- Sorai may mắn gặp các tác phẩm của Vương Thế Trinh và Lý Phàn Long nên biết được ý nghĩa của ngôn từ cổ đại khác nhiều với ý nghĩa của ngôn từ đời sau mặc dù cùng là chữ Hán nên đã bỏ công hơn 10 năm nghiên cứu mới đọc hiểu được lục kinh theo nghĩa của ngôn từ cổ đại. Và ông đã bỏ công viết Biện Đạo, Biện Danh, Luận Ngữ Trưng để truyền lại cho môn đệ và người học đạo thánh nhân của đời sau.
Nguyễn Sơn Hùng – Dịch xong ngày 3/5/2026
Đăng lại từ Diễn Đàn Khai Phóng (DienDanKhaiPhong.org)
Nhận xét
(a) Đúng như Sorai nói trong việc học hoặc nghiên cứu văn học, tư tưởng, triết học của các thời đại cổ xưa cần phải suy xét những sự vật, sự kiện cụ thể trong lịch sử để tránh những suy luận hoặc diễn dịch sai lầm. Ý nghĩa của các tên gọi hoặc ngôn từ trong khoảng thời gian trên 1000 năm chắc chắn có 1 sự thay đổi lớn.
(b) Đánh giá của Sorai có phần quá đáng chăng? Trong Luận Ngữ Trưng có những trường hợp Sorai công nhận cách giải thích của Chu tử là đúng hoặc hợp lý.
(c) Trong bài 25, bài cuối cùng của Biện Đạo, Sorai cho rằng bởi vì nội dung của lục kinh đã bị thất thoát không còn nguyên vẹn nên việc dùng lý (lý lẽ) để suy luận là cần thiết nhưng đáng tiếc là lý luận của Tống Nho chưa được tinh mật mà họ lại quá câu nệ vào lý nên gây ra sai lầm đáng tiếc.
(d) Thực ra Sorai dùng từ lục kinh ở đây không chính xác bởi vì kinh Nhạc đã mất, nội dung còn lại không biết chính xác được đến đâu. Trong bài 25 Biện Đạo, Sorai cũng có nói điều này và cho rằng đó là thiên mệnh.
Ghi chú:
(1) Chương 1 thiên 7 Thuật Nhi sách Luận Ngữ:
子曰:述而不作,信而好古,竊比於我老彭。
Tử viết:“Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ; thiết tỷ ư ngã Lão Bành.”
Dịch (Nguyễn Hiến Lê)
Khổng tử nói: “Ta truyền thuật (đạo của cổ nhân) mà không sáng tác, tin và thích (kinh điển của) cổ (nhân); ta trộm ví với ông Lão Bành của ta.”
(2) Tử Tư (TCN 492~TCN 431) là cháu nội của Khổng tử theo học Tăng tử , học trò của Khổng tử.
(3) Mạnh tử (TCN 372 ~ TCN 290) theo học học trò của Tử Tư, được người đời xem là á thánh của đạo Khổng.
(4) Trong Trung Dung của Lễ Ký viết:
Từ khóa Nho gia Nguyễn Sơn Hùng

































