ĐCSTQ nói bảo vệ an ninh năng lượng Đài Loan, chuyên gia: chiêu bài thúc đẩy thống nhất
Phát ngôn viên của Văn phòng Vấn đề Đài Loan thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc, ông Trần Bân Hoa, ngày 18/3 tuyên bố rằng nếu Đài Loan chấp nhận sự cai trị của Bắc Kinh, Trung Quốc sẽ bảo vệ nguồn năng lượng của Đài Loan bằng “tổ quốc hùng mạnh”. Các chuyên gia chỉ ra rằng Trung Quốc có sự phụ thuộc vào năng lượng và dễ bị tổn thương, không có khả năng cung cấp sự bảo đảm ổn định cho Đài Loan; phát biểu này nhằm chuyển hướng sự lo ngại của người dân về đời sống dân sinh, đồng thời gia tăng luận điệu “chống thống nhất” đối với Đài Loan trong bối cảnh tình hình căng thẳng ở Trung Đông đang gia tăng.
Trung Quốc dùng “chiến lược năng lượng” để bao bọc thống nhất chính trị
Gần đây, chiến tranh tại Trung Đông leo thang, và thế giới lo ngại rằng Đài Loan có thể đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn cung năng lượng. Phát ngôn viên của Văn phòng Vấn đề Đài Loan thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc, ông Trần Bân Hoa, trong cuộc họp báo thường kỳ vào ngày 18/3 tuyên bố, nếu hai bờ eo biển đạt được sự thống nhất hòa bình, dưới sự hỗ trợ của “tổ quốc hùng mạnh”, nguồn cung cấp năng lượng và tài nguyên cho Đài Loan sẽ trở nên ổn định hơn.
Ông Trần Bân Hoa tuyên bố, hệ thống năng lượng của Trung Quốc có sức bền tương đối mạnh mẽ. Nếu hai bên thực hiện kết nối lưới điện, nguồn điện đầy đủ không chỉ có thể đáp ứng nhu cầu điện của các doanh nghiệp Đài Loan mà còn có thể giảm bớt lo ngại của người dân về tình trạng cắt điện trong mùa cao điểm vào mùa hè.
Về vấn đề này, chuyên gia chiến lược quốc gia Đài Loan, Phó Hiệu trưởng Đại học Khai Nam, ông Trần Văn Giáp chỉ ra rằng từ cả góc độ thực tế và hệ thống, việc “thống nhất để bảo đảm an ninh năng lượng cho Đài Loan” không có tính tất yếu, thậm chí có thể mang lại những rủi ro mới.
Ông cho biết, Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với sự phụ thuộc vào năng lượng và nguy cơ từ địa chính trị. Khi nguồn cung bị căng thẳng, logic chính sách của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thường là ưu tiên bảo đảm nhu cầu cốt lõi trong nước, chứ không phải cung cấp năng lượng cho các quốc gia khác một cách vô điều kiện. Nếu Đài Loan bị đưa vào một hệ thống đơn nhất, cấu trúc nhập khẩu đa dạng hiện tại có thể biến thành “phụ thuộc vào hệ thống đơn nhất”, làm giảm khả năng phân tán rủi ro.
Ông Trần Văn Giáp thẳng thắn cho rằng, việc gắn an ninh năng lượng với thống nhất chính trị là “một câu chuyện chiến lược và công cụ chính sách”, và “vấn đề năng lượng nên được giải quyết bằng quản lý chuyên môn và hợp tác quốc tế, chứ không phải trở thành điều kiện đổi lấy việc nhượng bộ chủ quyền.”
Chuyên gia về vấn đề Trung Quốc, ông Lý Lâm, trong cuộc phỏng vấn với Epoch Times cho biết, khi tình hình Trung Đông leo thang, Bắc Kinh đưa ra tuyên bố “thống nhất có thể bảo đảm an ninh năng lượng cho Đài Loan” vừa không thể che giấu được khủng hoảng năng lượng liên quan đến Trung Đông của Trung Quốc, vừa không thể giúp Đài Loan giải quyết những thách thức về cấu trúc năng lượng mà thực tế đang phải đối mặt.
Đài Loan phụ thuộc nặng vào năng lượng nhập khẩu
Đài Loan phụ thuộc rất lớn vào năng lượng nhập khẩu, với tỷ lệ này lâu nay luôn duy trì trên 97%, nhưng trong những năm gần đây đã bắt đầu phân tán nguồn cung. Theo số liệu chính thức trong hai năm qua, tỷ lệ dầu thô nhập khẩu từ Trung Đông của Đài Loan đã giảm xuống khoảng 40%, và từ năm 2023, Mỹ chính thức vượt qua Ả Rập Xê Út, trở thành quốc gia cung cấp dầu thô lớn nhất cho Đài Loan, chiếm hơn 35%.
Theo dữ liệu tháng 1 và tháng 2/2025, Tập đoàn Dầu khí Đài Loan (CPC) cũng đã tăng tỷ lệ mua dầu Mỹ, có những thời điểm vượt quá 35%, nhằm giảm thiểu rủi ro từ Eo biển Hormuz và tăng tính linh hoạt trong việc điều phối.
Về khí tự nhiên, Đài Loan hiện có mức độ phụ thuộc vào tuyến vận chuyển qua Eo biển Hormuz khoảng 30%. Trong những năm gần đây, Australia đã trở thành nhà cung cấp khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) lớn nhất cho Đài Loan, chiếm khoảng 38%, trong khi Mỹ đã tăng trưởng lên hơn 10% và Đài Loan tiếp tục gia tăng tỷ lệ khí từ hai quốc gia này.
Theo dữ liệu chính thức từ Bộ Kinh tế Đài Loan vào đầu tháng 3/2026, dự trữ dầu thực tế của Đài Loan đã tăng lên từ 120 đến 140 ngày, vượt qua mức yêu cầu pháp lý 90 ngày, cho thấy chính phủ đã tăng cường dự trữ trước tình hình Trung Đông leo thang. Yêu cầu dự trữ khí đốt tự nhiên theo pháp lý thấp hơn, cần duy trì trên 25 ngày.
Ông Trần Văn Giáp cho biết, an ninh năng lượng của Đài Loan “không phải là khủng hoảng ngay lập tức”, về bản chất, đây là vấn đề “có thể kiểm soát nhưng cần tăng cường sức bền”. Ông Trần Thế Minh cũng nói rằng dự trữ dầu chiến lược của Đài Loan “ít nhất có thể duy trì ba đến bốn tháng mà không có vấn đề gì”, nếu chiến tranh không kéo dài, tác động vẫn có thể kiểm soát được.
Ông Lý Lâm tổng kết rằng, giải pháp cho Đài Loan là đa dạng nguồn cung, tự chủ hệ thống, hợp tác quốc tế và sức bền trong dự trữ, thay vì đặt niềm tin vào cam kết chính trị của Trung Quốc về an ninh năng lượng.
“Bắc Kinh sử dụng vấn đề năng lượng để gây áp lực với Đài Loan, nhưng thực chất đó vẫn là một phương thức tuyên truyền thống nhất, chứ không phải là một giải pháp an ninh đáng tin cậy,” ông Lý Lâm nói.
Trung Quốc phụ thuộc vào dầu thô từ Trung Đông
Thực tế, Trung Quốc hiện đang phụ thuộc vào dầu thô từ Trung Đông, với tỷ lệ thực tế đã tăng lên 55%. Theo dữ liệu, Trung Đông chiếm khoảng một nửa tổng lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc. Theo dữ liệu từ Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GAC) năm 2025, dầu thô từ Trung Đông chiếm khoảng 42% tổng lượng nhập khẩu. Nếu tính cả dầu thô từ Iran nhập khẩu qua “kênh xám”, dữ liệu từ Cơ quan Năng lượng Kpler thống kê rằng con số này chiếm khoảng 13%.
Một nghiên cứu gần đây từ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) dẫn dữ liệu vệ tinh cho thấy lưu lượng qua Eo biển Hormuz đã giảm xuống chỉ còn 8% mức bình thường, trong khi Trung Quốc phụ thuộc vào vận chuyển khoảng 40% dầu thô và 30% khí đốt từ khu vực này.
Dù có các lợi thế ngoại giao, CSIS và tờ Lloyd’s List của Anh đều chỉ ra rằng tàu Trung Quốc không có bảo đảm an toàn thực tế tại khu vực này, và các mìn dưới nước trong eo biển không phân biệt quốc tịch, đe dọa tất cả tàu thuyền.
Ngoài ra, kể từ ngày 5/3, hầu hết các công ty bảo hiểm quốc tế đã hủy bỏ “bảo hiểm chiến tranh” đối với eo biển này, điều này khiến cho dù Iran cam kết không tấn công, các chủ tàu lớn của Trung Quốc vẫn phải ngừng hoạt động do rủi ro tài chính lớn từ việc không có bảo hiểm.
Tổ chức Hội đồng Đại Tây Dương (Atlantic Council) vào ngày 11/3 đã công bố báo cáo chỉ ra rằng, mặc dù Trung Quốc có khoảng 120 ngày dự trữ dầu chiến lược, nhưng sự phụ thuộc vào năng lượng Trung Đông vẫn là điểm yếu chết người đối với nền công nghiệp của Trung Quốc.
Ông Trần Văn Giáp cho biết, mặc dù Trung Quốc có dự trữ dầu chiến lược lớn và các nguồn cung đa dạng từ Nga, Trung Á và vận chuyển biển, nhưng nếu chiến tranh khu vực leo thang, nguồn cung và ổn định giá cả vẫn sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp, “khó hoàn toàn thoát khỏi nguy cơ địa chính trị”.
Chiến tranh kéo dài, áp lực kinh tế Trung Quốc sẽ tăng
Ngoài ra, một nghiên cứu từ nhóm nghiên cứu Bruegel tại Brussels công bố ngày 17 tháng 3 cho biết, Iran vốn chiếm 13% lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc, khoảng 1,4 triệu thùng mỗi ngày. Sau khi chiến tranh nổ ra, xuất khẩu của Iran sụp đổ, Trung Quốc đang đối mặt với thiếu hụt nguồn cung từ 1 đến 1,4 triệu thùng mỗi ngày.
Bài báo cũng chỉ ra rằng Trung Quốc vẫn cần khoảng 5,4 triệu thùng dầu nhập khẩu mỗi ngày qua Eo biển Hormuz, dù Nga có tăng cường nguồn cung, nhưng vẫn không đủ để lấp đầy thiếu hụt từ Trung Đông.
Báo cáo cũng nhấn mạnh rằng giá dầu đã tăng vọt lên khoảng 100 USD mỗi thùng, và giá dầu tăng thêm 25% có thể khiến GDP của Trung Quốc giảm khoảng 0,5%. Giá dầu Brent vào tháng Hai năm nay dao động khoảng 60 – 70 USD mỗi thùng, tháng Ba đã có lúc vượt quá 119 USD, hiện tại quay lại mức 108 – 110 USD, với mức tăng hơn 50%.
Một phần nguyên nhân là Trung Quốc sử dụng hệ thống thanh toán CIPS (Hệ thống thanh toán xuyên biên giới của nhân dân tệ) và các “nhà máy lọc dầu nhỏ” để mua dầu từ Iran, né tránh các lệnh trừng phạt phương Tây, nhưng hiện nay những kênh này đang bị đình trệ do chiến tranh.
Giáo sư ngành Chính trị tại Đại học Quốc gia Đài Loan, ông Trần Thế Minh ước tính Trung Quốc có dự trữ dầu chiến lược khoảng 4-5 tháng, nhưng nếu chiến tranh kéo dài, “cũng khó tránh khỏi bị ảnh hưởng.”
Ông cho biết với Epoch Times rằng, thặng dư thương mại của Trung Quốc vào năm 2025 vẫn tăng lên gần 1,2 nghìn tỷ USD, một lý do quan trọng là các ngành công nghiệp lâu nay sử dụng dầu giá rẻ từ các quốc gia bị trừng phạt như Venezuela, Iran và Nga. “Chỉ vì Trung Quốc có thể mua được dầu giá rẻ, khoảng 25%-30% giá dầu trên thị trường, mới có thể xuất khẩu giá rẻ ra toàn cầu.”
Nếu các nguồn cung cấp dầu giá rẻ này bị gián đoạn, các nhà sản xuất Trung Quốc có thể phải chi thêm hàng tỷ USD mỗi năm cho chi phí dầu, điều này chắc chắn sẽ gây áp lực lên tăng trưởng kinh tế.
Từ khóa xung đột Mỹ Iran an ninh năng lượng Đài Loan


































