Những vị khai quốc công thần nhà Lê là các tướng lĩnh của khởi nghĩa Lam Sơn, đi theo từ hội thề Lũng Nhai đến những ngày nếm mật nằm gai, vào sinh ra tử, đánh đuổi quân Minh. Tuy nhiên sau đó nhiều công thần có kết cục không tốt, kể cả các quan đầu Triều như Trần Nguyễn Hãn, Phạm Văn Xảo, Lưu Nhân Chú, Lê Sát, Lê Ngân, Nguyễn Trãi, Trịnh Khả… Lê Văn Linh là vị khai quốc công thần hiếm hoi của nhà Lê được giữ quyền cao cho đến lúc mất. Dù có những lúc gặp sóng gió nhưng ông đều may mắn vượt qua.

Trịnh Khả: Danh tướng bậc nhất trong nghĩa quân Lam Sơn
(Tranh minh họa: Họa sĩ Sỹ Hòa, báo Bình Phước Online)

Thầy giáo làng

Lê Văn Linh vốn có tên là Trần Văn Linh, xuất thân từ họ Trần ở làng Bảo Đà, huyện Lôi Dương (nay là làng Hải Mậu, xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa).

Khoa thi năm 1338, họ Trần làng Bảo Đà có Trần Hiêu thi đỗ tiến sĩ, con trai ông là Trần Phong cũng thi đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1358. Trần Phong có người con trai là Trần Văn Linh chăm học từ nhỏ, sớm tinh thông chữ nghĩa, lại có tài làm thơ, biết cả lý số.

Tương truyền thời ấy ở làng Hải Lịch (nay là Thọ Hải) thường hay có cọp hoành hành. Trần Văn Linh liền bảo dân làm lễ tế rồi ông đến đọc bài văn đuổi hổ (trách hổ), từ đó dân chúng không còn thấy hổ quấy phá nữa. Vì thế mà Trần Văn Linh được ví với Hàn Dũ đời nhà Đường hay Nguyễn Thuyên thời nhà Trần làm thơ đuổi cá sấu. Truyện này được được ghi chép lại trong cuốn “Địa chí huyện Thọ Xuân”.

Trần Văn Linh lớn lên khi nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần. Ông cũng như nhiều Nho sĩ có tài khác không muốn đi thi làm quan cho nhà Hồ, nên ở nhà làm thầy giáo làng dạy chữ cho trẻ.

Mưu sĩ bên cạnh Lê Lợi

Đến khi quân Minh đánh bại nhà Hồ và áp đặt chế độ bóc lột khiến dân chúng đói khổ lầm than, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra. Ở Lam Sơn, hào trưởng Lê Lợi muốn khởi binh đánh đuổi quân Minh. Ông nghe tiếng Trần Văn Linh nên đã cho người đến mời tham gia. Trần Văn Linh đồng ý đến Lam Sơn.

Năm 1416, Lê Lợi cùng những người đi theo, trong đó có Trần Văn Linh, đến Lũng Nhai lập hội thề đồng tâm đánh giặc, sống chết có nhau. “Đại Việt thông sử” chép: “Mùa đông, năm Bính Thân (1416) vua Thái Tổ cùng 18 vị tướng thân cận của nhà vua, liên danh hội thề nguyện sống chết có nhau”.

Trần Văn linh có tài văn, trù bị kế sách, lại hiểu lý số nên trở thành mưu sĩ thân cận Lê Lợi, nhiều kế sách trong buổi đầu khởi nghĩa đều do ông hiến kế. Ông cũng là người soạn thảo văn bản quan trọng như chiếu thư chiêu dụ Ai Lao, chiêu hàng tướng giặc, nghị hòa với quân Minh…

Trong suốt 10 năm nghĩa quân Lam Sơn chống quân Minh, Trần Văn Linh đều có mặt hầu hết các mặt trận và chiến dịch. Ông tính toán lương thảo, lập kế hoạch, chiến thắng nào của nghĩa quân cũng có công lao của ông.

Sau 10 năm cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đi đến thắng lợi cuối cùng, quân Minh ra hàng. Nghĩa quân tha chết cho toàn bộ 10 vạn quân về nước.

Vượt qua sóng gió, trở thành quan to đầu triều

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Vua, Trần Văn Linh là một trong những khai quốc công thần.

Tháng 5/1429, Lê Lợi mở hội phong thưởng cho những người có công lao đánh đuổi quân Minh. Theo “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú thì những người được phong thưởng chia làm 9 bậc. Trần Văn Linh được phong tước “Hương Thượng hầu”, là tước cao thứ 3 trong 9 bậc được ban thưởng.

Trần Văn Linh cũng được phong làm Nhập nội Thiếu phó, sau đó làm Nhập nội Hữu bật. Ông cũng được ban quốc tính họ Lê, từ đó mang tên Lê Văn Linh.

Khi vua Lê Thái Tổ về già, Vua bắt đầu lo lắng Thái tử kế vị còn nhỏ mà quyền thần công lớn. Lợi dụng điều đó, gian thần trong Triều có những xàm tấu khiến Triều đình lục đục, nhiều công thần bị hại chết oan ức. Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Lưu Nhân Chú đều bị hại chết.

Khi vua Lế Thái Tổ mất, Lê Sát giữ chức Đại Tư đồ đứng đầu Triều đình. Vì vua Thái Tông còn nhỏ còn, Lê Sát chuyên quyền hãm hại trung lương.

Năm 1437, vua Lê Thái Tông đã lớn, cho gọi những trung thần vốn bị Lê Sát đày đi nơi xa trở về, sau đó cho bắt Lê Sát cùng đồng đảng. Bấy giờ người có công lớn giúp Vua lật đổ quyền thần là Lê Ngân và Bùi Cầm Hổ lại xin Vua tha cho Lê Sát. Lê Văn Linh cũng tâu lên xin Vua xử Lê Sát nhẹ tay. Vua Thái Tông nổi giận trước việc này, giáng chức Lê Văn Linh từ Hữu bật xuống Bộc xạ. Nhưng sau đó nghĩ đến công lao của ông thì cho làm Tri từ tụng sự.

Trải nhiều đời vua

Lê Văn Linh làm Tri từ tụng sự xử lý các vụ án rất công minh, Vua dần thăng chức cho ông làm Thái phó – một trong ba người đứng đầu Triều đình.

Lê Văn Linh có dũng khí can gián Vua, lại xử án rất công mình nên được lòng các quan lại trong Triều. Dần dần ông được Vua tin tưởng và giao cho trọng trách tuyển chọn nhân tài cho Triều đình. Vai trò và tiếng nói của Lê Văn Linh trong Triều đình rất lớn, vì thế khi về già ông vẫn rất được trọng dụng.

Đến đời vua Lê Nhân Tông thì Lê Văn Linh là một trong số những vị khai quốc công thần hiếm hoi còn sót lại từ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Ông vẫn giữ được tước Thái phó.

Năm 1448, dù đã 72 tuổi nhưng ông vẫn được phong làm Nhập nội Thái phó, tham sự triều chính, kiêm Tri hải tứ đạo. Cũng trong năm này Lê Văn Linh mất vì tuổi già.

Ông được triều đình truy tặng là Khai phủ nghi đồng tam ty, ban tên thụy Trung Hiếu.

Đến năm 1489, ông lại được vua Lê Thánh Tông gia phong Thượng đẳng phúc thần, Bảo chính Đại vương.

Đến thời vua Gia Long nhà Nguyễn, ông được liệt vào hàng công thần khai quốc nhà Lê bậc nhất, con cháu được miễn lao dịch để thờ tự.

Lê Văn Linh có 2 người con trai. Lê Hoằng Dục làm quan được phong hàm Thái bảo, tước Quận công. Lê Cảnh Huy làm quan tới chức Thượng thư, hàm Thái Phó, tước Quận công.

Trần Hưng

Xem thêm:

Mời xem video: